
CHẨN ĐOÁN SA SÚT TRÍ
TUỆ DO THỂ LEWY
Fernado
Pompeu, John H Growdon: diagnosing dementia with Lewy bodies. Editorial in Arch.
Neurol., Vol 59. Jan 2002:29-30.
Chữ
viết tắt:
AD
– bệnh Alzheimer (Alzheimer disease).
DLB
– sa sút trí tuệ do thể Lewy (dementia with Lewy bodies)
PD
– bệnh Parkinson (Parkinson disease).
Tất
cả mọi người đều đă nhât trí
rằng thể vùi Lewy (Lewy body inclusion) ở trong các tế
bào thần kinh của chất đen (substantia nigra) là
dấu hiệu chắc chắn về bệnh lư học
tổ chức cho bệnh Parkinson (Parkinson disease – PD) tự
phát. Mặc dù trong đa số trường hợp PD
tự phát, có thể thấy các thể Lewy rải rác
ở vỏ năo, nhưng măi cho tvới năm 1984 Kosaka và
cộng sự mới liên
kết sự có mặt của thể Lewy ở vỏ năo
với sa sút trí tuệ. Do vậy việc coi sa sút trí
tuệ do thể Lewy (dementia with Lewy bodies – DLB) là một
bệnh lư thoái hóa thần kinh riêng biệt hiện nay
đă trở thành khái niệm tương đối.
Việc định nghĩa lại bệnh này vẫn đang
c̣n thay đổi, v́ các nhà lâm sàng và các nhà khoa học
về thần kinh học đang t́m cách mô tả các
biểu hiện lâm sàng và bệnh lư học của
bệnh. Nguyên tắc chỉ đạo đồng
thuận (consensus guideline) hiện nay trong chẩn đoán
bệnh lư học bệnh DBL th́ theo sát với công
thức ban đầu của Kosaka về phân bố của
thể Lewy: ở thân năo là bệnh PD tự phát, ở
hệ viền/hệ chuyển tiếp (limbic/transition) và
ở vỏ năo mvới (neocortical) là bệnh DLB. Tuy nhiên
trong các nghiên cứu bệnh lư học gần đây
nhất, đa số các trường hợp bệnh DLB
đều có thể hiện vài thay đổi bệnh lư
học liên kết với bệnh
Alzheimer (Alzheimer disease – AD), đặc biệt là những
mảng lăo suy (senile plaque: vùng hoại tử năo tuổi già,
mảng lăo suy). Trong bài báo công bố trong tạp chí
số này (xem trang 43 của Arch. Neurol., Vol 59. Jan 2002), Lopez và
cộng sự lại nhấn mạnh tới một phát
hiện ngược lại, đó là đa số các
trờng hợp đă chẩn đoán xác định
bệnh AD đều có chứa thể Lewy đủ để
có chẩn đoán thứ hai về bệnh DLB. Trong 19 trường
hợp đă xác định bệnh AD về mặt
bệnh lư học thần kinh (neuropathologically), th́ có
tới 10 trường hợp có thể Lewy. Phát hiện này
tiếp nối thêm cho các báo cáo trước đây
về sự kiện là bệnh nhân bị bệnh AD th́ thường
có những biến đổi bệnh lư học kiểu
của bệnh PD, bao gồm thể Lewy ở vùng chất
đen của năo. Theo Lopez và cộng sự, việc cũng
có một lượng lớn thể Lewy ở phía trên
của thân năo trong bệnh AD, được thấy
nhiều hơn so với những báo cáo trước đây,
gợi ư là cần phải đánh giá lại, cả
về tiêu chuẩn bệnh lư học, lẫn tiêu chuẩn
lâm sàng của chẩn đoán DLB. Nhuộm màu bằng
miễn dịch với kháng thể chống a-synuclein
(tốt hơn là bằng ubiquitin như
bản nguyên tắc chỉ đạo đă công
bố) đă trở thành phương pháp được
lựa chọn để xác định thể Lewy trong lát
cắt tổ chức học. Tuy nhiên thậm chí với tiêu
chuẩn hiện hành, nghiên cứu này cũng cho thấy các
thầy thuốc lâm sàng vẫn ở thế bất
lợi so với các nhà bệnh lư học, khi liên quan
tới việc phát hiện thể Lewy ở vỏ năo; khó
khăn trong việc xác định các dấu hiệu và
triệu chứng lâm sàng cho thể Lewy vẫn tiếp
tục là thách thức
đối với các nhà nghiên cứu. Hội đồng
nghiên cứu về bệnh sa sút trí tuệ do thể Lewy
đă lựa chọn thuật ngữ DLB, v́ thuật
ngữ này chỉ đơn thuần mô tả sự
hiện diện và phân bố của thể Lewy, mà không
chỉ rơ vai tṛ của nó trong biểu hiện lâm sàng. Cách
này thuận lợi cho các nhà bệnh lư học, là
những người vốn dùng cách mô tả tương
tự để kiểm tra năo của bệnh nhân bị
AD và khi xác định khả năng có thể có của
AD, dựa trên bản chất và độ lớn của
tổn thương. Tuy nhiên quan niệm này lại là thách
thức đối với các thầy thuốc lâm sàng, v́
họ là những người phải t́m kiếm một
chẩn đoán rơ ràng không mập mờ. Xét từ phương
diện lâm sàng, bệnh DLB phải được phân
biệt với bệnh PD tự phát và với bệnh sa sút
trí tuệ AD. Sự suy giảm về nhận thức, các
triệu chứng tâm thần, và giật cơ (myoclonus) th́
thường gặp trong DLB hơn so với trong PD tự phát.
