
| |
(Dành
cho BS chuyên khoa Thần kinh)
ĐÁNH
GIÁ SỰ THAY ĐỔI CỦA SÓNG F TRONG THOÁT VỊ
ĐĨA ĐỆM L4-L5
BS
Bạch Thanh Thủy, BS Bùi văn Tố
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Chẩn
đoán TVĐĐ trên lâm sàng không khó khăn với các
phương pháp chụp bao rễ cản quang, CT scan, MRI (là
các phương pháp chẩn đoán h́nh ảnh). Chẩn
đoán điện có thể giúp chẩn đoán chức
năng của các rễ thần kinh. Sóng F giúp nghiên
cứu t́nh trạng dẫn truyền thần kinh ở các
rễ và đám rối thần kinh. Mục đích của
nghiên cứu: t́m hiểu giá trị của sóng F trong đánh
giá tổn thương chức năng của rễ L5 trong
TVĐĐ CSTL L4-L5.
II.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đối
tượng: 30 BN TVĐĐ cột sống thắt lưng
điều trị tại viện 175
Tiêu
chuẩn chọn bệnh nhân: 1) Chẩn đoán lâm sàng: TVĐĐ
L4-L5 có tổn thương rễ L5 một bên. 2) Chẩn
đoán h́nh ảnh: TVĐĐ L4-L5 trên film bao rễ
cản quang.
2.
Phương pháp nghiên cứu:
Các
BN được chẩn đoán TVĐĐ cột
sống thắt lưng trên lâm sàng. Bệnh nhân được
chia 4 nhóm theo mức độ rất nặng, nặng,
vừa, nhẹ. Chẩn đoán xác định bằng
chụp bao rễ cản quang.
Kỹ
thuật chẩn đoán điện: bệnh nhân nằm
ngửa, điện cực kích thích đặt trên dây
thần kinh mác sâu tại cổ chân, điện cực
ghi đặt ở cơ duỗi ngắn các ngón chân,
điện cực đất đặt ở cổ chân
giữa điện cực kích thích và điện cực
ghi. Các bệnh nhân đều được ghi sóng F 32
lần. Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát 2
thông số quan trọng nhất là: thời gian tiềm và
tần số.
Sử
dụng kết quả nghiên cứu về tần số sóng
F của dây mác sâu trên người b́nh thường,
với chênh lệch tần số (%) giữa 2 bên
(phải-trái) trung b́nh là 12,8%, SD = 8,5%. Nếu cênh lệch
tần số này ở người bệnh lớn hơn
29,2% (trung b́nh + 2SD) th́ được coi là bệnh lư.
III.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1.nhóm
bệnh nhân nhẹ: 21 BN (70 %), 3 nữ, 18 nam. 2 trường
hợp không xuất hiện sóng F.
Bảng
1: Các thông số thời gian tiềm (trung b́nh) của sóng
F trên nhóm bệnh nhân nhẹ.
|
SD
|
Thời
gian tiềm sóng F (ms)
|
|
Min
|
Max
|
Mean
|
|
Bệnh
|
Lành
|
Bệnh
|
Lành
|
Bệnh
|
Lành
|
|
43,87
|
43,66
|
50,43
|
51,06
|
46,53
|
46,87
|
|
2,8
|
2,22
|
4,8
|
5,43
|
3,2
|
2,6
|
T-test:
bên bệnh và bên lành khác nhau không có ư nghĩa (p>0,05).
Bảng
2: Chênh lệch tần số sóng F giữa bên bệnh
với bên lành, nhóm bệnh nhân nhẹ.
|
|
Số
bệnh nhân
|
Tỷ
lệ (%)
|
|
Mất
sóng F
|
2
|
9,5%
|
|
Chênh
lệch bệnh lư
|
1
|
4,76%
|
2.
Nhóm bệnh nhân vừa: 9 BN (2 Nữ, 7 Nam). 2 trường
hợp không xuất hiện sóng F.
Bảng
3: Các thông số thời gian tiềm (trung b́nh) của sóng
F trên nhóm bệnh vừa.
|
SD
|
Thời
gian tiềm sóng F (ms)
|
|
Min
|
Max
|
Mean
|
|
Bệnh
|
Lành
|
Bệnh
|
Lành
|
Bệnh
|
Lành
|
|
44,7
|
44,34
|
53,28
|
50,28
|
50,44
|
46,97
|
|
3,08
|
2,04
|
8,79
|
3,61
|
6,04
|
2,59
|
T-test:
bên bệnh và bên lành khác nhau không có ư nghĩa (p>0,05).
