
MỐI LIÊN
QUAN GIỮA MEN CHUYỂN ANGIOTENSIN VÀ BỆNH ALZHEIMER
Lindsay A. Farrer, Tatyana Sherbatich,
Sergey A. Keryanov, Galina I. Korovaitseva, Ekaterina A. Rogaeva, Svetlana
Petruk, Smita Premkumar, Yuri Moliaka, You Qiang Song, York Pei, Christine Sato,
Natalya D. Selezneva, Svetlana Voskresenskaya, Vera Golimbet, Sandro Sorbi,
Rangene Duara, Svetlana Gavrilova, Peter H. St. George-Hyslop, Evgeny I. Rogaev:
Association Between Angiotensin-Converting Enzyme and Alzheimer Disease.
Archives of Neurology, Vol 57, Feb 2000, p. 210-214.
Người dịch: BS. Tạ Vương
Khoa.
Tổng
quan:
Các yếu tố di truyền
học đưa đến bệnh Alzheimer (AD:Alzheimer
disease) hiện vẫn chưa được hiểu
biết một cách cặn kẽ. Tỉ lệ AD có liên
quan đến bất thường về gene chiếm
khoảng 36%. Cho đến thời điểm hiện
tại, người ta đă thừa nhận rằng đột
biến của các gene amyloid precursor protein, presenilin 1 và
presenilin 2 di truyền trên nhiễm sắc thể trội có
liên quan đến AD, nhưng các khiếm khuyết di
truyền này mới chỉ giải thích được cho
dưới 2% tổng số các trường hợp AD. Gene
apolipoprotein E ở exon số 4 (ApoE Ỵ 4), mặc dù đă
giải thích được cho khoảng 45-60% tổng
số các yếu tố nguy cơ về gene có liên quan
đến AD, nhưng cần phải nhấn mạnh
rằng nó không phải là yếu tố thiết yếu cũng
không thể đủ khả năng để có thể gây
ra bệnh (chỉ là yếu tố thúc đẩy); điều
đó đă nhắc nhở chúng ta phải nghiên cứu thêm
về vai tṛ của các gene nhậy cảm khác nghi
ngờ có liên quan.
Men chuyển angiotensin (ACE:
Angiotensin-Converting Enzyme) là một carboxypeptidase dipeptid xúc tác
sự tạo thành angiotensin II bằng cách tách 1 chuỗi
dipeptid ra khỏi angiotensin I. Đă có báo cáo cho thấy có
sự thay đổi hoạt động của ACE trong các
khu vực của năo bộ ở các bệnh nhân có
bệnh lư về thần kinh. Arregui và CS đă quan sát
thấy hoạt động của ACE bị giảm sút
ở các bệnh nhân mắc chứng loạn thần kinh
(schizophrenia) và bệnh Huntington nhưng lại gia tăng
ở các bệnh nhân bị AD. Ngược lại, ở
bệnh Parkinson, báo cáo cho thấy không có sự thay đổi
có ư nghĩa trong hoạt động của ACE. Người
ta đă thừa nhận rằng ACE là một thành phần
b́nh thường có trong dịch năo tủy người.
Đă có một nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt
động của ACE trong dịch năo tủy giảm đi
khoảng 47% ở nhóm bị AD so với nhóm chứng (phân
theo nhóm tuổi và theo giới tính). Qui ước D và I là
2 allele trội và lặn của gene ACE, ta có các kiểu
gene sau: D/D, I/D, I/I. Trong đó, thể D/D đă được
gắn liền với yếu tố nguy cơ của
nhồi máu cơ tim và bệnh cơ tim. Thể này cũng
được báo cáo là hiện diện thường xuyên
ở những người đă từng bị đột
quỵ hơn là ở những người không có
tiền sử bị đột quỵ, và bởi v́ các
yếu tố nguy cơ về mạch máu dường như
có ảnh hưởng đến sự hiện diện và
mức độ trầm trọng của AD nên chúng tôi tiên
đoán rằng ACE là một yếu tố nguy cơ
tiềm tàng đối với AD.
Mục
tiêu nghiên cứu:
Nhằm xác định xem ACE
có phải là yếu tố nguy cơ của AD hay không.