Nhưng bệnh nhân bị PD th́ hay có run nhiều hơn và
đáp ứng với levodopa tốt hơn; chậm vận
động và cứng đờ (rigidity) biểu hiện như
nhau ở cả 2 bệnh. Các nghiên cứu về bệnh lư
học ủng hộ quan điểm cho rằng DLB là
một thực thể riêng biệt, và không phải
đơn thuần chỉ là dạng nặng hơn của
PD tự phát. Thứ nhất, không có mối liên quan nào
giữa số lượng thể Lewy ở trong chất
đen và số lượng của thể Lewy ở vỏ
năo. Thứ hai, bệnh nhân bị PD mà có sa sút trí
tuệ, th́ có vẻ như là v́ có các mảng và các
mớ rối sợi thần kinh (neurofibrillary tangles)
chồng lấp lên, đặc trưng cho bệnh AD, hơn
là do chỉ đơn độc có các thể Lewy vỏ năo.
Từ
quan điểm về sa sút trí tuệ, bản nguyên
tắc chỉ đạo đồng thuận nhấn
mạnh các dấu hiệu đặc trưng của DLB,
những dấu hiệu này vốn ít gặp trong các t́nh
trạng sa sút trí tuệ khác, kiểu như AD. Thêm vào
với sa sút trí tuệ, các dấu hiệu chẩn đoán
cốt lơi của DLB là t́nh trạng tâm thần giao động,
các ảo giác thị giác, và các triệu chứng vận
động giống parkinson. Khi sử dụng bản nguyên
tắc chỉ đạo này, độ nhậy chẩn
đoán giao động từ 53% tới 83%, với độ
đặc hiệu từ 83% tới 95%. Độ nhậy
chẩn đoán 30% mà Lopez và cộng sự báo cáo trợ
giúp cho lời kêu gọi của họ về việc làm hoàn thiện
các tiêu chuẩn lâm sàng trong chẩn đoán DLB. Tuy nhiên,
thực tế nhiều trường hợp DLB được
chẩn đoán bằng bệnh lư học thần kinh đă
có đủ tiêu chuẩn lâm sàng của bệnh AD, điều
này có thể hạn chế độ chính xác của
chẩn đoán, bởi v́ các dấu hiệu bệnh lư
học đi kèm đặc hiệu cho AD th́ thường
gặp, và có thể che lấp bất kỳ triệu
chứng lâm sàng nào mà thể Lewy đơn độc có
thể gây ra.
Thách
thức mà cả các nhà khoa học thần kinh
(neuroscientist), các thầy thuốc lâm sàng, và các nhà
bệnh lư học cùng phải đương đầu, là
trả lời câu hỏi kiểu như: mối liên quan
của thể Lewy đối với hiện tượng
thoái hóa thần kinh nói chung và AD nói riêng là như thế
nào ?, và phần trách nhiệm của thể Lewy đối
với sa sút trí tuệ là như thế nào ?. Để
trả lời câu hỏi thứ nhất, Gomez - Tolosa và
cộng sự đă kiểm tra số lượng và phân
bố của thể Lewy ở toàn bộ các cấu trúc
vỏ và dưới vỏ của 25 bệnh nhân DLB. Các tác
giả thấy có khuynh hướng tăng đều đặn
mật độ thể Lewy dọc theo các vùng của năo:
chất đen > vỏ năo nội khứu (entorhinal cortex)
> hồi thể chai > thùy đảo > vỏ năo trán
> hải mă > vỏ năo chẩm. Biểu hiện theo
thứ tự này được thấy nhất quán ở
các trường hợp bệnh DLB, nhưng biểu
hiện ấy lại khác một cách cơ bản so
với kiểu bất thường điển h́nh của
bệnh AD. Mật độ thể Lewy không tương
quan với phân mức độ nặng bệnh AD của
Braak và Braak, và cũng không tương quan với số lượng
các mảng viêm thần kinh (neuritic plaque); hơn nữa, phân
bố của những biến đổi trong bệnh AD cũng
không biểu thị mối tương quan theo vùng với
thể Lewy. Tóm lại, các số liệu này giúp phân
biệt DLB như là bệnh lư tách biệt với bệnh
AD, dù rằng việc hai bệnh rất hay xuất hiện
song hành gợi ư là chúng có thể cùng có chung những
yếu tố nguy cơ hoặc có những cơ chế phân
tử tương tự nhau trong kết tập protein
(protein aggregation). Cuối cùng, đậm độ tổng
thể của thể Lewy có tương quan yếu với
thời gian mắc bệnh, nhưng không có chứng cứ
về tương quan giữa triệu chứng lâm sàng
đặc hiệu và mật độ thể Lewy trong
những vùng năo đặc hiệu.
