|
|
VITAMIN E VÀ SỰ SUY GIẢM NHẬN THỨC (suy giảm trí tuệ) Ở NGƯỜI GIÀMartha Clare Morris, Denis A. Evans, Julia L, Bienias, Christine C Tangney, Robert S. Wilson: Vitamin E and Cognitive decline in older persons. Arch Neurol/Vol 59, July 2002: 1125-1132. Cơ sở: các nghiên cứu trước đây nêu khả năng là các chất chống oxy hóa (antioxidants) có tác dụng ngăn ngừa những bệnh thoái hóa thần kinh (neurodegenerative diseases). Mục đích: kiểm tra xem liệu việc dùng thêm các chất dinh dưỡng có chống oxy hóa (antioxidants), bao gồm vitamin E, vitamin C, và carotene, có liên quan với việc giảm bớt tốc độ suy giảm nhận thức (trí tuệ) ở người già hay không. Thiết kế: nghiên cứu theo chiều dọc trên quần thể (longitudinal population-based study), thực hiện từ 17 tháng chín năm 1993 tới 20 tháng mười năm 2000, với thời gian theo dơi trung b́nh là 3,2 năm. Bệnh nhân: 2889 người dân đang sinh sống trong cộng đồng b́nh thường, tuổi từ 65 tới 102 tuổi, đă điền đầy đủ vào bản điều tra thường xuyên về chế độ ăn, trong suốt 18 tháng sau thời điểm khởi đầu nghiên cứu. Phương pháp đo lường chính: mức biến đổi nhận thức (thay đổi trí tuệ - cognitive changes) được đo lường bằng 4 test là East Boston memory test để kiểm tra trí nhớ tức thời và trí nhớ tŕ hoăn, Mini-mental state examination, và Symbol digit modalities test. Kiểm tra vào thời điểm khởi đầu nghiên cứu và 3 năm cho tất cả những người tham gia nghiên cứu, và 6 tháng cho 288 người tham gia nghiên cứu được chọn lựa ngẫu nhiên. Kết quả: chúng tôi sử dụng các mẫu tác dụng ngẫu nhiên (random - effect models) để đánh giá tác dụng dinh dưỡng trên những thay đổi về điểm số trung b́nh cả 4 test của từng cá thể. Điểm số nhận thức (trí tuệ) bị suy giảm trung b́nh là 5,0 x 10-2 đơn vị chuẩn hóa trong 1 năm. Ở phân nhóm 1/5 (tổng số nghiên cứu được chia làm 5 phần) những người dùng vitamin E nhiều th́ có tốc độ suy giảm chậm lại 36% (-4,3 x 10-2 đơn vị chuẩn hóa trong 1 năm) so với phân nhóm những người ăn ít vitamin E (-6,7 x 10-2 đơn vị chuẩn hóa trong 1 năm) (P=0,05), trong mẫu đă điều chỉnh về tuổi, chủng tộc, giới tính, tŕnh độ văn hóa, mức độ hút thuốc lá, uống rượu, tổng năng lượng theo calorie thu nạp, và tổng lượng vitamin C, carotene và vitamin A. Chúng tôi cũng phát hiện thấy nếu dùng nhiều vitamin E từ thực phẩm th́ tốc độ suy giảm cũng chậm đi (P0,03 đối với xu hướng chậm đi). Có rất ít bằng chứng liên quan với mức dùng vitamin C hoặc carotene. Kết luận: việc dùng thêm vitamin E, từ thức ăn hay từ thuốc phụ thêm, có liên quan với sự suy giảm nhận thức do tuổi tác ít hơn. Các cơ chế oxy hóa có thể đóng một vai tṛ quan trọng trong các bệnh lư thoái hóa thần kinh, kiểu như bệnh Alzjeimer và Parkinson, những quá tŕnh tế bào có liên quan với tuổi. Năo đặc biệt nhậy cảm dễ bị tổn thương do các gốc tự do, v́ tốc độ tiêu thụ oxy của nó cao, v́ nó có nhiều các màng lipid dễ bị peroxid hóa, và v́ nó có tương đối ít các men chống oxy hóa (antioxidant enzymes). Phản ứng oxy hóa do các dạng oxy hoạt động gây ra được coi là nguyên nhân gây thoái hóa neuron. Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa, bao gồm vitamin E, vitamin C, và carotene chống lại các quá tŕnh đó, nhờ vào việc ức chế peroxid hóa lipid, ức chế sự phát sinh mới các dạng oxy hoạt động, ức chế sự phân ră tế bào (apoptosis) và loạn chức năng ty lạp thể, tổn thương độc tế bào đối với màng tế bào, và tổn thương oxy hóa đối với protein và DNA. Các quá tŕnh oxy hóa và việc tiêu thụ các chất dinh dưỡng chống oxy hóa (antioxidant nutrients) cũng có thể ảnh hưởng lên tốc độ suy giảm nhận thức, nhưng các nghiên cứu dịch tễ học về vấn đề này c̣n hạn chế. Trong 1 thử nghiệm lâm sàng với những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, việc bổ xung thêm vitamin E đă làm chậm quá tŕnh phải nhập viện dưỡng lăo, nhưng không có ảnh hưởng lên sự suy giảm nhận thức. Người ta vẫn c̣n chưa được biết liệu việc dùng thêm các chất chống oxy hóa có thể ngăn ngừa sự suy giảm nhận thức sớm trong tiến triển bệnh hay không. Trong nghiên cứu này, chúng tôi mô tả sự liên quan giữa các chất chống oxy hóa được ăn thêm và sự thay đổi về chức năng nhận thức (trí tuệ) trong 3 năm ở một quần thể dân cư lớn gồm 2 chủng tộc (da trắng và da đen). BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁPQuần thể:Những người tham gia nghiên cứu theo chiều dọc thuộc 1 cộng đồng dân cư ở nam Chicago thuộc chương tŕnh lăo hóa và sức khoẻ Chicago (Chicago Health and aging Project - CHAP). Từ 17 tháng chín năm 1993 tới 5 tháng 5 năm 1997 chúng tôi thực hiện việc điều tra dân số, tiếp theo là việc phỏng vấn tại nhà với những người có tuổi đă chọn lựa, việc phỏng vấn bao gồm cả các test về nhận thức (trí tuệ). Có tất cả là 6158 người từ 65 tuổi trở lên tham dự nghiên cứu (chiếm 79% tổng số người có tuổi thích hợp). Lần phỏng vấn tiếp theo là 3 năm sau cho 4320 người tham gia nghiên cứu (chiếm 87% số người c̣n sống), từ 8 tháng giêng năm 1997, tới 22 tháng hai năm 2000. Thêm vào đó, 729 người được lựa chọn ngẫu nhiên được kiểm tra bằng test nhận thức vào thời điểm 6 tháng sau lần kiểm tra ban đầu. Chế độ ăn được đánh giá bằng bảng thăm ḍ ư kiến về tần suất thức ăn tự chọn lựa của Harvard đă cải biên (modified Harvard self-administered food frequency questionnaire - FFQ), trong đó định lượng mức tiêu thụ hàng ngày trong 1 năm vừa qua, với 139 danh mục thức ăn và thuốc bổ xung vitamin. 4276 người có số liệu về nhận thức ở thời điểm phỏng vấn 3 năm, 4226 (99%) đă điền đủ bảng thăm ḍ. Chúng tôi loại bỏ 140 người không có đủ dữ liệu về dinh dưỡng, bỏ 8 người vốn không phải là da trắng hay da đen. Bởi v́ việc thay đổi chế độ ăn có thể xảy ra vào lúc bắt đầu bệnh lư sa sút trí tuệ, chúng tôi loại đi 1189 người mà FFQ được thực hiện vượt quá thời khoảng đă xác định trước là 2,5 năm sau thời điểm khởi đầu nghiên cứu, c̣n lại 2889 người tham gia nghiên cứu để làm phân tích. FFQ được thực hiện trung b́nh là 18 tháng (SD, ±8) trước thời hạn 3 năm. Lần đánh giá nhận thức thứ ba được làm cho 288 người trong số đó, với 729 test vào lúc 6 tháng. (trong mẫu c̣n lại, 160 đă chết, 134 không hoàn thành hoặc làm sai các dữ liệu chế độ ăn, và 147 vượt quá thời hạn 2,5 năm). So sánh với nhóm đă phân tích, nhóm không được phân tích (36% số đó chết