CO
THẮT GẤP Ở TRẺ EM VÀ BỆNH U XƠ CỦ:
ĐIỀU
TRỊ VỚI VIGABATRIN ĐƠN TRỊ NHƯ LỰA
CHỌN ĐẦU TAY
Nguyễn Thanh Thủy,
BS CK I, Khoa Nhi Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Nguyen
Thanh Thuy: Y Hoc TP. Ho Chi Minh, Special issue of Neurology, Vol. 7,
Supplement of No 4, 2003: 156 - 160
Bệnh U xơ
củ của Bourneville là bệnh lý hamartome di truyền
theo tính trội với hai gien gây bệnh là TSC1 và TSC2
nằm ở nhiễm sắc thể 9q34 và16p13.1 Tần
số xuất hiện của bệnh khó đánh giá do có
rất nhiều dạng không triệu chứng, hiện
nay chưa tìm thấy chất đánh dấu phân tử
đặc hiệu cho phép nhận ra các trường
hợp này. Biểu hiện lâm sàng đa dạng ở
nhiều cơ quan khác nhau (da, võng mạc, não, tim,
thận, phổi và xương). Tam chứng cổ điển
của bệnh gặp trong ít hơn 50% trường
hợp với các tổn thương ở da, trì trệ
tâm thần, và động kinh. Các cơn co giật là
triệu chứng thần kinh thường gặp nhất
xảy ra ở 92% bệnh nhân và thường bắt
đầu sớm: 2/3 trường hợp trước 1
tuổi và có thể xuất hiện ngay những tháng
đầu tiên.2 Có sự phối hợp rõ rệt
giữa co thắt gấp ở trẻ em và bệnh u xơ
củ. Bệnh u xơ củ chiếm 10% các căn nguyên
của hội chứng co thắt gấp ở trẻ em.
Các cơn co thắt gấp thường báo hiệu
khởi đầu bệnh trong gần phân nửa trường
hợp. Các bệnh nhân này thường có dự hậu
xấu về nhận thức và về việc kiểm soát
cơn. Đa số ngưng cơn co thắt gấp nhưng
rốt cuộc lại bị các cơn co giật kiểu
khác.3,4 Các cơn co thắt gấp trong bệnh u xơ
củ từ lâu đã được xem là một trong các
loại cơn khó trị nhất vì chúng đề kháng
với các thuốc chống động kinh quy ước.
Năm 1990, Chiron và cộng sự báo cáo hiệu quả
của vigabatrin trong các cơn co thắt gấp và đặc
biệt trong bệnh u xơ củ với tỷ lệ
đáp ứng đến 85%. Hiệu quả của
vigabatrin đạt được trong vòng một
tuần đầu diều trị và duy trì về lâu dài
ở 55% các bệnh nhân.5,6,7
Chúng tôi trình bày
một trường hợp co thắt gấp ở
trẻ em trong bệnh u xơ củ với các đặc
điểm trên lâm sàng, điện não đồ,ø hình
ảnh học và sự đáp ứng với vigabatrin
đơn trị như lựa chọn đầu tay trong
việc kiểm soát cơn và cải thiện về
nhận thức.
BỆNH
ÁN
Bé
trai HĐK 14 tháng tuổi là con 1/1, cha mẹ hoàn toàn bình
thường, tiền sử sản khoa bình thường,
cân nặng lúc sanh là 2kg7, thuận cả hai tay. Tiền
sử gia đình không ghi nhận gì lạ. Phát triển
tâm thần vận động bình thường đến
9 tháng tuổi. Từ 14 ngày tuổi em hay có những
đợt bị cơn tim nhanh tự hết lúc 6 tháng.
Từ 8 tháng tuổi em bắt đầu có những cơn
co giật gấp đầu mình ở cả hai bên, đối
xứng từ 2 đến 10 loạt cơn (1-2 cơn
/lần) mỗi ngày kèm theo triệu chứng của
chậm phát triển tâm thần vận động.
Khám lâm sàng ghi
nhận có rối loạn hành vi và giao tiếp, không chú
ý, không nhìn theo dõi, không phân biệt lạ quen, chậm
phát triển trí tuệ và vận động, chưa
biết nói, chưa biết đi. Có ba mảng mất
sắc tố ớ vùng đùi mông, cẳng tay trái. Soi
đáy mắt bình thường.
Siêu âm tim bình thường.
Siêu âm bụng phát hiện một nang nhỏ ở
thận (P) d= 6mm.
