| |

MỘT TRƯỜNG HỢP
BỆNH CHARCOT-MARIE-TOOTH TYPE 1
BS
Lê Minh, Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh
TÓM TẮT:
Chúng tôi tŕnh bày một trường hợp nam bệnh
nhân 43 tuổi có biểu lộ lâm sàng và điện cơ
của một bệnh thần kinh ngoại biên di truyền
kiểu Charcot-Marie-Tooth 1. Nhân trường hợp này, các
khía cạnh lâm sàng, điện cơ, phân loại
bệnh và di truyền học đă được bàn
luận.
SUMMARY: This case report describes the clinical and
electromyographic findings of a 43 year old male patient affected with
Charcot-Marie-Tooth type 1 disease. The genetic aspects of this heterogeneous
disorder is also discussed.
Bệnh
Charcot-Marie-Tooth (CMT) đă được Charcot và Marie
ở Pháp và Tooth ở Anh mô tả cùng lúc với nhau trong
năm 1886, về sau này lại được Dyck đặt
tên là Hereditary Motor-Sensory Neuropathy (HMSN).4 Dyck và Lambert c̣n phân
loại bệnh HMSN thành hai nhó: nhóm HMSN 1 mất myelin, có
tốc độ dẫn truyền giảm nhiều và có
bất thường giải phẫu bệnh đặc thù
h́nh củ hành; nhóm HMSN 2 có tổn thương nguyên phát
tại sợi trục và có tốc độ dẫn
truyền b́nh thường hoặc giảm rất ít. 4,5
Bệnh CMT là một
bệnh di truyền thường được gặp
với tỷ lệ bệnh toàn bộ bằng khoảng
1/2500 đến 1/5000.1,4 Đến nay bệnh CMT đă
được biết đến như là một nhóm
những bệnh không đồng nhất về mặt di
truyền có liên quan đến sự bất thường
của nhiều loại protein của hệ thần kinh
ngoại biên: peripheral myelin protein 22 (PMP22),
myelin protein zero (MP0 ), connexin 32 (Cx32), early growth
response factor 2, periaxin, myotubularin related protein 2, N-myc
downstream regulated gene 1 product, neurofilament light chain, và kinesin
1B.3 Tại Việt Nam, bệnh CMT ít được đề
cập đến trong các chẩn đoán, có lẽ do
bởi các bệnh thần kinh di truyền chưa được
chú ư đúng mức. Báo cáo này giới thiệu một trường
hợp bệnh nhân có đầy đủ các đặc
điểm lâm sàng và điện cơ của một
bệnh CMT type 1 (CMT 1).
BỆNH
ÁN
Nam
bệnh nhân NDT, 43
tuổi, đến khám chuyên khoa thần kinh học v́
bị yếu liệt tứ chi. Khai thác bệnh sử cho
thấy kể từ lúc 30 tuổi bệnh nhân ghi nhận
thấy hai cẳng chân của ḿnh bị teo nhỏ
dần, đến năm 34 tuổi th́ hai chân yếu rơ
khiến bệnh nhân đi quét bàn chân trái và đồng
thời xuất hiện thêm hiện tượng teo các cơ
của hai bàn tay. Đến năm 38 tuổi, bên cạnh
triệu chứng yếu hai chi dưới ngày càng bộc
lộ rơ, c̣n xuất hiện thêm hiện tượng run
ở hai bàn tay và đến năm 40 tuổi th́ xuất
hiện thêm yếu hai chi trên.
Về tiền
sử cá nhân, bệnh nhân không có bệnh đặc
biệt nhưng chỉ ghi nhận có cung ḷng bàn chân cong
cao từ lúc c̣n là thiếu niên, và cho đến năm 18
tuổi vẫn c̣n có thể chạy chơi b́nh thường
trong tṛ chơi đá banh. Về tiền sử gia đ́nh,
bệnh nhân là con thứ tư trong một gia đ́nh có 5
anh chị em mà bốn người c̣n lại đều
vẫn b́nh thường và không có các biểu lộ lâm sàng
giống bệnh nhân. Mẹ của bệnh nhân đến
nay đă 80 tuổi và cũng không có triệu chứng
về thần kinh. cha của bệnh nhân đă mất v́
bệnh thương hàn cách nay đă 35 năm.
