THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Alzheimer

Home Up Feedback Contents Search

 

Alzheimer2

NHÂN MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ALZEIMER ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NỘI THẦN KINH BỆNH VIỆN 175

Thạc sỹ Bạch Thanh Thủy.

Đặt vấn đề.

Sa sút trí tuệ (SSTT) là một hội chứng thường gặp, nhất là ở người cao tuổi. Bệnh tiến triển từ từ  làm suy thoái toàn bộ các chức năng cao cấp trong các lĩnh vực của đời sống tinh thần : trí nhớ, khả năng lí luận phán đoán, tư duy tŕu tương, cảm xúc, nhân cách, ngôn ngữ...tiến tới làm mất mọi khả năng hoạt động trí năo của con người.

Ngày nay, con người ngày càng sống lâu, tỉ lệ người cao tuổi ngày càng tăng, do vậy vấn đề SSTT ngày càng được quan tâm và tập trung nghiên cứu nhất là ở các nước đă phát triển.

Một trong những dạng phổ biến nhất của SSTT được đặt tên Alois Alzheimer (chiếm hơn 50% tỉ lệ bệnh nhân SSTT), người đă mô tả  cả bệnh cảnh và thay đổi bệnh sinh của bệnh. Từ lâu thuật ngữ bệnh Alzheimer (AD) giới hạn chỉ những trường hợp khởi phát trước tuổi 65. Ngày nay phân tích lâm sàng, bệnh học, siêu cấu trúc, sinh hóa chỉ ra rằng bệnh Alzheimer và SSTT năo suy (khởi phát sau 65 tuổi) là một quá tŕnh duy nhất và hiện  thống nhất coi cả hai là một bệnh.

Ở Mỹ, bệnh Alzheimer ở người tuổi 65 khoảng 10,3%, tăng lên đến 47% ở nngười trên 80 tuổi. 2,6% người > 65 tuổi bị bệnh Alzheimer hằng năm, tỉ lệ này ít dao động theo giới và sắc tộc, ở các nước công nghiệp hóa khác cũng có tỉ lệ tương đương, tỉ lệ này ở Việt nam chúng tôi chưa có số liệu.

Giới thiệu bệnh nhân

Trong thời gian vừa qua Khoa Nội Thần kinh có nhận và điều trị một số trường hợp bị SSTT, chúng tôi xin được giới thiệu dưới đây:

Bệnh nhân NTP, 75 tuổi. Khởi bệnh cách đây 4 năm với triệu chứng tiến triển tăng dần. Tháng 6/1998 vào Khoa Nội Thần kinh với các triệu chứng chính: Rối loạn trí nhớ + Rối loạn ngôn ngữ + Mất xử dụng động tác + Mất nhận thức về người và đồ vật. Các xét nghiệm không phát hiện bệnh lí nội khoa, CT scan có h́nh ảnh teo năo vùng trán và thái dương, dăn rộng các rănh năo thất.

Bệnh nhân L.X.B 67 tuổi. Bệnh khởi phát tương đối nhanh trước khi nhập viện. Vào A6 tháng 8/1998 với các triệu chứng chính: Rối loạn trí nhớ + T́nh trạng kích thích + Rối loạn nhận thức về đồ vật. X quang có h́nh ảnh viêm phế quản măn. Các xét nghiệm và lâm sàng không phát hiện bệnh lí nội khoa nào khác. CT scan có h́nh ảnh teo năo vùng trán, thái dương.

Cả hai bệnh nhân đều được chúng tôi chẩn đoán là bệnh Alzheimer và khoa đă tiến hành điều trị. Ca thứ nhất bệnh không có cải thiện và sau đó bệnh vẫn tiếp tục tiến triển. Ca thứ hai bệnh nhân ổn định sau đó về gia đ́ng sinh hoạt tương đối b́nh thường.