Phương
pháp tiến hành:
Bằng phương pháp nghiên
cứu hồi cứu, chúng tôi điều tra về các h́nh
thái của ACE xem như là yếu tố nguy cơ tiềm
tàng đối với AD. Ở Nga chúng tôi lựa chọn
nhóm bệnh gồm 151 bệnh nhân và nhóm chứng gồm
206 người có cùng đặc tính về nhân chủng
học với nhóm bệnh. Ở Bắc Mỹ chúng tôi
lựa chọn nhóm bệnh gồm 236 bệnh nhân và nhóm
chứng gồm 169 người.
151 trường hợp AD tại
Nga được xác định từ các khoa lâm sàng và
từ ² Trung tâm bệnh Alzheimer và các rối loạn có liên
quan² (Alzheimer Disease and Related Disorders Center) thuộc ² Trung tâm
nghiên cứu sức khỏe tâm thần² (Mental Health Research
Center) ở Moscow. Tất cả các bệnh nhân c̣n sống
đều đă trải qua các bước thăm khám
thần kinh chuẩn mực, được thẩm vấn
cá nhân, được làm trắc định tâm lư
học, được làm xét nghiệm chẩn đoán h́nh
ảnh học năo (CT và MRI). Tất cả các dữ
liệu này được bổ sung thêm bằng các thông
tin trong hồ sơ bệnh án. Việc thiết lập
chẩn đoán AD dựa trên ² Bảng phân loại
quốc tế về bệnh tật, xuất bản
lần thứ 10² (ICD10: International Statistical Classification of
Disease, 10th Revision) và dựa trên các tiêu chuẩn của ²
Viện quốc gia về thần kinh học và các rối
loạn có liên quan² (National Institute of Neurological and
Communicative Disorders) và ² Hiệp hội đột
quỵ-bệnh Alzheimer và các rối loạn có liên quan²
(Stroke-Alzheimer¢ s Disease and Related Disorders Association). Những
bệnh nhân có bằng chứng của sa sút trí tuệ căn
nguyên mạch hoặc căn nguyên hỗn hợp bị
loại khỏi nghiên cứu. Tuổi trung b́nh khởi phát
bệnh là 64.6 ± 8.8 (khoảng tuổi nghiên cứu là 40 –
88). Trên 95% trong số này được xác minh là người
Moscow chính gốc Nga thông qua việc kiểm tra hộ
chiếu và việc thẩm tra trong họ hàng của
họ. Nhóm chứng gồm 206 người có nhận
thức b́nh thường, có cùng đặc tính về nhân
chủng học với nhóm bệnh, tuổi từ 40 – 91
(tuổi trung b́nh 64.9 ± 11.4) được lựa chọn
ngẫu nhiên từ một dân số sử dụng để
nghiên cứu tỉ lệ các rối loạn gene tại 3
tỉnh của Nga và từ các bệnh viện, các cơ
sở y tế tư nhân tại Moscow.
236 trường hợp AD tại
Bắc Mỹ được xác định từ các
đơn vị rối loạn trí nhớù thuộc Đại
học Toronto (Toronto, Ontario), Trung tâm y học Mt Sinai (Miami,
Fla) và Đại học Florence (Florence, Italy). Chẩn đoán
AD được thiết lập dựa trên các tiêu
chuẩn chuẩn mực về lâm sàng đă được
thừa nhận. Tuổi trung b́nh khởi phát bệnh là
75.2 ± 7.6 (khoảng tuổi nghiên cứu là 52 – 94). Chúng tôi
cũng giữ lại những mẫu máu từ 169 người
có nhận thức b́nh thường, không có mối quan
hệ họ hàng với nhau, tuổi từ 38 – 96
được tuyển chọn từ cùng một cộng
đồng với nhóm bệnh, những người này
được lựa chọn hoặc là do phù hợp
với tiêu chuẩn qui định về tuổi hoặc là
vợ (hay chồng) của các bệnh nhân trong nhóm
bệnh nói trên. Tuổi trung b́nh của nhóm chứng vào
thời điểm nghiên cứu là 70.2 ± 10.2. Những người
không phải là da trắng đă được loại ra
khỏi nghiên cứu một cách có chủ đích để
đề pḥng các kết quả dương tính hoặc
âm tính giả (chẳng hạn do di truyền) trong bản
thân nhóm bệnh hay nhóm chứng hoặc giữa nhóm
bệnh và nhóm chứng với nhau.
