
TẠO
HÌNH MẠCH VÀ ĐẶT STENT
TRONG
ĐIỀU TRỊ HẸP ĐỘNG MẠCH TRONG SỌ
Camilo
R. Gomez, Scean C. Orr: Angioplasty and Stenting for primary treatment of
intracranial arterial stenoses. Arch Neurol, Vol 58, Oct 2001: 1687-1690.
Người
dịch: BS Nguyễn Thanh Giang.
Sự
biểu lộ tính hiệu quả của thủ thuật
cắt bỏ áo trong động mạch cảnh trong
việc ngăn ngừa đột quỵ ở những
bệnh nhân có tổn thương hẹp mạch máu do
vữa xơ động mạch mà phương pháp
phẫu thuật có thể sử dụng đã mở ra
một vấn đề là phải làm gì với những
bệnh nhân hoặc những tổn thương vốn không
thích hợp với sự can thiệp bằng phẫu
thuật. Với những thương tổn do huyết
động học một cách có ý nghĩa đã xác định
trong những khoang trong sọ, việc theo dõi một cách
tốt nhất thì không rõ ràng. Theo ý kiến của chúng
tôi điều trị nội mạch (có nghĩa là nong
mạch máu bằng bóng và đặt sten) phải
được xem xét như một lựa chọn ban đầu
cho việc chữa trị các bệnh nhân này.
Quan
điểm của chúng tôI dựa trên các khái niệm sau:
1- Hẹp mạch máu trong sọ không phải là một
tiến trình đồng đều, vị trí của thương
tổn và sự trầm trọng phải được
đưa ra xem xét khi lên kế hoạch điều
trị. 2- Nói chung hẹp động mạch trong sọ
mang một nguy cơ cao có liên quan tới đột
quỵ bất kể đã được điều
trị hay chưa. 3- Các tiến bộ kỹ thuật và
kinh nghiệm của các chuyên gia đã được
đánh giá làm giảm nguy cơ liên quan đến điều
trị nội khoa bệnh nội mạch đối
với những thương tổn hẹp động
mạch trong sọ
Sự khác nhau
của những thương tổn do vữa xơ mạch
máu trong sọ
Từ
trước đến nay, việc rà soát lại các nguyên
nhân có thể chữa trị của đột quỵ
thiếu máu đã tập trung vào sự đánh giá
những phần ngoài sọ của động mạch
cảnh và sau đó là động mạch đốt
sống. Như thế dẫn đến kết quả
từ nhận thức rằng chỉ những phần này
của hệ thống động mạch não là phù
hợp cho việc tái tạo lại thành mạch. Gần
đây hơn, nhờ những kỹ thuật không xâm
lấn tốt hơn như cộng hưởng từ
mạch máu và siêu âm xuyên sọ đã có thể phán xét
cho bệnh nhân những thương tổn vữa xơ
mạch máu trong sọ thường xảy ra và trở nên
rõ rệt hơn. Người ta dự đoán rằng các
chứng hẹp động mạch trong sọ chiếm
khoảng 10% hoặc hơn nữa trong số tất cả
các đột quỵ thiếu máu và khoảng 8% cơn
thiếu máu não tạm thời. Thực vậy, các báo cáo
trước đây để đánh giá qua chụp
mạch của nhiều loại đột quỵ khác nhau
trong các bộ phận dân số đã chỉ ra rằng
những thương tổn hẹp mạch máu trong sọ
có thể tìm thấy ở khoảng 5- 23% trong các ca
bệnh. Sự khác biệt chiếm ưu thế phụ
thuộc vào tiêu chuẩn bệnh nhân được thu
nhận trong các nghiên cứu. Có sự quan tâm không đầy
đủ về bản chất không đồng nhất
của hẹp mạch máu trong sọ, đặc biệt là
khi nó liên quan tới các khác biệt trong bản chất lâm
sàng, sự hình thành triệu chứng, tiên lượng và
sự đáp ứng với điều trị. Các thương
tổn do vữa xơ mạch máu trong sọ thường
nằm ở các vị trí sau: 1- Phần ở gần xương
đá của động mạch cảnh trong đoạn
trong sọ (ICA). 2- Những phần siphon gần xoang hang
của động mạch cảnh trong đoạn trong
sọ 3- Phần yên bướm
(clinoid) của động mạch cảnh trong đoạn
trong sọ 4- Phần thân chính (gốc) của động
mạch não giữa 5- Phần tận cùng của động
mạch đốt sống và động mạch thân
nền
Dữ
liệu đề cập đến sự thường xuyên
là những dữ liệu đã được tìm
thấy không đầy đủ và phần lớn tìm
thấy trong các nghiên cứu cũ nhưng gợi ý
rằng các vị trí thường xuyên nhất bao gồm
đoạn trong sọ của động mạch đốt
sống và động mạch thân nền. Đối
với động mạch cảnh trong đoạn trong
sọ, những chứng hẹp thường được
tìm thấy ở phần gần xoang hang (98,5%) và tiếp
sau đó là phần thuộc xương đá (21,2%) và
phần yên bướm (9%) với những thương
tổn hàng dọc đã được đưa ra trong
một số ít bệnh nhân.