Bàn luận

Căn nguyên của bệnh Alzheimer chưa được xác định, nhưng yếu tố di truyền bị nghi ngờ nhiều. Người ta thấy  có sự phù hợp cao ở những cặp sinh đôi đồng hợp tử mắc AD hơn những cặp sinh đôi dị hợp tử mắc bệnh này, người ta cũng đă t́m thấy sự thay đổi nhiễm sắc thể trong một số bệnh nhân AD khởi phát sớm và muộn..., chấn thương đầu, tŕnh độ học vấn thấp, hội chứng Down ... có liên quan với AD. Có nghiên cứu thấy rằng tiểu cầu trong AD có sự tăng hoạt hoá, sự kích thích tiểu cầu này có thể do những tế bào nội mô năo bị tổn thương hoặc sự hoạt hoá được gây ra do những bất thường màng trong tiểu cầu của bệnh nhân AD, người ta đă có bằng chứng về việc tiểu cầu là căn nguyên của cả hai bệnh : protein tiền tinh bột và (-amyloid peptide và người ta cho rằng trong AD hoạt hoá tiểu cầu có thể phản ánh hoặc thậm chí góp phần vào cơ chế bệnh sinh của bệnh.

Bệnh học: AD được xác định bằng teo vỏ năo. Quá tŕnh này thường lan toả, nhưng có thể nặng hơn ở vùng trán, vách và thái dương, mức độ teo rất thay đổi. B́nh thường tuổi gia tăng đi kèm teo năo, mức độ teo năo  có sự chồng lấp ở những bệnh nhân AD so với những người không bị bệnh cùg tuổi. Trên kính hiển vi thấy mất cả tế bào thần kinh và vùng liên kết thần kinh vỏ năo, thỉnh thoảng mất myelin thứ phát cũng thấy ở chất trắng dưới vỏ. Đặc trưng nhất là việc t́m thấy những mảng lăo hóa (senil plaques) và những búi sợi thần kinh ưa bạc (fibrillary tangles). Mảng lăo hóa được t́m thấy  khắp nơi ở vỏ năo và hồi hải mă, số lượng của chúng liên quan với độ nặng của mất trí nhó. Búi sợi thần kinh là những cấu trúc sợi nhỏ trong bào tương ở bên trong các  các tế bào thần. Trong số những protein của những tế bào thần kinh bị tổn thương có  betaA4  amyloid và tau protein. Mặc dù những búi sợi thần kinh không đặc hiệu cho AD, chúng xuất hiện đầu tiên ở sừng Amon, đặc biệt ở vùng CA1 và hồi hải mă, sau đó các búi sợi thần kinh này có thể được t́m thấy ở khắp nơi trên vỏ năo.

Những h́nh ảnh thông thường khác của AD bao gồm thoái hóa không bào khổng lồ của tế bào tháp ở sừng Amon và bệnh mạch máu dạng tinh. Người ta tin tưởng rằng sự suy giảm nhận thức không tương ứng với sự  tăng số lượng các mảng lăo suy  nhưg tương ứng với sự giảm độ nhậy cảm của các màng trước sinap của những tế bào tháp trog lớp III và IV đặc biệt trong vùng giữa trán tân vỏ năo. Về sinh hóa sự thay đổi phù hợp nhất là suy giảm  50-90% hoạt động của acetylcholin trong vỏ năo và hồi hải mă. Độ nặng của mất nhận thức không cân xứng vớimất cholin acetyltrasferase. Có sự suy giảm yếu tố giải phóng corticotropin và somatostatin, cả hai điều này được thấy trong thoái hóa các axon của các đám thần kinh