Bảng
4: Chênh lệch tần số sóng F giữa bên bệnh
với bên lành, nhóm bệnh nhân vừa.
|
|
Số
bệnh nhân
|
Tỷ
lệ (%)
|
|
Mất
sóng F
|
2
|
22,2%
|
|
Chênh
lệch bệnh lư
|
4
|
44,4%
|
IV.
BÀN LUẬN:
Trong
nhóm bệnh nhân nhẹ và vừa, chúng tôi so sánh các giá
trị thời gian tiềm sóng F giữa bên bệnh và bên
lành, và không thấy có sự khác biệt có ư nghĩa.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp
với tác giả Aiello & Patraskakis (1) (tiến hành theo phương
pháp giống như của chúng tôi). Tác giả Braune &
Wunderlich (2) lại thấy rằng thời gian tiềm sóng
F bất thường ở 66%.. Một số tác giả khác
cũng có nghiên cứu nhưng nói chung kết quả chưa
thống nhất, Chúng tôi cũng tiến hành so sánh
thời gian tiềm của sóng F ở bên bệnh giữa
hai nhóm bệnh nhân vừa và nhẹ, và thấy không có
sự khác biệt.
Ở
bảng 2 và 4, chúng tôi nghiên cứu về chênh lệch
tần số của sóng F giữa bên bệnh và bên lành,
so sánh với người b́nh thường, thấy
rằng chênh lệch về tần số sóng F là bệnh
lư ở 3/21 bệnh nhân thuộc nhóm nhẹ và 6/9 bệnh
nhân thuộc nhóm vừa, tổng cộng 9/30 bệnh nhân
(= 30%). Như vậy thông số về chênh lệch tần
số sóng F giữa 2 chân tỏ ra là một thông số tương
đối nhậy cảm hơn so với những thông
số về thời gian tiềm của sóng F. Ở nhóm
mức độ vừa th́ tỷ lệ bất thường
là 6/9 (66,7%) và ở nhóm nhẹ th́ tỷ lệ này
thấp hơn (3/21 = 14,3%). Điều này cho thấy thông
số về chênh lệch tần số sóng F giữa 2 chân
có thể tỷ lệ thuận với mức độ
nặng của bệnh. Điều này hoàn toàn phù hợp
với tác giả D. Dumitru (3).Tác giả Aiello (1), ngược
lại, lại cho rằng tần số sóng F không có giá
trị ǵ
V.
KẾT LUẬN:
Thời
gian tiềm sóng F không có giá trị chẩn đoán
tổn thương chức năng rễ thần kinh L5
trong bệnh lư TVĐĐ L4-L5.
Tần
số sóng F giảm bên bị bệnh có giá trị
chẩn đoán tổn thương chức năng rễ
L5. Khi mất hẳn th́ càng có giá trị hơn.
Đề
nghị: tiếp tục nghiên cứu về thông số
mới này trong tổn thương chức năng rễ S1
do bệnh lư TVĐĐ, có thể phối hợp với
ngoại khoa để nghiên cứu giá trị của thông
số này trong tiên lượng phục hồi chức năng
sau phẫu thuật.
TÓM
TẮT
Sóng
F có thể giúp chẩn đoán tổn thương
chức năng các rễ thần kinh. Nghiên cứu này
được thực hiện trên 30 bệnh nhân có
tổn thương rễ L5 một bên do thoát vị
đĩa đệm. Chúng tôi đă khảo sát các thông
số sóng F: tần số, chênh lệch tần số
giữa hai bên, các giá trị thời gian tiềm. Kết
quả cho thấy: các thông số thời gian tiềm bên
bệnh không có khác biệt so với bên lành, ngược
lại, tần số sóng F có biến đổi rơ: 4
bệnh nhân mất sóng F bên bệnh, 5 người có chênh
lệch tần số sóng F bệnh lư. Như vậy
tần số sóng F bất thường là 9/30 bệnh nhân,Trong
nhóm chèn ép L5 mức độ trung b́nh tỉ lệ này là
6/9.
Kết
luận: Tần số sóng F giảm bên bị bệnh có
giá trị chẩn đoán tổn thương chức năng
rễ L5 trong TVĐĐ L4- L5 (khi mất hẳn th́ càng có
giá trị hơn). Đề nghị phối hợp
với ngoại khoa để nghiên cứu giá trị
của thông số này trong tiên lượng phục hồi
chức năng sau phẫu thuật.
Quay
về đầu trang
|