Hình
ảnh chụp cắt lớp não cho thấy hình ảnh
đóng vôi bất thường vùng đầu nhân đuôi
2 bên và hình ảnh giảm đậm độ chất
trắng não rải rác vùng trán, đỉnh, chẩm
hai bên (P)>(T).
Điện não
đồ (EEG) ngoài cơn lúc thức với ổ gai
nhọn, sóng chậm ở bán cầu (P). Lúc ngủ (Hình
4) các chớp gai sóng lan toả cho hình ảnh giống
với loạn nhịp sóng cao tần
(hypsarrhythmia).Bệnh nhân được điều
trị với vigabatrin 100mg/kg/ngày và ngưng co giật sau
6 ngày điều trị. Không có tác dụng phụ nào
với vigabatrin được ghi nhận. Sau thời gian
theo dõi 24 tháng em không bị tái phát co giật, tiếp xúc
với người xung quanh cải thiện, nhưng kém
chú ý, nói được câu với ba từ nhưng
vốn từ còn nghèo nàn, trì trệ tâm thần nhẹ
đang theo học lớp mầm.
BÀN
LUẬN
Bệnh u xơ
củ là một trong các bệnh lý phacomatose di truyền
theo tính trội hay gặp nhất với tỷ lệ
đột biến cao và biểu hiện lâm sàng đa
dạng. Về bệnh học, đây là bệnh về
rối loạn trong sự chuyển di, tăng sinh và
biệt hóa của tế bào. Có đến 60 % trường
hợp bệnh xảy ra lẻ tẻ tương ứng
với các đột biến mới (không bị ảnh
hưởng bởi tuổi tác của cha mẹ). Cha
mẹ của bé hoàn toàn khỏe mạnh, do đó có
thể đây là đột biến di truyền tự phát
ở trẻ và nguy cơ có hơn một đứa con
bị bệnh là thấp.
Bé được
chẩn đoán bệnh u xơ củ dựa trên các tiêu
chuẩn của Uûy Ban của Hiệp Hội Quốc Gia
về Bệnh U Xơ Củ Bourneville.8 Sự hiện
diện của ít nhất hai nốt vôi hóa quanh não
thất không bắt cản quang trên hình chụp cắt
lớp não là tiêu chuẩn chẩn đoán chính. Các đốm
mất sắc tố là dấu hiệu ngoài da xảy ra
sớm nhất có thể xuất hiện ngay sau sanh hay
trong năm đầu tiên, trung bình vào lúc 5 tháng
tuổi. Vị trí chọn lọc thường ở thân
và các chi, có dạng bầu dục với bờ răng
cưa như hình chiếc lá, số lượng thay đổi
từ ba đến mười. Ngoài ra, có thể có các
tổn thương ngoài da khác thường được
mô tả trong y văn như các u tuyến bã nhờn
của Pringle (thường xuất hiện sau 6 tuổi,
ở mũi, hai bên má và đôi khi ở cằm), các u
sợi ở móng hay u Koenen, da giống trái cam. Soi đáy
mắt có thể thấy các hamartome ở võng mạc hay
phacome, các mảng mất sắc tố ở võng mạc
và các đốm giảm sắc tố trên đồng
tử. Các rối loạn nhịp tim chu sinh xảy ra
ở bé này có thể do các rhabdomyome ở tim đã không
được phát hiện. Các u này thoái triển sau sinh
và trên nguyên tắc không triệu chứng ở trẻ
lớn và người lớn. Siêu âm thận có thể
phát hiện các hamartome hay nang thận do đó cần theo
dõi siêu âm hằng năm. Hình ảnh học có thể
cho thấy các nốt cục dưới màng ống
nội tủy, các u củ trên vỏ não, các u tế bào
hình sao khổng lồ dưới màng ống nội
tủy, các bất thường trên chất trắng. Hình
ảnh giảm đậm độ trên chất trắng
trên CT là do kém myelin hóa.
Động kinh và
khiếm khuyết trí tuệ là các yếu tố nguy cơ
chủ yếu của bệnh u xơ củ, trong đó
động kinh chiếm khoảng 75 % và khiếm
khuyết trí tuệ ở 50% bệnh nhân u xơ củ. Bé
này bị cơn co thắt gấp lúc 9 tháng tuổi là
tuổi khởi sự co giật ở đa số
trẻ bị u xơ củ (trong khoảng cuối tháng
thứ hai và tháng thứ mười một). Tuổi
khởi phát co giật và tuổi xuất hiện ổ
động kinh trên EEG tùy thuộc định vị
của các u củ trên vỏ não, với biểu hiện
tương đối sớm hơn ở vùng thái dương-chẩm.