Triệu chứng: AD là một qúa tŕnh SSTT với tiến triển tăng dần của mất trí nhớ, chức năng hiểu biết và rối loạn sự nhanh nhẹn. Đầu tiên có sự chậm chạp nhẹ trong chức năng hiểu biết, sự chú ư chậm, khả năng hoạt động xă hội, kinh tế bị giảm sút và trí nhớ bị thiếu hụt. Những triệu chứng sớm bao gồm rối loạn chức năng ngôn ngữ (mất gọi tên đồ vật, lắp lời, khó khăn trong việc hiểu viết, khả năng nói), mất nhận thức đồ vật, mất xử dụng động tác. Sự kích động và trạng thái “không nghỉ ngơi” cũng thường gặp. Biểu hiện vận động không xuất hiện sớm, có thể thay đổi phản xạ và có dáng đi chậm bước lê. Giật cơ và động kinh toàn thể xuất hiện ở giai đoạn muộn. Suy giảm hiểu biết nhanh thấy kết hợp với dấu hiệu tháp. Bệnh cảnh lâm sàng giai đoạn cuối rất gây ấn tượng. Hoạt động trí tuệ ngừng, bệnh nhân trở nên ngoan ngoăn và có thể dẫn đến t́nh trạng thực vật. Yếu và co rút tứ chi có thể xuất hiện, mất chưc năng kiểm soát bàng quang, trực tràng.

Xét nghiệm: Không có thay đổi trong các xét nghiệm thông thường. Dịch năo tủy b́nh thường, có thể tăng nhẹ protein, điện năo ít giá trị. Khám xét thần kinh  tâm thần có ích lợi cho đáng giá t́nh trạng bệnh và chẩn đoán phân biệt. Trên CT và MRI thường thấy giăn các năo thất bên và rộng các rănh vỏ năo, cụ thể ở vùng trán và thái dương, đặc biệt ở giai đoạn sau của bệnh. Teo vỏ năo nhẹ dường như được thấy ở một số bệnh nhân lớn tuổi có chức năng năo b́nh thường (khám xét lâm sàng và các test tâm thần). Cả PET và SPECT đều cho thấy sự giảm chuyển hóa ở vùng thái dương và vùng vách ở những bệnh nhân từ trung b́nh đến nặng.

Chẩn đoán:

Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT dạng Alzheimer theo DSM-IV

A. Xu hướng thiếu hụt đa nhận thức được biểu lộ:

  (1) Suy giảm trí nhớ (giảm khả năng học những cái mới hoặc giảm khả năng nhớ những điều đă học).

  (2) Có ít nhất một trong những rối loạn nhận thức sau đây:

        (a) Mất ngôn ngữ (rối loạn ngôn ngữ).

        (b) Mất xử dụng động tác (suy giảm khả năng thực hiện hoạt động vận động mặc dù chức năng vận động c̣n nguyên vẹn).

        (c) Mất nhận thức (rối loạn nhận biết người hoặc đồ vật, mặc dù chức năng cảm giác c̣n nguyên vẹn).

        (d) Rối loạn chức năng thực hành (việc lập kế hoạch, tổ chức, sắp xếp thứ tự, tóm tắt).

B. Suy giảm nhận thức trong các tiêu chuẩn A1 và A2 gây ra suy giảm nghiêm trọng chức năng XH và nghề nghiệp, biểu hiện sự suy sụp chức năng sớm nặng nề.

C. Diễn biến với đặc trưng là khởi phát từ  từ và suy sụp nhận thức liên tục.

D. Sụ thiếu hụt nhận thức trong tiêu chuẩn A1 và A2 không do những điều dưới đây gây ra:

        (1) Những t́nh trạng khác của hệ thống thần kinh gây ra thiếu hụt trí nhớ và nhận thức tiến triển (bệnh mạch máu năo, bệnh Parkinson, bệnh Huntington, máu tụ dưới màng cứng, năo nước áp lực b́ng thường, u năo).

        (2) Những t́nh trạng hệ thống được biết gây SSTT (thiểu năng giáp trạng, thiếu vitamin B12 hoặc acid folic, thiếu niacin, tăng calci, giang mai thần kinh, nhiễm HIV).

        (3) Một số t́nh trạng do các chất khác gây ra.

E. Không kể đến những thiếu hụt xuất hiện trong quá tŕnh mê sảng.

F Những rối loạn không được xem là tốt hơn  những rối loạn trong trục I.?

