|
![]()
|
(Dành
cho BS chuyên khoa Thần kinh)
HỘI
CHỨNG ỐNG CỔ TAY: MỘT SỐ TIÊU CHUẨN
CHẨN ĐOÁN ĐIỆN
BS
Vơ Hiền Hạnh,Khoa chẩn đoán chức năng. TS y
khoa Nguyễn Hữu Công, Khoa nội thần kinh. Bệnh
viện 175. (xin tham khảo thêm các bài về tiêu chuẩn hội chứng ống cổ tay, lịch sử và biến thể) 1.
ĐẶT VẤN ĐỀ: Hội
chứng ống cổ tay (c̣n gọi là hội chứng
đường hầm cổ tay - Carpal Tunnel Syndrome) là
một hội chứng chèn ép dây thần kinh ngoại vi
hay gặp nhất. Trong hội chứng này, dây thần kinh
giữa bị chèn ép trong đường hầm (ống)
cổ tay. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh, trong đó có
thể kể: do công việc (cử động cổ tay
nhiều, chấn động rung do dụng cụ cầm
tay gây nên), do bệnh lư viêm - thấp khớp của
khớp cổ tay, do thoát vị bao hoạt dịch khớp
cổ tay, viêm - xơ hóa các dây chằng vùng cổ tay.
Hội chứng này cũng hay gặp trong các chứng viêm
đa dây thần kinh do tiểu đường, nhiễm
độc rượu mạn tính, bệnh thận... Đây
là một hội chứng đơn giản, dễ
chẩn đoán và dễ điều trị. Nhưng cách
đây vài năm, tại Việt nam, hội chứng này c̣n
rất ít được các bác sỹ phát hiện và
chẩn đoán đúng. Cho tới vài năm gần đây,
với việc triển khai hoạt động thường
qui của phương pháp chẩn đoán điện
(electrodiagnosis), mà ta thường gọi là phương pháp
điện cơ, th́ mới có nhiều bệnh nhân
được chẩn đoán đúng và điều
trị có hiệu quả. Điều đó cũng phù
hợp với y văn, v́ theo các tác giả lớn trên
thế giới, th́ cho đến nay, chẩn đoán điện
(electrodiagnosis) vẫn là phương pháp cận lâm sàng duy
nhất cho phép ta chẩn đoán sớm và lượng hóa
những tổn thương của dây thần kinh giữa
trong loại bệnh lư này. Chúng tôi xin tŕnh bày những
nghiên cứu của riêng ḿnh về các thông số của
chẩn đoán điện trong hội chứng ống
cổ tay, từ đó t́m ra những thông số nhạy
cảm nhất, nhằm giúp khẳng định hoặc
phủ nhận chẩn đoán lâm sàng và đánh giá
hiệu quả điều trị. 2.
PHƯƠNG PHÁP: 2.1.