Thực
nghiệm lâm sàng hiện nay ủng hộ quan niệm
rằng không phải tất cả những thương
tổn trong sọ này đều có chung tầm quan
trọng. Bởi vì chúng nằm ở ngoại vi so với
các điểm chính của vùng bàng hệ phù trợ
những nơihẹp của động mạch thân
nền và động mạch não giữa thì ước
chừng tệ hơn hẹp tại đoạn tận cùng
của động mạch não hoặc động mạch
cảnh trong đoạn trong sọ. Phù hợp với
những rủi ro được đặt ra này, tắc
động mạch não giữa thì hầu như liên quan không
nghi ngờ gì nữa với đột quỵ, trong khi
tắc động mạch cảnh trong đưa đến
đột quỵ chỉ 60% các ca bệnh. Mặc dù
sự khác nhau này, Craig và cộng sự thông báo rằng
sau một giai đoạn 30 tháng theo dõi thì chỉ có 1/3
số bệnh nhân với triệu chứng lâm sàng hẹp
động mạch cảnh trong đoạn trong sọ
vẫn còn sống và không bị đột quỵ. Nhóm
nghiên cứu này cũng thông báo rằng 29% bệnh nhân
của họ bị đột quỵ và 1/3 số bệnh
nhân này đã tử vong, sự khám phá được xác
nhận bởi những nhóm nghiên cứu khác. Tiên lượng
của hẹp động mạch thân nền ít được
biết đến. Những ca bệnh đa dạng mang cách
dẫn chứng thông báo báo trong y văn, hậu quả
của tắc động mạch thân nền cấp tính
thì hầu như tử vong là chắc chắn. Hơn
nữa, bệnh nhân với những thương tổn
của động mạch đốt sống đoạn
trong sọ hoặc động mạch thân nền đã
được chỉ ra là có 22,3% nguy cơ đột
quỵ giai đoạn nhẹ kéo dài hơn 1 năm. Vì
thế, nghe có vẻ vô lý để khuyến cáo rằng
chỉ còn cách điều trị cho có hiệu quả
chứng hẹp động mạch trong sọ, ngụ ý
rằng điều trị thì như nhau đối với
tất cả các loại thương tổn. ở các
vị trí đặc biệt của mạch máu não, tình
trạng và mức độ trầm trọng của chúng
phải được đưa ra xem xét.
Một
khía cạnh khác mà không phải hẹp mạch máu trong
sọ là sự nghiêm trọng của huyết động
học, vấn đề này cũng hay gặp trong nguyên nhân
gây bệnh. Mặc dù đương nhiên có khả năng
quy kết cho tắc mạch ở vị trí ngoại vi, nhưng
những thương tổn hẹp mạch máu trong sọ
thường trở nên mang tính chất triệu chứng
do sự ứ đọng, sự tổn hại cho tưới
máu, cuối cùng là tắc ở vùng huyết khối. Ví
dụ, đường kính lòng mạch còn lại là 0,5mm,
đại diện của việc suy giảm 90% đường
kính ở một mạch máu rộng 5mm (điển hình như
là động mạch cảnh trong đoạn ngoài
sọ), chỉ giảm 75% đường kính ở
một mạch máu rộng 2mm (điển hình như là
động mạch náo giữa). Dù sao đi nữa, sự
ứ đọng dòng chảy và chênh lệch áp lực
tạo ra bởi cả 2 thương tổn đều có
thể so sánh được. Do đó, tầm quan trọng
về huyết động học của thương
tổn ở những động mạch trong sọ có
vẻ là sẽ trở thành bằng chứng sớm hơn
và nghiêm trọng hơn. Điểm này giải thích
sự nguy cơ rủi ro cao hơn của đột
quỵ và nhấn mạnh lợi ích tiềm tàng của
việc mở rộng lòng mạch trong điều trị
bệnh nội mạch.