Để
khám phá vai tṛ của thể Lewy trong sa sút trí tuệ, và
so sánh mối liên hệ giữa sa sút trí tuệ và các
dấu hiệu bệnh lư học thần kinh của DLB
với của AD, Gomez-Isla và cộng sự đă đánh
giá biểu hiện lâm sàng của những trường
hợp bệnh DLB vốn được chẩn đoán
dựa theo tiêu chuẩn tổ hợp (consortium criteria) và
đă được xác chẩn nhờ tử thiết. Các
tác giả nghiên cứu 81 người bị AD, 7 người
bị DLB “đơn thuần” và 13 bị DLB nhưng cũng
có đủ cả tiêu chuẩn chẩn đoán quyết
định AD. Các tác giả phát hiện ra rằng cả
3 nhóm bị sa sút trí tuệ này đều giống nhau
về tuổi khởi phát sa sút trí tuệ trung b́nh và
về thời gian sống trung b́nh (tính từ khi bắt
đầu có triệu chứng sa sút trí tuệ cho tới
khi chết). Hơn thế nữa, cả 3 nhóm đều có
mức độ suy giảm nhận thức tổng
thể (global cognitive impairment) tương tự nhau trong
lần làm khám xét cơ bản và trong tốc độ
suy giảm nhận thức (so sánh hàng năm). Tuy nhiên
sự suy giảm chức năng, đo bằng thang điểm
hoạt động sống hàng ngày (activities of daily living
scale), ở 2 nhóm có thể Lewy th́ nhanh hơn là ở nhóm
AD không có thể Lewy. Những phát hiện này chứng minh
rằng thể Lewy một ḿnh nó có thể gây bệnh lư
sa sút trí tuệ với tốc độ suy giảm
nhận thức tương đương với AD kinh
điển. Những phát hiện này cũng giúp giải thích
khó khăn mà Lopez và cộng sự đă báo cáo khi làm
chẩn đoán DLB cho người bệnh c̣n sống.
Những tương đồng về lâm sàng đó c̣n
tạo tiếp câu hỏi về vai tṛ của
thể Lewy đối với sa sút trí tuệ. Câu
trả lời hiển nhiên nhất, cho rằng thể Lewy
là chỉ điểm của t́nh trạng chết neuron, có
vẻ như là không đúng. Bằng cách dùng kỹ
thuật đếm logic lập thể (stereologic counting
technique) để kiểm tra khu vực khe thái dương
trên, Gomez-Isla và cộng sự phát hiện số lượng
neuron nói chung c̣n được bảo tồn ở 7
bộ năo DLB không có bất thường AD quá mức,
trong khi mất tới 50% neuron trong AD và 40% trong DLB có kèm AD.
Các dữ liệu này đề cao sự khác biệt quan
trọng về bệnh lư học thần kinh giữa DLB và
AD. Hơn nữa, những phát hiện này chứng minh
rằng sa sút trí tuệ trong DLB không phải do tiêu hủy
neuron lan tỏa ở những vùng bị ảnh hưởng
của thể Lewy.
Nếu
như không do mất neuron, th́ c̣n yếu tố nào nữa
liên kết với thể Lewy gây ra sa sút trí tuệ ? Hay nói
cách khác, thể Lewy đóng vai tṛ như thế nào trong toàn
bộ sự sa sút trí tuệ ? Chúng ta vẫn c̣n phải
chờ câu trả lời, nhưng những lư thuyết
đương thời nhấn mạnh tới suy giảm
chức năng tế bào là do kết tập protein, do đứt
gẫy kết nối synap, và do thay đổi
hóa thần kinh (neurochemical) mức tới hạn, bao
gồm cả các biến đổi trong thụ cảm
thể muscarinic và nicotinic. Ngày nay người ta thừa
nhận là phương pháp nhuộm mầu miễn
dịch bằng kháng thể chống a-synuclein
thể Lewy ở vỏ năo cũng như ở chất
đen sẽ giúp nhiều cho chẩn đoán bệnh lư
học. Tiến bộ này, cùng với vệc thừa
nhận là parkin và torsinA cùng tồn tại với a-synuclein
trong thể Lewy, sẽ rất có thể tạo ra những
cách tiếp cận mới về di truyền và phân tử
để nghiên cứu trạng thái này.

Từ
khóa: sa sut tri tue , the Lewy , dementia , Parkinson ,
benh the Lewy , dementia with Lewy bodies , Lewy body . Alzheimer .