Đối tượng: Chúng tôi tiến hành khảo sát các
thông số b́nh thường trên 21 người khoẻ
mạnh là nhân viên y tế (bác sỹ và y tá), từ đó
t́m giới hạn b́nh thường và so sánh với tiêu
chuẩn b́nh thường do các tác giả khác đưa
ra. Những người này chỉ được coi là b́nh
thường khi không có bất kỳ một biểu
hiện nào khiến ta nghi ngờ có thể có hội
chứng ống cổ tay, cũng như không có bất
kỳ một bệnh lư nào có thể liên quan ít nhiều
tới hội chứng ống cổ tay (viêm đa
khớp, lupus ban đỏ, tiểu đường...). Các
thông số chẩn đoán điện tương tự cũng
được làm trên 53 người bệnh. Những người
này được lâm sàng chẩn đoán là nghi hội
chứng ống cổ tay. Hội chứng ống cổ tay
giai đoạn sớm và nhẹ chỉ có các rối
loạn cảm giác dạng tê b́ hoặc tê nhức các ngón
tay (thường các ngón II,II và IV, đôi khi tất cả
các ngón); Giai đoạn sau có thể ảnh hưởng
tới vận động với biểu hiện cầm
nắm yếu và vụng về. Triệu chứng tăng lên
khi cầm tay lái xe máy hoặc dụng cụ lao động
gây chấn động rung. Nếu rất nặng th́ ô mô
cái bị teo, bàn tay khỉ và chức năng cầm
nắm của bàn tay bị ảnh hưởng nặng
nề. Bệnh nhân chỉ được chẩn đoán
là bị hội chứng ống cổ tay khi có dấu
hiệu điện sinh lư bất thường phù hợp
với chẩn đoán lâm sàng. Nếu tất cả các thông
số điện sinh lư nằm trong khoảng b́nh thường,
th́ loại trừ chẩn đoán hội chứng ống
cổ tay và loại trừ ra khỏi nhóm nghiên cứu. Dây
thần kinh giữa (median nerve) và dây thần kinh trụ
(ulnar nerve) được khảo sát đồng thời
với nhau, nhằm mục đích so sánh, v́ trong hội
chứng ống cổ tay th́ dây giữa bị chèn ép,
trong khi dây trụ không bị ảnh hưởng ǵ. 2.2.
Trang bị nghiên cứu: máy NEUROPACK 8 sản xuất
tại Nhật 1992. Ta dùng ḍng điện 1 chiều,
thời khoảng (duration) của mỗi kích thích là
khoảng 0,2 ms. Cường độ kích thích để
ghi đáp ứng vận động của cơ là cường
độ trên tối đa (supramaximal intensity), thông thường
cường độ này vào khoảng 15 cho tới 30 mA, tùy
từng người. Khi kích thích để ghi cảm giác,
ta chỉ cần kích thích với cường độ
thấp (khoảng 4-7 mA). Đôi khi do biên độ của
điện thế cảm giác rất thấp và lẫn vào
với các nhiễu (artifact), ta phải dùng kỹ thuật
trung b́nh hóa (averaging). 2.3.
Kỹ thuật: Ghi
thời gian tiềm vận động ngoại vi (distal
motor latency: DML): Điện cực kích thích đặt trên
thân dây thần kinh (giữa hoặc trụ) ở cổ
tay, gần sát nếp gấp cổ tay. Ghi đáp ứng
vận động ở khối cơ ô mô cái (dây
giữa) và ô mô út (dây trụ) với cặp điện
cực ghi. Thời gian tiềm vận động ngoại
vi là khoảng thời gian tính từ lúc bắt đầu
có kích thích điện vào dây cho tới lúc bắt đầu
có đáp ứng co cơ.Thời gian tiềm vận động
ngoại vi của dây giữa và dây trụ: kích thích dây
giữa hoặc trụ ở khu vực cổ tay bằng
cặp điện cực bề mặt. Ghi bằng cặp
điện cực ghi kiểu bụng - gân. Ta có 2
đường ghi đáp ứng co cơ tương
ứng với 2 dây thần kinh, Thời gian tiềm vận
động ngoại vi (DML) của các dây tương
ứng, tính bằng ms. Ghi
đáp ứng cảm giác: Bằng phương pháp
thuận chiều (orthodromic): ta kích thích điện vào nhánh
riêng ngón tay (digital proprius nerve) của dây trụ (ngón út) và
dây giữa (ngón trỏ), trong khi đặt điện
cực ghi cảm giác ở trên thân dây thần kinh tương
ứng ở cổ tay. Như vậy xung động điện
đi cùng chiều với xung cảm giác b́nh thường;
Bằng phương pháp ngược chiều (antidromic): ta
kích thích dây thần kinh tương ứng ở cổ
tay, và ghi điện thế cảm giác bằng điện
cực h́nh nhẫn bao quanh ngón 4 (chung cho cả dây trụ
và giữa). Như vậy xung điện đi ngược
chiều với xung cảm giác b́nh thương. Thời
gian tiềm cảm giác (sensory latency) là thời gian tính
từ lúc kích thích tới lúc ghi được điện
thế cảm giác. Trên thực tế chúng tôi lựa
chọn phương pháp ghi thuận chiều v́ nó cho h́nh
ảnh rơ rệt hơn, ít bị nhiễu hơn. 3.