 

Diễn biến:

Diễn biến lâm sàng là tiến triển, tận cùng không tránh khỏi là mất hoàn toàn khả năng hoạt động nhận thức và chết. Giai đoạn ổn định thỉnh thoảng xuất hiện khoảng 1-2 năm với suy giảm nhận thức không thay đổi, nhưng sau đó vẫn tiếp tục tiến triển. Thời gian khoảng 4-10 năm, cực điểm là dưới 1 năm hoặc trên 20 năm.

Đối chiếu các bệnh nhân của chúng tôi với tiêu chuẩn chẩn đoán trên chúng tôi thấy hoàn toàn phù hợp.

Tuy nhiên bệnh Alzheimer cần phân biệt với một số các SSTT khác như: 1. SSTT do nguyên nhân mạch máu, 2. SSTT trong bệnh Parkinson, 3. SSTT trong bệnh Huntington, 4. SSTT hỗn hợp liên quan với  HIV 

bullet

SSTT do nguyên nhân mạch máu: Sau bệnh Alzheimer, SSTT do bệnh mạch máu năo là phổ biến nhất, chiếm khoảng 15-30% của tổng số bệnh nhân SSTT. Chẩn đoán này với điều kiện suy giảm nhận thức là do những tổn thương năo gây nên bởi đột quị năo, chảy máu hoặc thiếu máu năo khác. H́nh ảnh của bệnh mạch máu trên nghiên cứu h́nh ảnh năo có giá trị bổ xung , cho bằng chứng chẩn đoán SSTT là có nguồn gốc mạch máu. Biểu hiệu của SSTT do mạch máu bao gồm cả hai hội chứng vỏ năo và dưới vỏ. Ở những bệnh nhân nhồi máu ổ sâu gây nên những lỗ khuyết, liệt giả hành năo thường là một bệnh cảnh trung ương với xúc cảm và tiểu không tự chủ, loạn vận ngôn, dấu hiệu tháp hai bên và dáng đi thiếu thăng bằng.

bullet

SSTT trong bệnh Parkinson: Khoảng 40% bệnh nhân Parkison bị SSTT. Yếu tố nguy hiểm để phát triển SSTT ở bệnh nhân Parkinson gấp 4 lần ở những nhóm bệnh khác cùng tuổi. Nguy cơ tăng cùng với tuổi, trầm cảm và ngoại tháp nặng. SSTT ở bệnh nhân Parkinson có lâm sàng giống như  SSTT ở bệnh nhân Alzheimer, nhưng trí nhớ trực tiếp và gián tiếp, nhận thức thị giác nói chung là tồi tệ. CT và MRI không phân biệt được SSTT hay không SSTT ở bệnh nhân Parkinson, PET và SPECT cho thấy giảm chuyển hóa glucoza, điều này đáng chú ư giống như trong AD, có thay đổi bệnh học trùng hợp với AD (mảng lăo hóa và đám xơ thần kinh), tiểu thể Lewy (trong vỏ năo và cấu trúc dưới vỏ) và thoái hóa chất xám. 

bullet

SSTT trong bệnh Huntington: Ngoài múa giật và các vấn đề vận động khác, mất trí nhớ, khó biểu hiện cảm xúc và thứ tự  hoạt động tâm thần thấy sớm. Sau nhiều năm, co giật, tư thế thay đổi và SSTT là rơ ràng, làm cho các chức năng suy giảm. Mức độ múa giật liên quan với hoạt động chuyển hóa dưới vỏ, và mức độ SSTT liên quan với tỉ lệ chuyển hoá ở vỏ năo. Có sự teo các nhân đuôi (caudate), nhân bèo (putamen) và mất các tế bào thần kinh lón và các tế bào h́nh sao, giảm số lượng các tế bào thần kinh chứa GABA, enkephalun, chất P và dynorphin cùng với sự kém tập trung trong năo của GABA và acid glutamic decarboxylase.