Kết
quả nghiên cứu:
Các số liệu có ư nghĩa
được tŕnh bày trong 3 bảng 1, 2, 3.
Bảng 1 cho thấy trong cả 2
nghiên cứu ở Moscow cũng như ở Toronto, không có
sự khác biệt có ư nghĩa về tỉ lệ mang
allele hoặc mang kiểu gene ACE ở nhóm bệnh và nhóm
chứng, dù xét theo mẫu toàn bộ hoặc phân nhỏ
ra thành 2 mẫu có/không có mang gene ApoE Ỵ 4.
Ở Nga cũng như ở Toronto,
nghiên cứu hồi cứu cho thấy không có sự khác
biệt có ư nghĩa về tỉ lệ mang allele hoặc
kiểu gene ACE giữa nhóm bệnh và nhóm chứng khi
bỏ qua không xét đến mối tương quan với
lứa tuổi, giới tính và gene ApoE Ỵ 4 (số
liệu không được tŕnh bày trong bài viết này).
Tuy nhiên, khi phân tích kiểu phân mẫu dựa theo nhóm
tuổi, chúng tôi nhận thấy ở những người
³ 66 tuổi tỉ lệ thuộc nhóm chứng có mang
kiểu gene I/I cao hơn so với nhóm bệnh. Tiến hành
tách nhóm tuổi này ra thành nhiều nhóm nhỏ hơn, theo
như bảng 2, chúng tôi thấy rằng nhận xét nêu trên
chỉ giới hạn trong nhóm 66-71 tuổi ở cả 2
nghiên cứu tại Moscow (P = .02) và Toronto (P = .001). Ở nhóm
tuổi này, tuy trong bản báo cáo khách quan Hardy-Weinberg có
sự sai số đáng kể nhưng sai số này chỉ
gặp ở nhóm bệnh chứ không gặp ở nhóm
chứng tại Moscow (Pnhóm bệnh = .02; Pnhóm chứng = .77)
cũng như tại Toronto (Pnhóm bệnh = .04; Pnhóm
chứng = .17) nên chúng tôi vẫn nuôi hi vọng t́m
thấy mối quan hệ giữa kiểu gene với
bệnh từ điều gợi ư nói trên. C̣n trong các nhóm
tuổi khác, tỉ lệ mang allele hoặc kiểu gene ACE
không khác nhau giữa nhóm bệnh và nhóm chứng.
Ngược lại với tác
động có lợi của kiểu gene I/I, sự hiện
diện của ít nhất 1 allele ApoE Ỵ 4 lại làm gia tăng
đáng kể tỉ lệ mắc bệnh trong tất
cả các nhóm tuổi (bảng 3). Ở nhóm tuổi 66-70,
gần như có sự trùng hợp về số liệu
từ 2 nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc bệnh
ở những người mang kiểu gene D/D hoặc I/D
(tức là có D) th́ cao hơn so với những người
mang kiểu gene I/I (tức là không có D) (bảng 2) và nguy
cơ này bằng hoặc lớn hơn khi so sánh với
nguy cơ tương ứng ở những người
có mang gene ApoE Ỵ 4 so với những người không
mang gene ApoE Ỵ 4 (bảng 3) gợi ư rằng ngoài ApoE
Ỵ 4 c̣n có yếu tố nào khác, ở đây có
thể là allele D, góp phần vào nguy cơ mắc bệnh.