Lịch
sử tự nhiên và tính hiệu quả của điều
trị nội khoa
Thông
tin được trình bày ở đây nêu rõ tầm quan
trọng của việc phân cấp tất cả các thương
tổn do vữa xơ mạch máu trong sọ, đi sâu vào
những triệu chứng khác nhau hay ở phạm trù
thuộc về điều trị, bởi vì một vài cái
trong số chúng được xem như có tiên lượng
xấu hơn. Bệnh sử tự nhiên của những thương
tổn này thì nghèo nàn hơn so với những thương
tổn ngoài sọ ở bệnh nhân, với tỷ lệ
đột quỵ hằng năm xấp xỉ 8% hoặc
nhiều hơn. Không giống với những hẹp
mạch máu ngoài sọ, những thương tổn trong
sọ có khuynh hướng lớn hơn đưa đến
đột quỵ không báo trước và khi những
bệnh nhân này bị cơn thiếu máu não tạm
thời có nguy cơ cao của đột quỵ tiếp
theo trong những giai đoạn ngắn sau đó, thường
là vài tháng.
Không
có những câu trả lời cuối cùng làm thế nào
để điều trị nội khoa tốt nhất
đối với những thương tổn do hẹp
mạch máu trong sọ. Dữ liệu hồi cứu đã
gợi ý rằng việc chống đông kéo dài với
warfarin sodium có hiệu quả hơn với điều
trị chống kết dính tiểu cầu, nhưng kết
luận này từ một nghiên cứu tiến cứu
ngẫu nhiên chưa được kiểm chứng. Thêm vào
đó, việc chống đông kéo dài không phải là phương
thuốc hữu hiệu và bệnh nhân điều trị
với warfarin phải đương đầu với 3-5%
nguy cơ hằng năm biến chứng chảy máu
một cách đáng chú ý trong điều trị. Cuối cùng,
dữ liệu gần đây nhất nêu bật biến
chứng xấu của những bệnh nhân với
những thương tổn vữa xơ mạch máu trong
sọ mà thất bại trong điều trị nội
khoa, tần số đột quỵ ước lượng
cao từ 40-50% trong khoảng vài tuần sau chẩn đoán.
Việc theo dõi tất cả số bệnh nhân này đã
được phục vụ như một sườn
hợp lý hoá sự nghiên cứu và sự cần thiết
của nong mạch máu và đặt sten được xem
như là chiến lược của ngăn ngừa đột
quỵ.
Cuộc
cách mạng của việc điều trị nội
mạch
Nong
các động mạch trong sọ bằng bóng đã
được tiến hành trong nhiều năm. Việc
ứng dụng nó trước hết dựa vào trang
thiết bị và các kỹ thuật đối với các
mạch máu khác (như nong động mạch vành bằng
bóng). Suốt thập kỷ vừa qua, các tiến bộ
kỹ thuật và các kinh nghiệm của các chuyên gia
đã đem đến kết quả làm gia tăng tỷ
lệ thành công và giảm các biến chứng. Bởi vì
dòng chảy ở giữa lòng mạch máu được xác
định bởi bình phương của bán kính lòng
mạch máu đó, những chỗ giãn nhỏ của động
mạch trong sọ do nong bằng bóng có triển vọng
đưa đến kết quả cải thiện đáng
kể về dòng chảy cũng như làm giảm nguy cơ
đột quỵ. Với việc nong mạch máu bằng bóng
trong sọ được thực hiện bởi các bác
sỹ ngoại khoa có kinh nghiệm thì tỷ lệ thành công
đã tăng từ khoảng 60% đến hơn 90%, trong
khi tỷ lệ biến chứng dưới 10%, làm lôi
cuốn hơn việc ứng dụng trong thực hành lâm
sàng. Sự thật, các con số trích dẫn có lẽ
bị ảnh hưởng bởi sự lựa chọn không
tốt, bởi vì nhiều bệnh nhân trong số những
bệnh nhân được thông báo đã "thất
bại" trong điều trị nội khoa. Còn nữa,
dù có các tiến bộ hiện thời trong kỹ
thuật và kinh nghiệm, nhưng có nhiều vấn đề
tiềm ẩn về kỹ thuật trong việc thực
hiện nong mạch máu bằng bóng, bao gồm: nguy cơ
đè nén, sự dội lại do đàn hồi, sự
tắc nghẽn mạch máu cấp tính, tất cả trong
số đó đều cung cấp lợi ích của
việc đặt sten trong sọ.