bullet

SSTT hỗn hợp liên quan với  HIV: SSTT hỗn hợp do HIV là một di chứng thường gặp của AIDS, được đặc trưng bằng sự thờ ơ, mất trí nhớ và nhận thức chậm thường có trước các bất thường thần kinh khác. Chẩn đoán được xác định bằng lâm sàng và các xét nghiệm

Ngoài ra AD c̣n phân biệt với những SSTT hiếm gặp khác: 1. SSTT với liệt trên nhân tiến triển, 2. Bệnh thể Lewy lan tỏa, 3.Bệnh Prion, 4. Bệnh Pick, 5. SSTT vùng trán không phải AD,… 
bullet SSTT với liệt trên nhân tiến triển: là rối loạn hiếm gặp, có thể suy giảm nhận thức và phàn nàn về thị giác, 20-60% bệnh nhân có SSTT, phân loại như là SSTT dưới vỏ năo. biểu hiện rơ rệt nhất bao gồm chậm quá tŕnh suy nghĩ, mất trí nhớ, thay đổi cá tính và suy giảm quá tŕnh thông tin thị giác, khả năng nói và các chức năng ngôn ngữ khác có thể bị suy giảm nghiêm trọng. CT và MRI cho thấy teo năo giữa sớm và teo thân năo lan rộng ở giai đoạn sau. Sự thay đổi bệnh học bao gồm mất các tế bào thần kinh, tăng sinh thần kinh đệm và các đám xơ thần kinh trong chất đen, nền năo trước và vùng dưới đồi. Điều trị nói chung ít kết quả, một số chất sau có tác dụng giới hạn: levodopa và các yếu tố dopamin khác, thuốc chống trầm cảm ba ṿng, physostigmine, idazoxan (một yếu tố ức chế alpha2 tiền synap).
bullet Bệnh thể Lewy lan tỏa: người ta đă xác định một thể lâm sàng - bệnh thể Lewy lan tỏa. Bệnh này được xác định bằng hội chứng Parkinson có hoặc không có SSTT. SSTT tiến triển tiếp theo bởi cứng cơ và bất động. Thay đổi bệnh học chính, nổi bật là thể Lewy tồn tại khắp nơi trong thân năo và vỏ năo. Hansen đă gợi ư rằng bệnh thể Lewy có thể là dạng thay đổi của AD, được xác định bằng giảm chú ư, khả năng nói lưu loát và chức năng thị giác hơn là dạng đă thấy trong AD, có sự giống nhau đáng kể với AD về bệnh học và sinh hoá. 
bullet Bệnh Prion: một rối loạn có thể lây truyền hoặc di truyền trội đă được t́m thấy trong một nhóm những rối loạn thoái hoá thần kinh của người và động vật được gọi là bệnh năo xốp bán cấp. Một biến đổi của một protein nội sinh (the prion protein) đă được t́m thấy ở những người bị bệnh Crutzfeldt - Jakob gia đ́nh (CJD), SSTT tiến triển nhanh được tiếp theo bới giật cơ. Sự lây truyền “bên” người - người đă thấy sau ghép giác mạc và ghép màng cứng. Khoảng 10% các trường hợp CJD có tính chất gia đ́nh và sự thay đổi trong gen prion đă được mô tả. Người ta cũng thấy một điểm thay đổi trong gen prion trong những trường hợp bị bệnh Gerstmann-straussler-scheinker - một SSTT gia đ́nh có thất điều đi trước hoặc trong chứng mất ngủ gây chết gia đ́nh. Dịch năo tủy trong CJD thường b́nh thường, thỉnh thoảng có protein tăng vừa, EEG ở giai đoạn sau cho thấy sự phóng điện 3 chu ḱ trong một giây. Sinh thiết năo giúp xác định chẩn đoán CJD ở nhữg bệnh nhân SSTT tiến triển nhanh. MRI và SPECT cho thấy những vùng bất thường trong năo và có thể giúp dẫn đường cho sinh thiết. Về bệnh sinh, SSTTthường được xác định  bằng một bệnh năo xốp (spongiform encephalopathy) : mất tế bào thần kinh, viêm tế bào h́nh sao, không bào bào tương và không có quá tŕnh viêm. Chẩn đoán cũng đă được làm với hoá-miễn dịch tế bào dùng kháng thể với prion. Điều trị chỉ là triệu chứng. 