KẾT QUẢ: Chúng
tôi đă khảo sát các thông số trên 21 người
khoẻ mạnh (bao gồm các nhân viên y tế trong
bệnh viện), gồm 19 nữ và 2 nam, tuổi từ 26
đến 66, trung b́nh là 39. Các thông số tương
tự cũng được làm trên 53 người
bệnh, trong đó có 4 nam và 49 nữ, tuổi từ 27
tới 78, trung b́nh là 44. 3.1.
Các số liệu trên người b́nh thường như
sau (bảng 1): Bảng
1: Các thông số trên người b́nh thường:
(Thời
gian tính bằng ms, Số trung b́nh ± 2 độ lệch
chuẩn) Như
vậy khoảng giới hạn bệnh lư của các thông
số với mức ư nghĩa từ 95% cho tới 99,7%
(trung b́nh + 2 hoặc 3 lần độ lệch chuẩn) là
như sau (xem bảng 2): Ngoài
ra chúng tôi c̣n so sánh thời gian tiềm vận động
(của dây giữa) giữa tay phải và tay trái trên cùng
1 người. Kết quả thống kê trên 21 người
cho thấy thời gian tiềm vận động ngoại
vi (distal motor latency: DML) của dây thần kinh giữa bên
phải dài hơn bên trái trung b́nh là 0,09 ms (SD = 0,27 ms). Trên
thực tế có người DML tay trái dài hơn DML tay
phải hoặc ngược lại. Dùng T-test cho nghiên
cứu từng cặp, chúng tôi thấy sự khác biệt
giữa DML dây giữa bên phải và dây giữa bên trái là
không có ư nghĩa với P<0,05. 3.2.
Các số liệu trên người bệnh: Từ các thông
số có được trên người b́nh thường,
chúng tôi khảo sát sự biến đổi của
những thông số này trên người bệnh bị
hội chứng ống cổ tay. Trên 53 bệnh nhân, có người
có biểu hiện bệnh ở cả 2 tay, do vậy có
bệnh nhân được làm xét nghiệm trên cả 2
tay, và tổng cộng đă có 89 bàn tay (trên 53 người)
được kiểm tra. Trong đó 51 bàn tay phải và
38 bàn tay trái. Bệnh nhân chỉ được coi là
bị hội chứng ống cổ tay khi có ít nhất 1
triệu chứng lâm sàng kết hợp với ít nhất
1 triệu chứng chẩn đoán điện (ít nhất
1 trong các thông số vượt quá ngưỡng 99,7%
của người b́nh thường). Nếu một thông
số nằm trong khoảng giới hạn bệnh lư (ví
dụ thời gian tiềm vận động của dây
giữa là 4,12 ms) th́ coi là ở mức giới hạn
(ranh giới giữa b́nh thường và bệnh lư) Bảng
2: Khoảng giới hạn bệnh lư (95-99,7%) của các thông
số trên dây thần kinh giữa (ms)
Bảng
3: Các dấu hiệu điện sinh lư bất thường
trên 89 bàn tay bị hội chứng ống cổ tay:
Chú
thích: Trong 89 bàn tay được khảo sát, 3 không có
đáp ứng co cơ (ô mô cái) khi kích thích dây giữa và
13 không có đáp ứng cảm giác (khi ghi tại thân dây
giữa ở trên nếp lằn cổ tay). Biểu
hiện đó được coi là bệnh lư nặng và
xếp vào cột "bệnh lư". Tính
trên tổng số 89 bàn tay (của 53 người) bị
hội chứng ống cổ tay, số trường
hợp bệnh lư của các thông số chẩn đoán
điện được quy thành tỷ lệ % và
biểu diễn như trong h́nh vẽ 2, nhằm nêu bật
sự khác biệt về độ nhậy cảm phát
hiện bệnh của từng thông số, khi so sánh
với nhau. 4.