Những
lợi ích tiềm tàng của việc đặt sten so
với nong mạch máu bằng bóng bao gồm:1- ít nguy cơ
tắc nghẽn mạch máu cấp tính hơn do đè nén
lớp nội mạc mạch máu và sự hình thành
huyết khối. 2- Cải thiện lâu dài tỷ lệ
mở rộng hơn đường kính lòng mạch máu và
tránh sự dội lại do đàn hồi. Yếu tố
hạn chế chính của việc đặt sten cho điều
trị những thương tổn trong sọ là chính
những sten này có thể để lại đường
rãnh và lan rộng tạo các khoang trong sọ. Dù những
hạn chế như vậy, một loạt các báo cáo quan
trọng về đặt sten trong sọ (không kể các trường
hợp báo cáo nhỏ) công bố các kết quả tốt
hơn so với việc nong mạch máu bằng bóng. Cỡ
mẫu của tất cả các báo cáo này nhỏ, kết
quả nghiên cứu thiếu khái quát hoá. Một loạt các
báo cáo về bệnh sử tự nhiên hay hiệu quả
của điều trị nội khoa trong hẹp các
mạch máu trong sọ thì chỉ lớn hơn chút ít và
đều có chung nhược điểm. Một trong các
nguy cơ tiềm ẩn của việc triển khai đặt
sten trong sọ là "bị giam hãm" xoi khoét các nhánh
từ các mạch máu được chữa trị, gây ra
chứng đột quỵ thiếu máu trong vùng của các
mạch máu nhỏ này. ảnh hưởng của biến
chứng đột quỵ thiếu máu thấp dưới
chỗ đặt sten trong sọ ở các bệnh nhân
đã cho thấy rằng những nguy cơ này ít hơn
những nguy cơ vốn đã nghi ngờ.
Sự
không đồng nhất của hẹp mạch máu trong
sọ cũng mang lại những tiềm ẩn đối
với việc điều trị bệnh nội mạc.
Do đó, việc điều trị các thương
tổn ở đoạn gần xương đá và đoạn
gần xoang hang của động mạch cảnh trong, ngày
nay còn là một thách đố nhỏ về mặt
kỹ thuật. Tuy nhiên, khả năng để lại
đường rãnh của các sten có thể ở xa đoạn
siphon của động mạch cảnh đi vào đoạn
clinoid của động mạch cảnh hoặc ngay cả
động mạch não giữa, còn là giới hạn.
Đặt
sten đoạn trong sọ của hệ thống động
mạch đốt sống và động mạch thân
nền, gọi tên là đoạn V3 và V4 của động
mạch đốt sống và động mạch thân
nền, cũng được chỉ ra rằng có thể
thực hiện được và tương đối an
toàn, đã chứng tỏ là hệ thống dễ
thực hiện hơn so với vùng động mạch
cảnh.
Tóm
tắt
Trong
phần kết luận, kỹ thuật nội mạch có
thể được xem xét đến đầu tiên
về phương diện điều trị đối
với các bệnh nhân có các thương tổn hẹp
mạch máu trong sọ và áp dụng ở các bệnh nhân
tương tự từ lợi ích của chún. Trong quá trình
tiến hành như vậy, các vấn đề liên quan
đến vị trí và mức trầm trọng của thương
tổn, tình trạng mạch máu não (ví dụ các phần
của dòng tuần hoàn bàng hệ), việc phát sinh ra các
triệu chứng, sự đáp ứng hoặc tiềm năng
của việc điều trị nội khoa, sự chuyên
sâu về kỹ thuật phải đem ra làm yếu
tố trong quá trình đưa ra quyết định và các
bệnh nhân phải được đánh giá theo đó.
Ngày
nay, hoàn cảnh phù hợp bao gồm bệnh nhân với
chứng hẹp trầm trọng (chẳng hạn trên 75%)
thương tổn có triệu chứng ở vị trí
kỹ thuật đơn giản (như đoạn V4)
đặc biệt có bác sỹ ngoại khoa có kinh
nghiệm cao thực hiện.