Thăm khám
thần kinh học ghi nhận một nam bệnh nhân có
tổng trạng trung b́nh và có các biểu lộ bất thường
sau đây: teo cơ tứ chi, cả ngọn lẫn
gốc, và giảm cơ lực nhiều ở các ngọn
chi; giảm kín đáo cảm giác rung ở ngọn chi dưới;
mất phản xạ gân cơ tứ chi. Các triệu
chứng dây sọ và triệu chứng thực vật
đă không được ghi nhận ở bệnh nhân. Thăm
ḍ điện cơ đă được thực hiện
và ghi nhận sự hiện diện của các bất thường
điện sinh lư của một bệnh thần kinh
ngoại biên mất myelin đồng nhất có kèm
hiện tượng mất phân bố thần kinh thứ
phát (bảng 1). Các xét nghiệm như công thức máu,
tốc độ lắng máu, đường huyết,
creatinin huyết, SGOT, SGPT, CPK, tổng phân tích nước
tiểu và điện tâm đồ đă được
thực hiện và đều cho kết quả b́nh thường.
Sinh thiết và khảo sát giải phẫu bệnh học
đă không được thực hiện v́ không đủ
phương tiện và cũng v́ không cần thiết
chỉ định trong trường hợp này.
Chẩn đoán
được đặt ra cho trường hợp này là
bệnh CMT 1 nên bệnh nhân đă được hướng
dẫn chủ yếu về các cách pḥng ngừa tai
nạn trong sinh hoạt thường ngày do t́nh trạng
yếu hai chân gây ra, và được trang bị các
giầy đặc biệt giúp cho sự đi đứng
được vững chắc và dễ dàng hơn. Kể
từ lúc khám lần đầu đến nay, bệnh nhân
được theo dơi định kỳ trong gần hai năm
nhưng chúng tôi chưa ghi nhận được biểu
lộ trở nặng hơn trên lâm sàng.
Bảng
1. Kết quả khảo sát điện cơ của
bệnh nhân
|
Dẫn
truyền vận động
|
Tiềm
thời vận động ngoại vi (ms)
|
Tốc
độ
(m
/ s)
|
Sóng
F
|
Đặc điểm khác
|
|
Dây giữa
Dây trụ
Dây chày sau
|
11.8
7.83
không
đo được
|
Không
đo được
17.9
không
đo được
|
Không
đo được
|
Biên độ
CMAP rất thấp
|
|
Dẫn
truyền cảm giác
|
Tiềm
thời
|
Tốc độ (m
/ s)
|
Biên độ của CNAP hay
SNAP
|
|
Dây giữa
Dây quay nông
Dây mác nông
|
|
Không
đo được
|
Không
đo được
Không
đo được
Không
đo được
|
|
Điện cơ
kim
|
Điện
thế tự phát
|
Kết
tập MUP
|
Biên
độ MUP
|
|
Cơ chày trước
Cơ tứ đầu
đùi
|
3+
không
có
|
Đa
pha, phóng lực nhanh
Đa
pha
|
lớn,
rộng
lớn,
rộng
|
 |
 |
 |
 |
| H́nh
Bệnh Charcot-Marie-Tooth type 1. A và B: teo co tứ chi,
ngọn nhiều hơn gốc. C: các cơ bàn tay
bị teo nhiều. D: Biến dạng xương
khớp bàn chân và ngón chân (ngón chân h́nh búa, bàn chân
ngựa với cung ḷng bàn chân cong cao, teo cơ bàn chân)
|
BÀN LUẬN
Trường
hợp nam bệnh nhân này đă cho thấy bệnh
cảnh lâm sàng của
một bệnh đa dây thần kinh vận động-cảm
giác mạn tính (teo cơ ngọn chi đối xứng,
mất phản xạ gân cơ, biến dạng của
xương bàn chân và ngón chân) mà các khảo sát dẫn
truyền thần kinh và điện cơ kim đă xác
nhận thêm bản chất tổn thương là một
bệnh thần kinh ngoại biên mất myelin đồng
nhất (tăng tiềm thời vận động
ngoại vi, tốc độ dẫn truyền vận
động giảm đáng kể hoặc không đo
được, dẫn truyền cảm giác không đáp
ứng) , không có blốc bán phần, có mất phân
bố thần kinh do tổn thương sợi trục
thứ phát (điện thế tự phát 3+, biên độ
CMAP rất thấp khi c̣n đo được), và tính
chất mạn tính của tổn thương thần kinh
ngoại biên (điện thế của đơn vị