trước thời hạn kiểm tra) là những người già hơn và kém giáo dục hơn, có điểm số nhận thức thấp hơn, và dùng ít vitamin E và C hơn. Các test nhận thức (cognitive tests):Mỗi thời điểm đều thực hiện 4 test: East Boston Memory test, trong đó khảo sát trí nhớ tức thời và trí nhớ tŕ hoăn về một câu chuyện ngắn; dạng đàm thoại của Symbol Digit Modalities test đo lường về tốc độ giác quan (perceptual speed); và Mini-Mental State Examination. Việc phân tích sự suy giảm trên mỗi một cá thể là khó khăn do hiệu ứng sàn và trần (floor and ceiling effect) và các nguồn gốc sai sót đo lường khác. Trong một phân tích yếu tố của các số liệu đă thực hiện trước đây, cả 4 test được thực hiện trên cùng 1 yếu tố duy nhất trong 1 phân tích yếu tố thành phần cơ bản (principal components factor analysis), đă củng cố cho ư tưởng cho rằng đo lường tổng thể (global measure) có thể tổng quát hóa một cách thỏa đáng việc thực hiện trên 4 test; đo lường tổng thể chức năng nhận thức được thực hiện bằng cách tính trung b́nh z score (điểm số z) của 4 test riêng biệt. Chúng tôi cũng sử dụng cách giải quyết này trong các phân tích của ḿnh. Chúng tôi tính z score tại tất cả các thời điểm dựa trên trung b́nh và SD của điểm số các test trên toàn thể quần thể vào lần phỏng vấn khởi điểm, do đó chúng tôi có thể kiểm tra biến thiên của số đo tổng thể (global measure) trong suốt cuộc nghiên cứu. Đánh giá chế độ ăn:Các thành phần dinh dưỡng ăn hàng ngày được tính toán dựa trên việc nhân hàm lượng chất dinh dưỡng của món ăn (từ cơ sở dữ liệu dinh dưỡng của Harvard) với số lần ăn, và bao gồm tất cả các món ăn. Tất cả các chất dinh dưỡng được tính điều chỉa ra calorie bằng phương pháp hồi qui dư (regression - residual method). Trong nghiên cứu nhằm hợp chuẩn (validation study) gồm 232 người tham gia nghiên cứu được lựa chọn ngẩu nhiên, hệ số tương quan Pearson (Pearson product moment correlation coefficient) giữa lượng dinh dưỡng ăn vào đo bằng FFQ và trung b́nh của nhắc lặp lại 24 giờ (repeated 24 - hour recalls) là như sau: r = 0,67 đối với tổng lượng vitamin E (r=0,41 không có bổ xung thuốc), và r=0,60 đối với tổng lượng vitamin C (r=0,46 không có bổ xung thuốc). Tương quan giữa tổng lượng ăn uống vitamin E từ FFQ và mức huyết thanh của alpha - tocopherol trong 56 người trong số đó là r=0,63. Với tất cả các tương quan đó P<0,001. Các đồng biến số (covariates):Ghi nhận về chủng tộc và giới tính tại thời điểm điều tra dân số và được thẩm tra lại tại thời điểm phỏng vấn. Câu hỏi về chủng tộc và phân loại được sử dụng theo như cuộc điều tra dân số Hoa kỳ năm 1990. Các đồng biến số không dinh dưỡng khác được ghi nhận tại thời điểm phỏng vấn ban đầu, và bao gồm tuổi, tŕnh độ học vấn, và việc đang hút thuốc lá. Lượng cồn uống hàng ngày (tính ra gram) được tính dựa trên bảng câu hỏi riêng biệt trên CHAP FFQ về lượng uống thông thường bia, rượu vang và các thức uống có cồn khác. Phân tích thống kê:Chúng tôi dùng mẫu hiệu ứng ngẫu nhiên (random-effects models) trong phần mềm thống kê SAS để kiểm tra mối liên quan lượng chất dinh dưỡng ăn vào với thay đổi về đo lường toàn thể chức năng nhận thức, ở các