Trong
khi xem xét cách điều trị nội mạch cho các thương
tổn trong sọ, không có sự lựa chọn của
phẫu thuật và như vậy chỉ có thể so sánh
những kỹ thuật nào thì tốt nhất cho điều
trị nội khoa. Hiện nay, không có sự thống
nhất nào cũng như chỉ định nào tốt
nhất cho điều trị nội khoa, cũng không có
chứng cớ nào cho thấy cách điều trị
nội mạch thì tốt hơn. từ đó, các thầy
thuốc quen với việc đưa ra việc đặt
sten với những bệnh nhân được coi là
hết thuốc chữa (nghĩa là có các triệu
chứng thường xuyên tái diễn mặc dù đã
chống đông ở mức tốt nhất) hay đối
với những bệnh nhân có chống chỉ định
voí việc dùng chống đông kéo dài, cần phải
đặt ra vấn đề "cái giá phải trả
của việc chờ đợi cho đến khi việc
điều trị nội khoa tốt nhất thất
bại" . Các dữ liệu hiện thời cho thấy
rằng cái giá đó có thể rất cao.
Để
xác định con đường đi đúng đắn
cho mỗi loại bệnh nhân, với mỗi loại thương
tổn trong sọ, các nghiên cứu xa hơn về kỹ
thuật này và các ứng dụng của chúng có thể
sẽ được đưa ra. Sau hết, việc
chấp nhận cơ bản của việc đặt sten
mạch máu trong sọ sẽ đòi hỏi việc
giải thích so sánh về sau khi và chỉ khi nó được
xem là ưu việt đối với việc điều
trị nội khoa.
Trở
về đầu trang này

TẠO
HÌNH MẠCH HAY ĐẶT STENT KHÔNG PHẢI LÀ CHỮA
TRỊ HÀNG ĐẦU CỦA HẸP MẠCH MÁU TRONG
SỌ
Marc
I. Chimowitz . Angioplasty or
Stenting is not appropriate as first-line treatment of intracranial stenosis.
Arcch Neurol, Vol 58, Oct 2001: 1690-1692.
Người
dịch: BS Nguyễn Thanh Giang.
Hẹp
mạch máu do vữa xơ của các mạch máu chính trong
sọ là một nguyên nhân quan trọng của đột
quỵ, chiếm khoảng từ 5-10% các chứng đột
quỵ thiếu máu ở Mỹ. ở bệnh nhân với
hẹp mạch máu trong sọ vốn vẫn điều
trị chống huyết khối (yếu tố chống
kết dính tiểu cầu hoặc chống đông) và theo
dõi các yếu tố nguy cơ thuộc về mạch máu.
Gần đây hơn, tạo hình mạch hoặc đặt
sten nổi lên như những sự lựa chọn
chữa trị tiềm năng. Kinh nghiệm ban đầu
trong những năm 1980 đã chỉ ra rằng tạo hình
mạch máu trong sọ có liên quan đến nguy cơ cao không
thể chấp nhận được của đột
quỵ hoặc tử vong và phương pháp này đã
bị bác bỏ. Dù sao thành công của tạo hình
mạch vành và đặt sten đi đôi với các
tiến bộ trong kỹ thuật luồn mirco-catheter và
kỹ thuật nong bóng suốt thập kỷ qua đã
dẫn đầu trong việc đem lại lợi ích
trong tạo hình mạch máu trong sọ và đặt sten.
Trong
việc đánh giá liệu có phù hợp để sử
dụng tạo hình mạch máu hoặc đặt sten như
là một cách chữa trị hàng đầu đối
với các hẹp động mạch trong sọ vẫn còn
một vài câu hỏi cần phải được
trả lời: 1- Nguy cơ nào trong việc điều
trị nội khoa đối với chứng đột
quỵ. 2- Cách chữa trị nào là nhất. 3- Phải chăng
có những phân nhóm bệnh nhân đặc biệt có nguy
cơ đột quỵ cao? 4- Những thầy thuốc
ngoại khoa thần kinh phải chăng đã có kinh
nghiệm đầy đủ với các quy trình này để
biện hộ cho thầnh thạo thực hành lâm sàng thường
ngày của họ. 5- Nguy cơ đột quỵ nào gây ra
từ việc tạo hình mạch máu và đặt sten. 6-
Nguy cơ đột quỵ lâu dài nào theo sau tạo hình
mạch máu và đặt sten 7- Đặt sten là cần
thiết hay chỉ cần tạo hình mạch máu là đủ
8- Nên chăng sử dụng chất đối kháng
thụ thể IIb,IIIa glycoprotein trong suốt quá trình tạo
hình mạch máu và đặt sten trong sọ để ngăn
ngừa biến chứng huyết khối.
Hiện
nay chưa có câu hỏi nào trên đây có thể được
trả lời đầy đủ ở mức đáng
tin cậy.