BÀN LUẬN: 4.1.
Tại khu vực cổ tay, dây thần kinh giữa đi
trong một đường ống, gọi là ống
cổ tay (đường hầm cổ tay - carpal tunnel).
Ống cổ tay là khoảng không gian giữa các xương
cổ tay và cân ngang của cổ tay (transverse carpal ligament).
Hội chứng ống cổ tay là một tổn thương
dây thần kinh cục bộ hay gặp nhất, tất
cả các tác giả đều thống nhất coi nguyên
nhân là dây thần kinh giữa bị chèn ép. Trong đa
số các trường hợp, hội chứng này xuất
hiện như là một bệnh lư riêng biệt, nhưng
bệnh hệ thống hoặc viêm đa dây thần kinh
lan tỏa có xu hướng làm bộc lộ rơ một chèn
ép dây thần kinh, th́ cũng hay gây hội chứng này.
Những bệnh đó bao gồm: các viêm đa dây
thần kinh (trong giai đoạn đầu có thể
chỉ có hội chứng ống cổ tay), thoái hóa tinh
bột (amyloidosis), to cực (acromegaly), thiểu năng giáp
trạng, viêm đa khớp dạng thấp, lupus ban đỏ
rải rác, và chứng cường cận giáp. Hội
chứng ống cổ tay cũng có thể xuất hiện
song song với bệnh thoái hóa cột sống cổ (khi
đó được gọi là hội chứng
Upton-McComas), do vậy nếu thấy bệnh nhân bị
hội chứng ống tay th́ đừng vội loại
trừ thoái hóa cột sống cổ, và ngược
lại (4). 4.2.
Lâm sàng: Triệu chứng lâm sàng của hội chứng
ống cổ tay thường là tê b́ hoặc dị
cảm đau ở bàn tay và các ngón thuộc chi phối
của dây giữa (ngón II, III, và 1/2 của ngón IV) và gan bàn
tay tương ứng với các ngón đó, trừ khu
vực ô mô cái (nhánh cảm giác của nó tách ra khỏi
dây giữa trước khi dây này đi vào trong ống
cổ tay). Thường rối loạn cảm giác xuất
hiện khi bệnh nhân cầm lái xe máy lâu (do rung xóc gây lên);
hoặc ngược lại, bệnh nhân đang ngủ
nửa đêm bị thức giấc do tê đau các ngón
tay, dậy đi lại và vẩy tay một lúc lại
hết tê và đi ngủ lại. Đôi khi vùng tê có
thể lan rộng ra toàn bộ mặt gan tay của tất
cả các ngón. Sau một thời gian không được
chữa trị, dần dần có rối loạn vận
động, biểu hiện bằng yếu và teo khối cơ
ô mô cái. Khi quá gấp hoặc quá duỗi cổ tay, th́ các
triệu chứng cảm giác có thể tăng lên. Dấu
hiệu Tinnel: gơ vào dây giữa ỡ cổ tay gây tê lan
xuống các ngón. Trên thực tế chúng tôi thấy
bệnh nhân đến khám chủ yếu do rối
loạn cảm giác, chỉ có một số ít có teo cơ
ô mô cái. Dấu Tinnel ít khi thấy. Theo các tác giả th́
tay phải (tay thuận) hay bị hội chứng ống
cổ tay hơn, chúng tôi cũng thấy có chênh lệch
về tỷ lệ mắc bệnh giữa 2 tay (51 bàn tay
phải và 38 bàn tay trái) trong tổng số 89 bàn tay bị
bệnh. Trong khi nghiên cứu sự khác biệt giữa tay
phải và trái trên người b́nh thường th́
thấy khác biệt không có ư nghĩa thống kê. Có
thể nguyên nhân tay phải hay bị bệnh hơn là do
tay thuận, thường chịu đựng sức
nặng và vi chấn động nhiều hơn. Nghiên
cứu của chúng tôi thấy đại đa số
bệnh nhân là nữ giới (49/53 người) và lứa
tuổi trên 40, điều này phù hợp với các nghiên
cứu trên thế giới. 4.3.