thời điểm khởi đầu, 6 tháng và 3 năm. Mẫu hiệu ứng ngẫu nhiên chấp nhận tính biến thiên ngay trong 1 cá thể ở điểm số nhận thức lần đầu tiên và ở độ dốc của biến đổi, .... (tác giả mô tả tỷ mỷ về phép toán thống kê) KẾT QUẢ:(có 3 bảng số liệu và 1 biểu đồ, người dịch không tŕnh bày lại ở đây) Đă thu thập được để phân tích 1594 người da đen và 1295 người da trắng, tuổi từ 65 tới 102 (trung b́nh 73,9), với mức học vấn trung b́nh 12,5 năm (SD= 3,7 năm). Thời gian theo dơi trung b́nh là 3,2 năm (từ 1,8 tới 5,9 năm). Trung vị (median) của điểm số z (z score) tại thởi điểm khởi phát nghiên cứu là 39 x 10-2 đơn vị chuẩn hóa trong 1 năm (standardized units per year - SU/y). Điểm số nhận thức suy giảm trung b́nh là 5,0 x 10-2 SU/y; tuy nhiên nhiều người (39%) không có thay đổi ǵ, hoặc thậm chí không có tiến bộ ǵ về điểm số. Việc dùng nhiều vitamin E hơn (từ thức ăn hoặc từ thuốc bổ xung) liên kết với một mức độ biến đổi về điểm số nhận thức trong 1 năm ít hơn. Trong mẫu điều chỉnh theo tuổi, điểm số của những người ở phân nhóm (chia 5 phân nhóm) dùng vitamin E ít nhất th́ suy giảm 6,5 x 10-2 SU/y. Suy giảm nhanh ở phân nhóm thứ năm này là có ư nghĩa thống kê, nếu dùng test cho khuyunh hướng tuyến tính (test for linear trend). Suy giảm nhanh ở các phân nhóm trên có thay đổi chút ít sau khi điều chỉnh về tuổi, chủng tộc, giới tính, tŕnh độ học vấn, hút thuốc, lượng tiêu thụ cồn, và lượng thu nạp calorie (năng lượng) tổng thể. Điều chỉnh tiếp theo về lượng vitamin A, carotene và vitamin C ít ảnh hưởng lên kết quả. Tốc độ suy giảm của những cá thể ở phân nhóm dùng nhiều vitamin E nhất (-4,3 x 10-2 SU/y) th́ thấp hơn 2,4x 10-2 SU/y khi so với những người ở trong phân nhóm dùng ít vitamin E nhất (-6,7x 10-2 SU/y), là mức giảm 36% có ư nghĩa thống kê (P= 0,05). Sự khác biệt về tốc độ suy giảm của các phân nhóm (cũng chia 5 phân nhóm, từ mức dùng ít nhất tới mức dùng nhiều nhất) dùng vitamin C th́ ít hơn so với khác biệt của các phân nhóm dùng vitamin E, và không có ư nghĩa khi điều chỉnh về tuổi và các mẫu đa biến (multivariables models). Có bằng chứng yếu hoặc không có bằng chứng về mối liên quan giữa lượng caroten ăn vào và mức suy giảm nhận thức. Trong mẫu đa biến, khác biệt về tốc độ suy giảm nhận thức (x 10-2 SU/y) từ nhóm dùng carotene ít nhất cho tới phân nhóm dùng carotene nhiều nhất là: 0,0, 0,3, 1,1, 0,7, và 0,8 (P= 0,77 cho khuynh hướng - for trend). Chúng tôi phát hiện ra liên quan tuyến tính đảo ngược với mức độ suy giảm nhận thức trong các phân tích có điều chỉnh theo tuổi, khi chỉ tính tới lượng vitamin E nhận được từ thức ăn. Trong mẫu này, tốc độ suy giảm chậm lại rơ tới 2,0x 10-2 SU/y ở phân nhóm thứ tư (dùng ít vitamin E ở mức áp chót), và tới 2,1x 10-2 SU/y ở phân nhóm thứ năm (dùng ít vitamin E nhất), khi so sánh với phân nhóm thứ nhất. Sự khác biệt về tốc độ đó không có thay đổi ǵ rơ rệt khi điều chỉnh theo các yếu tố nguy cơ khác trong mẫu đa biến, và tốc độ đó chỉ giảm nhẹ khi điều chỉnh bổ xung bằng các chất dinh dưỡng chống oxy hóa khác. Person ở những phân nhóm phía trên (dùng nhiều hơn) th́ có điểm số khởi đầu được dự đoán cao hơn, khi