vận động mang tính đa pha và có biên độ
lớn). Các đặc điểm lâm sàng lâm sàng-điện
cơ này cùng với sự không t́m thấy được
một nguyên nhân mắc phải ở trường hợp
này đă là những yếu tố tán trợ cho chẩn
đoán bệnh CMT 1, phù hợp với các tiêu chuẩn
chẩn đoán đă được thống nhất.1,2,4
Bệnh CMT 1 hay HMSN I là một bệnh di truyền trội
theo autosome, có tốc độ dẫn truyền vận
động cảm giác giảm thấp rất đáng
kể.1,2,3 Trường hợp bệnh nhân ở đây không
cho thấy sự hiện diện của yếu tố gia
đ́nh do đó có thể thuộc vào nhóm 10% các trường
hợp có đột biến mới kiểu hai bản sao
(de novo mutation) của gene PMP22.1
Phương
pháp genetic linkage đă giúp người ta xác định
được vị trí (locus) của các gene bệnh trên
nhiễm sắc thể có liên quan mà trong trường
hợp của nhóm CMT 1 th́ gồm các bất thường
sau đây: bất thường của nhiễm sắc
thể 17p11.2-12 mă hoá peripheral myelin protein 22 (PMP22), bất thường
nhiễm sắc thể 1q22 mă hoá protein P0 của myelin (MP0),
và bất thường của nhiễm sắc thể
10q21.1-22.1 mă hoá early growth response 2 (EGR2). Căn cứ theo tính
chất của các bất thường của gene tại các
locus vừa nêu mà người ta đă phân loại nhóm
bệnh CMT 1 thành những tiểu nhóm sau đây: CMT 1A (đột
biến điểm-point mutation hoặc đột biến
bản sao-duplication của PMP22); CMT 1B (đột biến
điểm-point mutation của MP0); CMT 1D (đột biến
điểm-point mutation của EGR2); CMT 1C (chưa t́m
thấy được locus của gene bất thường).
Do thiếu thốn về kỹ thuật genetic linkage nên trường
hợp bệnh nhân ở đây chưa được phân
loại rơ là thuộc về thể bệnh nào trong
bốn thể bệnh CMT 1 nêu ở trên.1,5
Các chẩn
đoán phân biệt ở đây gồm có các thể
bệnh thần kinh ngoại biên di truyền mất myelin khác
như bệnh Dejerine-Sottas (ở trẻ em, do đột
biến điểm của PMP22, MP0, EGR2), bệnh thần
kinh ngoại biên với dễ bị liệt do chèn ép-HNPP
(liệt không đối xứng, có bloc, có thoái lui, do
đột biến đứt đoạn-deletion hoặc
đột biến điểm-point mutation
của PMP22). Chẩn đoán điện cơ cũng
đă giúp loại trừ thể bênh CMT 2.1,5
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
Benstead T.J., Grant I.A. (2001).
Charcot-Marie-Tooth disease and related inherited peripheral neuropathies.
Neurological Journal of South Easth Asia, 6: 79-98.
2.
Birouk N., Gouider R., LeGuern E. et al. (1997).
Charcot-Marie-Tooth disease type 1A with 17p11.2 duplication. Clinical and
electropysiological phenotype study in 119 cases, Brain, 120 (Pt 5): 813-823.
3.
Boerkoel C.F. and al (2002).
Charcot-Marie-Tooth disease and related neuropathies: Mutation distribution and
genotype-phenotype correlation. Annals of Neurology, 51: 190-201.
4.
Dyck P.J., Chance P., Lebo R.,
Carney J.A. (1993). Hereditary motor and sensory neuropathies. In: Dyck
P.J., Thomas P.K., Griffin J.W. (eds) Peripheral Neuropathy, 3rd ed.
Philadelphia, Saunders, p 1094-1136.
5.
Vance J.M. (2000). The many faces of Charcot-Marie-Tooth disease.
Archives of Neurology, 57: 638-640.

|