Chẩn đoán điện: Theo các nghiên cứu, mặc dù
trong những trường hợp nhẹ th́ có thể có
rất ít biến đổi về chẩn đoán điện,
nhưng có tới hơn 90% bệnh nhân có biểu hiện
rối loạn dẫn truyền cảm giác, và người
ta cho là thời gian tiềm cảm giác là thông số
nhậy cảm nhất trong bệnh lư này. Đặc
biệt là nếu ta tính hiệu số giữa thời gian
tiềm cảm giác của dây giữa (bị tổn thương
trong hội chứng ống cổ tay) với của dây
trụ (không bị tổn thương trong hội
chứng ống cổ tay), th́ ta sẽ c̣n được
một thông số nhậy cảm hơn nữa (1). Trên
thực tế trong nghiên cứu của chúng tôi trên người
Việt nam, hiệu số thời gian tiềm cảm giác
Giữa - Trụ là cũng là một thông số nhậy
cảm nhất (thấy bất thường ở 98,9%,
chỉ có 1,1% ở mức giới hạn và b́nh thường
là 0%). Thông số nhậy cảm thứ nh́ là hiệu
số thời gian tiềm vận động Giữa -
Trụ (95,5% là bệnh lư, 4,5% ở mức giới
hạn). Như vậy, mặc dù trong hội chứng
ống cổ tay, chỉ có dây thần kinh giữa bị
chèn ép, nhưng nếu chỉ khảo sát các thông số
chẩn đoán điện của dây giữa, mà không
khảo sát thêm dây trụ, để có được
hiệu số Giữa - Trụ, th́ sẽ bỏ sót
một số trường hợp. Theo
các tác giả, thời gian tiềm vận động
ngoại vi thường chỉ bị ảnh hưởng
trong những trường hợp tương đối
nặng (1). Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ
nhậy của thời gian tiềm vận động và
thời gian tiềm cảm giác (của dây giữa) là
gần tương đương nhau (80% so với 79%). Tuy
vậy theo Aminoff, cũng có một số người có
đáp ứng cảm giác b́nh thường trong khi thời
gian tiềm vận động ngoại vi bị ảnh hưởng
rơ (3). Chúng tôi cũng thấy hiện tượng tương
tự, ví dụ có người thời gian tiềm cảm
giác dây giữa và hiệu số thời gian tiềm
cảm giác Giữa - Trụ là b́nh thường, trong khi
hiệu số thời gian tiềm vận động
Giữa - Trụ là bệnh lư. Theo Kimura, nếu ta đo
tốc độ dẫn truyền cảm giác một cách
tỷ mỷ từng đoạn cách đều nhau 2 cm,
suốt dọc theo đường đi của dây
giữa, từ trên nếp gấp cổ tay cho tới gan bàn
tay, so sánh tốc độ trên từng đoạn nhỏ
đó, ta có thể phát hiện rất sớm hiện tượng
chậm dẫn truyền của dây thần kinh giữa do
chèn ép ở ống cổ tay (4). Chúng tôi chưa nghiên
cứu về phương pháp này, lư do chủ yếu là
thiếu thời gian. 4.4.