Điều này được làm sáng tỏ trong bảng
3: loại bỏ ảnh hưởng của ApoE Ỵ 4
vẫn cho thấy tỉ lệ mắc bệnh tăng
cao khi có mặt allele D trong nhóm tuổi này, gợi ư ACE và
ApoE là các yếu tố nguy cơ độc lập. Số
liệu tổng hợp trong bảng 3 cũcg cho thấy
mức độ ảnh hưởng đến bệnh
của allele D (trung b́nh tăng gấp 11.2 lần/ giới
hạn từ 2.9-44.0 lần) bằng hoặc lớn hơn
so với mức độ ảnh hưởng của ApoE
Ỵ 4 (trung b́nh tăng gấp 7.8 lần/ giới hạn
từ 3.5-17.4 lần).
(Có 3 bảng không tŕnh bày trong
bản dịch này)
Bảng 1: Tỉ lệ mang
allele và kiểu gene ACE ở nhóm bệnh và nhóm chứng/ xét
theo mẫu toàn
bộ và theo mẫu có hay không có mang
gene ApoE Ỵ 4
Bảng 2 : Tỉ lệ mang
allele và kiểu gene ACE ở nhóm bệnh và nhóm chứng/ xét
theo nhóm
tuổi
Bảng 3: Tỉ lệ AD có liên
quan với ApoE Ỵ 4 và ACE D/ xét theo lứa tuổi (đă
loại bỏ ảnh
hưởng của giới tính)
Bàn
luận:
Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi đă chỉ ra được mối quan
hệ giữa AD và allele ACE D ở 2 dân số có đặc
tính nhân chủng học khác nhau và ở 2 vùng địa
dư khác nhau, nhưng chỉ ở trong nhóm tuổi từ
66 đến 70. Trong nhóm tuổi này, ảnh hưởng
của ACE D dường như độc lập so với
ảnh hưởng của ApoE Ỵ 4 và mức độ
của nó th́ bằng hoặc lớn hơn. Mối quan
hệ này có vẻ đáng được tin cậy, đặc
biệt là khi nó được chứng minh trên 2 dân
số.
Mặc dù kết quả mà chúng tôi
thu thập được vẫn có ư nghĩa qua nhiều
cách kiểm tra khác nhau nhưng mối tương quan này nên
được nghiên cứu thêm ở lứa tuổi
từ 60 đến 75 với một cỡ mẫu lớn hơn
trước khi đi đến khẳng định
chắc chắn. Trong nghiên cứu của ḿnh, chúng tôi
đă lựa chọn các khoảng tuổi một cách
tự ư và không loại trừ khả năng các
khoảng tuổi này không bao hàm hết độ tuổi
mắc bệnh có liên quan với yếu tố nguy cơ
ACE D. Chúng tôi cũng đă điều tra mối tương
quan trong những khoảng tuổi gần nhau hơn,
với khoảng cách là 5 năm (ví dụ: 61-65 tuổi và
71-75 tuổi) và kết quả là âm tính (số liệu không
được tŕnh bày trong bài viết này). Tuy cũng có
vài mẫu ở Toronto tuổi 61-65 và vài mẫu ở
Moscow tuổi 71-75 rút ra được mối liên quan có ư
nghĩa nhưng khi so sánh số liệu giữa 2 nghiên
cứu với nhau lại thấy có sự khác biệt
lớn về tỉ lệ allele ACE, v́ thế chúng tôi cho
rằng sẽ chẳng khôn ngoan chút nào khi xem xét vấn
đề trong những khoảng tuổi đặc
biệt như thế.
Gần đây, có 3 nghiên cứu thăm
ḍ ở Anh, bằng phương pháp so sánh nhóm bệnh –
nhóm chứng, cũng đă ngụ ư cho rằng các h́nh thái
khác nhau của ACE là yếu tố nguy cơ về gene
đối với AD. Tuy nhiên, trong mỗi nghiên cứu nói
trên, mô h́nh của mối tương quan này lại trái
ngược hoàn toàn với nhận xét của chúng tôi (ví
dụ: họ cho rằng kiểu gene I/I là yếu tố
nguy cơ cao của AD). Cần chú ư rằng mức độ
ảnh hưởng của I/I trên các dân số này (nguy cơ
mắc bệnh tăng gấp 1.8 đến 2.7 lần) là bé
hơn đáng kể so với mức độ ảnh hưởng
của D/D trên các dân số ở Bắc Mỹ và Moscow
trong nghiên cứu của chúng tôi (các con số tương
ứng là13.7 và 11.6 lần). Hơn nữa, chúng tôi đă
đánh giá kết quả theo mối tương quan
với các khoảng tuổi chỉ tương đối
hẹp, trong khi Kehoe và CS đă không phân tích kết
quả của họ theo mối tương quan với nhóm
tuổi.