Các cơn co thắt gấp ở trẻ này đối
xứng, không đi kèm với các cơn cục bộ.
EEG ngoài cơn ở đây không có biểu hiện
của loạn nhịp sóng cao tần mà chỉ là các gai
sóng không đồng bộ đơn hay đa ổ và
hoạt động chậm không đều khác với các
trẻ bị hội chứng West cổ điển.9 EEG
trong cơn bắt đầu với phóng điện khu
trú bỏi các gai sóng và đa gai sóng xuất phát từ
vùng thái dương, rolando hay vùng chẩm tiếp sau
bởi sóng chậm toàn thể không đều rồi
đường ghi đột ngột dẹt hẳn
xuống. Cuối thời gian theo dõi ở bé này không có
các cơn co giật cục bộ vận động hay
phức tạp hay toàn thể hóa thứ phát như
diễn tiến thường được ghi nhận.10
Vigabatrin được sử dụng tương đối
sớm trước 2 tuổi, chỉ 5 tháng sau khi trẻ
có các cơn co thắt gấp. Sau 6 ngày điều
trị em ngưng co giật hẳn. Trường hợp lâm
sàng này xác nhận sự đáp ứng nhanh với
vigabatrin đã được nêu ra trong các nghiên
cứu.3,4,5,6,7 Sau thời gian theo dõi 24 tháng em không bị
tái phát co giật với đơn trị bằng
vigabatrin. Trẻ này phát triển tâm thần vận động
bình thường trước khi bắt đầu co
giật, các cơn co thắt gấp đối xứng riêng
lẻ thoáng qua, tần xuất cơn thấp, đáp
ứng nhanh với điều trị. Đây là các các
yếu tố có dự hậu thuận lợi12 nhưng
trẻ vẫn có những khiếm khuyết tâm thần
kinh nhất định liên quan đến định
vị của các u củ của vỏ não, thậm chí
cả khi trẻ không còn lên cơn co giật.
Các rối
loạn chức năng tâm thần kinh, nhận thức cũng
như rối loạn hành vi có liên quan đến sự
trầm trọng của động kinh và các kết
quả hình ảnh học. Trẻ bị co thắt
gấp thoáng qua và các u củ ở vỏ não định
vị ở thùy đính và vùng rolando có thể có trí thông
minh bình thường. Ngược lại, trẻ bị
co thắt gấp dai dẳng được tiếp trước
hay theo sau bởi các cơn cục bộ và với các u
củ cả hai bên thường hay bị động kinh
kháng thuốc và trì trệ tâm thần nặng. Các
trẻ u xơ củ (nhất là khi có các u củ ở vùng
đính-thái dương và trán) có cơn co thắt
gấp hay bị tự kỷ.12 Các trẻ bị tổn
thương vùng đính chẩm thường bị suy
giảm phối hợp vận động thị giác. Nói
chung, ở bệnh nhân này sau khi ngưng cơn co thắt
gấp với vigabatrin có trí tuệ, tiếp xúc và
ứng xử xã hội cải thiện nhưng vẫn còn
kém chú ý, nhìn theo dõi thoáng qua. Chúng tôi không thể
loại trừ khả năng vigabatrin có thể có tác
dụng đặc biệt có lợi trên chức năng
tâm thần, độc lập với tác dụng trên
kiểm soát cơn. Các nghiên cứu về mặt lâm sàng
và thực nghiệm ở người lớn đã
gợi ý rằng vigabatrin có thể góp phần trong
việc ngăn ngừa sự suy thoái chức năng
nhận thức.13,14,15 Tuy nhiên, sự phát triển về
ngôn ngữ tốt hơn các chức năng vận động
thị giác và không gian thị giác. Sự trái ngược
này phù hợp với sự mất nhận thức
về thị giác được ghi nhận ở các
bệnh nhân bị cơn co thắt gấp do bệnh u xơ
củ hay do các nguyên nhân khác.16
Trường
hợp này cho thấy vigabatrin có thể có hiệu
quả điều trị tốt đối với
trẻ bị hội chứng co thắt gấp, vốn thường
có dự hậu xấu về nhận thức và về
kiểm soát cơn.