Lưu ư: Khi dây giữa bị chèn ép rất nặng ở
ống cổ tay, có thể có hiện tượng mất
phân bố thần kinh ở khối cơ ô mô cái
(khảo sát được bằng điện cực kim),
và khi kích thích điện ở cổ tay, th́ điện
thế ghi bằng các điện cực đặt trên
khối cơ ô mô cái cũng sẽ rất nhỏ,
thậm chí có thể không có. Trên thực tế chúng tôi
có 3/89 bàn tay không có đáp ứng co cơ ô mô cái (khi kích
thích dây giữa ở cổ tay). Trong những trường
hợp này, cần phân biệt giữơa chèn ép nặng dây
giữa ở khu vực ống cổ tay với một
nối kết bất thường từ dây giữa sang dây
trụ: ở khu vực cẳng tay của một số người
không bị hội chứng ống cổ tay: có một
nối thông từ dây trụ sang dây giữa, và các cơ
ô mô cái do cả 2 dây (dây trụ và dây giữa) hoặc
chỉ do riêng dây trụ chi phối (all ulnar hand). Do vậy
nếu đặt điện cực ghi ở ô mô cái, khi
kích thích dây giữa ở cổ tay sẽ cho một đáp
ứng cơ rất yếu ớt, và thời gian tiềm
vận động ngoại vi có thể bị kéo dài
một cách giả tạo, tạo cho ta một cảm giác
nhầm là có hội chứng ống cổ tay. Chẩn
đoán phân biệt một cách đơn giản bằng
cách kích thích dây thần kinh trụ (ở cổ tay
hoặc ở khủyu), thấy cũng có đáp ứng co
cơ mạnh ở khối cơ ô mô cái, và kích thích dây
giữa ở trên khủyu sẽ cho một đáp ứng
co cơ ô mô cái b́nh thường (h́nh 3). Nối kết
bất thường này, gọi là nối kết Martin -
Gruber (anomalous Martin - Gruber anastomosis), theo một số tác
giả có ở 15-31% người b́nh thường (2). 5.
KẾT LUẬN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG: Chẩn
đoán điện (mà ta quen gọi chung là điện cơ),
là phương pháp duy nhất cụ thể hóa được
những biến đổi bệnh lư trong hội chứng
ống cổ tay. Trên 53 bệnh nhân (với 89 bàn tay)
bị hội chứng này, khi so sánh với 21 người
b́nh thường (với 42 bàn tay), chúng tôi thấy phù
hợp với những nghiên cứu của các tác giả
quốc tế khác: (1) Hiệu số thời gian tiềm
cảm giác (sensory latency) của dây giữa so với dây
trụ là chỉ số nhậy cảm nhất; (2) Hiệu
số thời gian tiềm vận động (distal motor
latency) của dây giữa so với dây trụ là chỉ
số nhậy cảm thứ nh́. Chúng tôi chưa khảo
cứu về biến đổi điện cơ (dùng
kim) và phép đo dẫn truyền cảm giác trên từng
đoạn nhỏ, v́ lư do thời gian. Nghiên cứu cho
thấy giá trị chẩn đoán của phương pháp
chẩn đoán điện trong hội chứng ống
cổ tay là lượng hóa được các triệu
chứng bệnh lư của bệnh nhân và giúp cho chẩn
đoán phân biệt với một số bệnh lư khác
cũng cóù tê và đau, hoặc teo cơ bàn tay. Nghiên
cứu cũng nhấn mạnh đến nhu cầu
cần kiểm tra đầy đủ các thông số
của chẩn đoán điện để có được
chẩn đoán sớm cho bệnh nhân. SUMMARY:
Carpal tunnel syndrome - Electrodiagnostic criteria: Some electrodiagnostic
parameters of the median and ulnar nerves have been studied in 21 healthy
persons to establish the normal ranges. The same parameters then were studied in
53 patients with the carpal tunnel syndrome. The abnormal rate of the median
distal motor latency (DML) is 80/89 (89.9%), median - ulnar DML difference 85/89
(95,5%), median sensory latency (SL) 79/89 (88,8%) and median - ulnar SL
difference 88/89 (98,9%). The study results show the most reliable parameters
which are the motor and sensory lentency differences between the median and the
ulnar nerve. The authors are particularly concerned with the Martin - Gruber
anastomosis. Từ khóa: te tay , hoi chung ong co tay , dien co
|