so với phân nhóm dưới cùng. Thêm vào đó, tốc độ thay đổi về điểm số trong 1 năm ở phân nhóm thứ tư và thứ năm th́ nhỏ hơn ở phân nhóm thứ nhất. Tốc độ thay đổi (x 10-2) từ phân nhóm 1 tới phân nhóm 5 là như sau: -6,7, -5,1, -6,5, -4,6, và -4,3 (P= 0,02 cho khuyunh hướng - for trend). Hiệu quả pḥng ngừa vẫn được duy tŕ khi chúng tôi điều chỉnh theo việc uống thêm đa sinh tố và vitamin E trong mẫu đa biến (P= 0,04 for trend); Tuy nhiên, cả đa sinh tố lẫn vitamin E uống thêm đều không liên quan ǵ với thay đổi nhận thức (trí tuệ). Việc khảo cứu tiếp đă phát hiện ra là những người uống thêm vitamin E th́ suy giảm nhận thức thấp hơn một cách có ư nghĩa khi so với những người không dùng mà vốn cũng có ít vitamin E từ thức ăn, nhưng không có khác biệt ǵ với những người không dùng thêm vitamin E nhưng vốn ăn những thứ có nhiều vitamin E. Không có mối liên quan giữa mức ăn vitamin C từ thức ăn với thay đổi về chức năng nhận thức. Tuy nhiên, việc uống thêm vitamin C cũng có liên quan một cách có ư nghĩa với độ suy giảm nhận thức ít hơn, là 1,8x 10-2 SU/y (P= 0,03), trong một mẫu đa biến có điều chỉnh cho các phân nhóm (mỗi nhóm chiếm 1/5 tổng số) dùng vitamin C từ thức ăn và nhờ uống bổ xung thêm. Chúng tôi không t́m thấy sự tương tác giữa việc uống thêm vitamin E và vitamin C trong mẫu đa biến, mặc dù chúng tôi không có nhiều khả năng để kiểm tra điều này một cách đầy đủ. Có một rắc rối trong việc phân biệt hiệu quả của việc uống thêm vitamin E với việc có vitamin E nhờ thức ăn. Những người có uống thêm vitamin E có khuyunh hướng là những người có tŕnh độ văn hóa cao hơn, và họ cũng hay ăn nhiều chất dinh dưỡng có tính chống oxy hóa (antioxidant nutrients) hơn. Những người thuộc phân nhóm ăn thức ăn có ít vitamin E nhất th́ thường uống nhiều thức uống chứa cồn hơn và hay hút thuốc lá. Người da đen có khuynh hướng ăn thực phẩm chứa nhiều vitamin E hơn, nhưng lại ít uống thêm vitamin E hoặc các đa sinh tố hơn. Tương quan giữa mức thay đổi nhận thức và tổng lượng vitamin E được ăn hoặc uống thêm không có thay đổi đáng kể trong các mẫu đa biến phân lập (separate multivariable models) được điều chỉnh theo mức độ ăn uống tất cả chất béo tính chung hay từng loại chất béo riêng biệt (không băo ḥa đa trị, không băo ḥa đơn trị, và băo ḥa). Chúng tôi cũng đă t́m kiếm xem liệu tổng lượng các chất dinh dưỡng chống oxy hóa được ăn uống có khác nhau tùy theo tuổi, giới tính, chủng tộc, học vấn, hút thuốc, mức uống rượu bia, và các thành phần dinh dưỡng đă được phân tích, hay không. Chứng cứ duy nhất là có tốc độ suy giảm nhận thức thấp ở mức chỉ có ư nghĩa ranh giới giữa những người dùng nhiều vitamin E có hút thuốc và không hút thuốc. Khi chúng tôi phân tích lại các số liệu, loại bỏ những người mà khảo sát lúc ban đầu đă có suy giảm nhận thức (điểm số của Mini-Mental State Examination <25), rồi so sánh những người trong phân nhóm dùng ít vitamin E nhất, với phân nhóm những người dùng nhiều vitamin E nhất, th́ tương quan với tổng lượng vitamin E trở nên mạnh hơn, so sánh này đă điều chỉnh theo các chất dinh dưỡng chống oxy hóa khác. Trong một phân tích lại mà không hạn