bullet Bệnh Pick: Bệnh Pick là một bệnh thoái hóa hiếm gặp, xuất hiện hầu như hoàn toàn ở ngưới già, Bệnh Pick được xác định bởi teo nặng thùy trán và thùy thái dương với sự nghèo nàn của vỏ năo vận động, cảm giác và nếp cuộn thái dương đầu tiên. Trên kính hiển vi , bệnh Pick được xác định bởi mất lan tràn các tế bào thần kinh đặc biệt ở lớp ngoài của vỏ năo. Một số tế bào thần kinh c̣n lại chứa những thể vùi ưa bạc trong tế bào được biết như thể Pick, biểu hiện của bệnh Pick giống với AD, mặc dù trong một số trường hợp bệnh Pick, cá tính, định hướng, chú ư bị ảnh hưởng sớm hơn trí nhớ trong diễn biến của bệnh (ngược với AD). Người ta đă nhất trí rằng chẩn đoán phân biệt chỉ làm được khi có sinh thiết và giải phẫu tử thi. 
bullet SSTT vùng trán không phải AD: T́nh trạng này được xác định bằng khởi phát từ từ của mất phản xạ có điều kiệni, thiếu hụt nhận thức và óc phán đoán, cảm xúc thay đổi cùng với có hoặc không t́nh trạng lạnh nhạt hờ hững,ï thay đổi rơ ràng hành vi ăn uống, lời nói trong khi trí nhớ và chức năng thị giác vẫn c̣n. Mất tế bào thần kinh, tăng sinh thần kinh đệm và phù nề lớp Malpighi với những lỗ hổng rất nhỏ là h́nh ảnh chủ yếu của vùng trán và thái dương. 
bullet Ngoài ra c̣n các dạng khác như: . SSTT liên quan với bệnh nơron vận động, SSTT với tăng sinh thần kinh đệm tiến triển, SSTT liên quan với rối loạn chuyển hoá di truyền…
Ta thấy chẩn đoán phân biệt AD với các dạng SSTT hiếm gặp (bệnh Pick, SSTT thùy trán không phải AD...) là rất khó khăn v́ biểu hiện lâm sàng của các bệnh này rất khó phân biệt nhưng có sự khác biệt trong h́nh ảnh vi thể năo, v́ vậy nhiều khi chỉ xác định được trên giải phẫu tử  thi.

Điều trị: ta đă biết bệnh Alzheimer hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, một số thuốc đă được thử nghiệm và cho thấy có một số kết qủa nào đó như: Tetrahydroaminoacridine: thuốc ức chế cholinesterase được sử dụng lần đầu năm1993 cho bệnh nhân AD thấy có cải thiện một số triệu chứng tâm thần, tuy nhiên hiệu quả chưa rơ ràng. Một vài thứ khác như  acetyl levocarnitine: xúc tiến việc tẩy rửa các chất tự do, physostignine: ức chế cholinesterase, selegiline một chất ức chế monoamine oxidase (MAO).

Kết luận:Bệnh Alzheimer là một bệnh năo thường gặp ở người cao tuổi, bệnh tiến triển từ từ , dần dần làm người bệnh đánh mất chính ḿnh. Ơû nước ta bệnh c̣n ít được chú ư, nhân một số ca Alzheimer điều trị tại viện 175, chúng tôi muốn gợi ư các bác sỹ lưu ư tới căn bệnh này với mục đích điều trị sớm nhằm góp phần làm chậm tiến triển của bệnh, giảm bớt đau khổ cho bệnh nhân cũng như gánh nặng cho gia đ́nh và xă hội.

Trở về đầu trang