Những khám phá của chúng tôi có
thể là giả tạo bởi phương cách lựa
chọn nhóm chứng, điều này có thể được
giải thích bởi 2 lư do: Thứ nhất, các cá nhân trong
nhóm bệnh và nhóm chứng ở Moscow là thuần nhất
về đặc tính nhân chủng học và đến
từ cùng một vùng địa dư ; tương
tự, các cá nhân trong nhóm chứng ở Toronto hoặc là
vợ (hay chồng) hoặc là đến từ cùng
một cộng đồng với các cá nhân trong nhóm
bệnh. Thứ hai, đánh giá về mối tương
quan ApoE Ỵ 4 – AD trong nghiên cứu của chúng tôi th́ phù
hợp hoàn toàn với bằng chứng từ nhiều nghiên
cứu khác quan tâm đến vấn đề tương
tự ở cả giới hạn trên và giới hạn dưới
của độ tuổi mắc bệnh. Xuất phát
từ sự trùng hợp đó nên cũng có thể nghi
ngờ mối liên hệ ACE D – AD ở đây đơn
giản chỉ được khám phá một cách t́nh
cờ khi xét mối liên hệ ApoE Ỵ 4 – AD mà thôi. C̣n
trong nghiên cứu ở Anh, tuy tỉ lệ mang allele
hoặc kiểu gene ACE không có sự khác biệt đáng
kể giữa nhóm suy giảm ư thức và nhóm chứng
từ 2 dân số có tuổi cơ bản được
lựa chọn từ cùng một cộng đồng nhưng
biết đâu một mối liên hệ ACE – AD có thể
đă bị che mờ bởi sự không thuần nhất
trong nhóm bệnh. Trong một cuộc điều tra tại
Tel Aviv (Israel) ở 49 bệnh nhân mắc AD, 41 bệnh nhân
mắc bệnh sa sút trí tuệ căn nguyên mạch và 40
trường hợp làm nhóm chứng (chẩn đoán cơ
bản dựa trên lâm sàng) phù hợp về lứa
tuổi, người ta nhận thấy tỉ lệ mang
allele ACE D là gần tương đương nhau. Cũng
phải nên lưu ư rằng không có bất kỳ một
nghiên cứu nào trong số các nghiên cứu nói trên quan tâm
đến khả năng ACE chỉ ảnh hưởng
giới hạn trong một khoảng tuổi đặc
biệt nào đó của bệnh mà thôi, như trong nghiên
cứu của chúng tôi. Một cách lư giải khác cho
kết quả giả tạo có thể có trong nghiên
cứu này là AD không phải là căn nguyên nổi bật
gây sa sút trí tuệ ở lứa tuổi 66 - 70 mà sa sút trí
tuệ trong lứa tuổi này c̣n do nhiều căn nguyên
khác như căn nguyên hỗn hợp, căn nguyên
mạch, sa sút trí tuệ trong hội chứng lỗ
khuyết mà trong đó căn nguyên mạch đóng vai tṛ
nổi bật hơn. Bằng khám xét lâm sàng và xét
nghiệm h́nh ảnh học thần kinh, bệnh nhân
với sa sút trí tuệ căn nguyên mạch đă
được loại trừ khỏi nghiên cứu thăm
ḍ của chúng tôi nhưng đó chỉ là trên in-vivo, c̣n
trên in-vitro chưa hẳn là như vậy. Khả năng
cuối cùng có thể biện minh cho sự khác biệt
trong nghiên cứu hiện tại với nghiên cứu
của Kehoe và CS, đó là một allele nhậy cảm
với AD đă được định vị ở
một vị trí nào khác, có thể ngay trên gene ACE hoặc
cũng có thể trên một gene ở kế bên.