chế thời gian hoàn thành FFQ (n= 4072), th́ vitamin E có liên kết với khuynh hướng dự pḥng, nhưng không có ư nghĩa thống kê. BÀN LUẬN:Dùng thêm vitamin E từ nguồn thức ăn và từ thuốc uống bổ sung liên kết với chậm tốc độ suy giảm nhận thức ở quần thể người già 2 chủng tộc này. Ngược lại, không có mối liên kết nào giữa suy giảm trí tuệ và dùng thêm carotene, và chứng cứ liên kết với vitamin C th́ hạn chế. Hiệu quả lên suy giảm trí tuệ của việc dùng thêm vitamin E (toàn bộ hay chỉ từ thức ăn) tương đương với việc làm trẻ hóa lại 8 đến 9 tuổi. Mức trung vị (median level) dùng thêm vitamin E ở phân nhóm dùng ít nhất (6,8 IU/ngày) của quần thể CHAP cũng vẫn c̣n cao hơn những nghiên cứu trước đây ở Hoa Kỳ. Điêu đó có lẽ chứng minh cho ta thấy, nếu tăng lượng vitamin E bổ sung, ít là ở mức khuyến cáo 18-22 IU/ngày, th́ có thể có những ích lợi quan trọng cho sức khoẻ cộng đồng. Chúng tôi đă có thể phát hiện được những thay đổi nhỏ trong chức năng nhận thức trong quần thể, là nhờ có rất nhiều người tham gia nghiên cứu. Thêm nữa, việc đo lường kết hợp 4 test nhận thức, và tới 3 thời điểm đánh giá nhận thức, đă cung cấp một phương pháp đo lường đáng tin cậy. Việc đo lường ở nhiều thời điểm cho phép ước lượng được những biến đổi của bản thân 1 cá thể về nhận thức, do vậy làm giảm những nhần lẫn tiềm tàng khi so sánh khác biệt giữa 2 cá thể. Việc có môt số lượng người tham gia nghiên cứu ít hơn ở lần đo lường thứ 3 có thể làm cho kết quả kém chính xác hơn, nhưngnhưng lại tạo ra kết quả đánh giá không bị thiên vị thành kiến về tốc độ thay đổi nhận thức. Thực tế là có mối liên kết đối với các nguồn có thêm vitamin E, từ thức ăn và từ thuốc uống bổ sung, điều đó đă củng cố thêm suy luận về việc vitamin E làm chậm suy giảm trí tuệ. tuy nhiên, nghiên cứu đă phải loại bỏ ra khá nhiều đối tượng, và việc đánh giá chế độ ăn ở khoảng thời gian giữa các lần đo lường trí tuệ (nhận thức) làm cho việc diễn giải về quan hệ nhân quả trở nên ít ư nghĩa. Chúng tôi loại bỏ những người mà việc đánh giá chế độ ăn diễn ra sau 2,5 năm sau lần kiểm tra ban đầu, v́ thói quen ăn uống có thể thay đổi, và các loại bệnh có gắn với sa sút trí tuệ. Khuynh hướng thay đổi thói quen ăn uốg như vậy có thể giải thích hiệu quả bị yếu đi của vitamin E, khi phân tích trên tất cả những người tham gia nghiên cứu, mặc dù cũng có thể là hiệu quả thực sự th́ nhỏ hơn so với hiệu quả thấy được khi loại bỏ những đối tượng được đánh giá về chế độ ăn theo kiểu nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional). Chúng tôi cũng phát hiện ra một thay đổi thường t́nh trong thói quan thêm vitamin E, khi nghiên cứu c̣n đang tiếp diễn: 9% những đối tượng hoàn thành FFQ năm 1994 có uống thêm vitamin E, trong khi 19% những người hoàn thành FFQ năm 1997 dùng thêm vitamin E. Việc mới dùng bổ xung như thế có thể làm yếu mối tương quan, nếu như những người có vấn đề về nhận thức (trí tuệ) uống hay dùng tăng thêm vitamin E. Việc theo dơi tiếp quần thể được nghiên cứu sẽ giúp giải thích rơ hơn về mối tương quan giữa độ sa sút nhận thức với lượng vitamin E uống bổ xung thêm. Nhiều bằng chứng dịch tễ học có được