Các nghiên cứu chứng minh
kiểu gene D/D là một yếu tố nguy cơ của
đột quỵ phù hợp với khám phá của chúng tôi
về ảnh hưởng bất lợi của allele D trên
nguy cơ của AD. Tuy nhiên, có điều chưa rơ ràng là
tại sao phải là thể đồng hợp tử
của allele D mới làm tăng nguy cơ của đột
quỵ, trong khi 1 hoặc 2 allele D đă làm tăng nguy cơ
mắc AD. Nếu cho rằng D/D chỉ làm tăng nguy cơ
đột quỵ ở người trẻ hơn 60
tuổi, theo như nghiên cứu của Doi và CS, th́ có
thể giải thích sự vắng mặt của mối tương
quan AD – ACE ở nhóm bệnh khởi phát sớm trong nghiên
cứu của chúng tôi (£ 65 tuổi) là hệ quả
của nhiều tổn thương cùng được gây
ra bởi allele D (ví dụ: phối hợp với
bệnh mạch máu năo) v́ vậy đă làm sai lệch
kết quả nghiên cứu này. Dựa trên lư luận
đó, có thể giải thích sở dĩ allele D làm tăng
nguy cơ mắc AD là bởi nó làm gia tăng các ổ
nhồi máu ở các mạch máu năo nhỏ mà ảnh hưởng
có tính tích lũy dần dần của nó sẽ không
biểu hiện rơ ràng cho đến khoảng 65 tuổi.
Mặc dù mối liên quan về mặt sinh hóa giữa AD và
ACE không rơ ràng, nhưng quan sát cho thấy mức ACE trong
huyết tương là thấp nhất ở người có
kiểu gene I/I và cao nhất ở người có kiểu
gene D/D gợi ư rằng một nồng độ cao
của ACE trong máu có thể thúc đẩy sự phát
triển của AD. Cuối cùng cần phải ghi nhớ
một điều rằng ACE là yếu tố ch́a khóa
trong việc sản xuất angiotensin II và phân hủy
bradykinin vốn là các tác nhân có liên quan đến sinh lư
mạch máu.
Có điều thú vị là ảnh
hưởng bất lợi của allele D lại giảm
đi ở những người trên 70 tuổi trong các
mẫu nghiên cứu của chúng tôi. Thật vậy, so sánh
giữa nhóm chứng ³ 71 tuổi với nhóm chứng 66-70
tuổi thấy rằng tỉ lệ mang thể đồng
hợp tử của D tăng lên >50% ở Moscow và
gần gấp đôi ở Toronto (bảng 2). Tỉ lệ
mang kiểu gene D/D trong nhóm lớn tuổi nhất ở
mỗi dữ liệu của chúng tôi có thể được
sánh với tỉ lệ tương tự trong dân số
sống đến trăm tuổi ở Pháp. Galinsky và CS cũng
nhận thấy sự gia tăng của kiểu gene I/I
ở những người ³ 84 tuổi, nhưng chỉ
ở nam giới. Aûnh hưởng có lợi hiển nhiên
của D/D đối với sự trường thọ có
thể được dùng để giải thích cho
sự suy giảm đột ngột nguy cơ mắc AD khi
mang kiểu gene này ở người >70 tuổi.
Những quan niệm từ thời xa xưa về gene ACE cũng
đă từng gợi ư rằng có thể D/D giúp ích
nhiều cho khả năng chống đỡ trước
bệnh tật hơn là yếu tố nguy cơ gây nên
bệnh. Chính v́ lẽ đó, mối liên quan ACE – AD có
thể là một ví dụ về ảnh hưởng đa
kiểu h́nh phụ thuộc tuổi và giới tính của
một gene đối với khả năng mắc bệnh
và đề kháng lại bệnh.
Kết
luận:
Nghiên cứu của chúng tôi
gợi ư rằng ApoE và ACE có thể là các yếu tố
nguy cơ độc lập đối với AD khởi phát
trễ. Tuy nhiên, vai tṛ của ACE cần được
khẳng định chắc chắn hơn bằng các
mẫu độc lập mà trong đó có thể tách
biệt rạch ṛi ảnh hưởng của đồng
yếu tố mạch máu.