trong bài báo này là rút ra từ nghiên cứu cắt ngang (cross - sectional study). Trong 6 nghiên cứu cắt ngang, trong đó có kiểm tra hàm lượng vitamin E trong huyết thanh hoặc huyết tương, có 5 nghiên cứu phát hiện thấy tác dụng pḥng ngừa chống sa sút trí tuệ rơ rệt. Có 1 nghiên cứu cắt ngang về chế ăn có vitamin E đă không t́m thấy mối liện quan nào. Các nghiên cứu cắt ngang về vitamin C cho kết quả không rơ ràng, trong đó có một số báo cáo cho biết vitamin C có tác dụng pḥng chống suy giảm chức năng nhận thức, c̣n một số nghiên cứu khác th́ báo cáo là không có liên quan ǵ. Những phát hiện không nhất quán như vậy cũng thấy với những nghiên cứu về beta carotene, trong đó có 5 trong 8 nghiên cứu thấy có tác dụng pḥng chống. Một vài nghiên cứu về dịch tễ kiểm chứng về mối liên kết giữa ăn thức ăn chứa chất chống oxy hóa (antioxidant nutrients) với mức độ suy giảm nhận thức hoặc sa sút trí tuệ. Một nghiên cứu trên 342 người đàn ông trong 3 năm thấy không có liên quan ǵ với sự suy giảm nhận thức. Hai nghiên cứu khác, nghiên cứu về điểm số nhận thức liên quan với nồng độ chất chống oxi hóa trong huyết thanh, và từ thức ăn. Một trong 2 nghiên cứu đó thấy có tác dụng dự pḥng của vitamin E, và một thấy tác dụng dự pḥng của beta carotene và vitamin C. Tất cả các nghiên cứu này đều có cỡ mẫu nhỏ và đều có vẻ là ít quan tâm đến phát hiện tác dụng của dinh dưỡng lên biến đổi nhỏ của trí tụê. Có 2 nghiên cứu tiền cứu (prospective studies) báo cáo về tác dụng dự pḥng của việc bổ xung các vitamin chống oxi hóa với sa sút trí tuệ rải rác hiếm gặp (incident dementia) hay sa sút trí tuệ thông thường (prevalent dementia). Trong nghiên cứu 633 cư dân ở Đông Boston có 91 trường hợp Alzheimer, thấy trong 38 người có dùng thêm vitamin C hoặc E th́ không có ai bị bệnh sau hơn 4 năm rưỡi; và cũng như công tŕnh này của chúng tôi, không có liên quan ǵ với việc dùng đa sinh tố. Có 1 nghiên cứu khác lại tỷ lệ sa sút trí tuệ thấp ở những người đàn ông có dùng thêm vitamin E và C ngay từ lúc mới bắt đầu nghiên cứu. Trên mẫu đă lượng giá bằng lâm sàng của quần thể CHAP, chúng tôi phát hiện thấy việc dùng thêm vitamin E từ thức ăn có liên kết với việc giảm nguy cơ mắc Alzheimer, và tác dụng dự pḥng có vẻ như chỉ xuất hiện trên những cá thể có APOE-e4 âm tính. V́ kiểu di truyền APOE chỉ có thể có trong những người tham gia lượng giá lâm sàng, chúng tôi không thể kiểm tra được sự tương tác giữa APOE-e4 và vitamin E trên sự suy giảm nhận thức trong quần thể. Bản báo cáo này cung cấp một bằng chứng là dùng thêm vitamin E liều cao từ thức ăn hoặc thuốc uống có liên kết với sự giảm nguy cơ bị sa sút nhận thức. Mối liên hệ này đượ các nghiên cứu trên động vật, trong đó loài gặm nhấm được nuôi dưỡng bằng thức ăn có hàm lượng vitamin E cao th́ biểu lộ chức năng nhận thức khá hơn khi lớn lên, với ít sai sót hơn khi thực hiện test t́m đường trong mê cung, với tốc độ học tập nhanh hơn, và lưu trữ trí nhớ nhiều hơn. Để giải thích được quan hệ nhân quả của những khám phá này, cần có thêm bằng chứng bổ xung bởi những nghiên cứu dịch tễ theo chiều dọc và/hoặc những nghiên cứu dự pḥng nguyên phát.
|