Những
công trình nghiên cứu trước đây chỉ có
một trong số đó là có triển vọng, gợi ý
rằng nguy cơ đột quỵ hàng năm ở
những bệnh nhân với hẹp mạch máu trong sọ
có lẽ ở mức thấp nhất là 3% hoặc cao nhâtrong
sọ là 15%. Các công trình nghiên cứu hồi cứu
gợi ý rằng các bệnh nhân hẹp động
mạch đốt sống và động mạch thân
nền trong sọ, hẹp nghiêm trọng trong đoạn
trong sọ ((80%) hoặc những hậu quả của
thiếu máu trong khi đang được điều
trị chống huyết khối có lẽ phải chịu
nguy cơ cao nhất của đột quỵ. Cách điều
trị chống huyết khối tốt nhất vẫn chưa
được xác định bởi vì chưa có các
dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng mạch
một cách ngẫu nhiên so sánh các tác nhân chống
huyết khối khác nhau đối với hẹp mạch
máu trong sọ .
Tất
cả các thầy thuốc ngoại khoa thần kinh có kinh
nghiệm hạn chế đối với tạo hình
mạch máu và đặt sten trong sọ. Với sự
đồng ý để xem xét gần đây, chỉ có 42%
các trung tâm y khoa chính ở Mỹ được tiến hành
tạo hình mạch máu (tạo hình mạch cảnh đoạn
ngoài sọ trên quy mô lớn). Tại những nơi này,
số lượng trung bình của tạo hình mạch máu
đoạn tận cùng động mạch đốt
sống hoặc động mạch thân nền chỉ có 5
ca trong 1 năm và tạo hình mạch cảnh đoạn
trong sọ trung bình chỉ có 7 ca trong 1 năm.
Dữ
liệu có thể có nguy cơ đột quỵ trong
suốt quá trình tạo hình mạch máu trong sọ là
ở những nghiên cứu hồi cứu của những
trung tâm đơn lẻ, tất cả trong số đó không
lớn hơn 30 bệnh nhân.
Trong
những nghiên cứu này, Tỷ lệ đột quỵ và
tử vong trong suốt quá trình tạo hình mạch máu dao
động từ 4% đến 40%. Có những dữ
liệu bị hạn chế do những hậu quả xa
ở những bệnh nhân được tạo hình
mạch máu trong sọ. Một nghiên cứu hồi cứu
gồm 23 bệnh nhân đã chỉ ra rằng tỷ lệ
đột quỵ hằng năm là 3,2% ở trong nhóm đã
được điều trị tạo hình mạch máu.
Dữ
liệu về tính hiệu quả và an toàn của nong
mạch máu có đặt sten mới được hình thành
sơ bộ với những báo cáo được công
bố bị hạn chế do đó chỉ là những báo
cáo về những ca lâm sàng đơn lẻ hoặc
những chuỗi nghiên cứu nhỏ. Không có nghiên
cứu nào so sánh giữa việc đặt sten không
hoặc đặt sten kết hợp đối chiếu
với tạo hình mạch máu hoặc tạo hình mạch
máu đơn lẻ hoặc sử dụng chất đối
kháng GPIIb/IIIa đối với các tác nhân chống
huyết khối khác như điều trị thêm vào
với các tạo hình mạch máu và đặt sten ở
những bệnh nhân hẹp động mạch trong
sọ.
Rõ
ràng là dữ liệu của những trung tâm sau này đáng
tin cậy hơn được cần thiết cho việc
xác định vai trò của tạo hình mạch máu và
đặt sten trong chữa trị hẹp động
mạch trong sọ. Theo cách nhìn này, một vài nghiên
cứu đang tiến hành sẽ cung cấp dữ liệu
có ích. Thử nghiệm Warfarin-aspirin Symptomatic intracranial
Disease (WASID) ở học viện quốc gia về rối
loạn thần kinh và cơ sở đột quỵ, là
thử nghiệm y khoa mù kép ngẫu nhiên trong 806 bệnh nhân
với cơn TIA hoặc đột quỵ nhỏ điều
đó được kể lại liên quan với
những hepj mạch máu (50%-99%) được chứng minh
bằng chụp mạch của động mạch chính
trong sọ sẽ được dùng ngẫu nhiên với sodium warfarin (tỷ lệ tiêu
chuẩn quốc tế 2: 3) hoặc aspirin (1300mg/ngày). Nghiên
cứu này sẽ xác định là liệu warfarin hay aspirin
cái nào hiệu quả hơn cho việc ngăn ngừa
đột quỵ và tử vong do căn nguyên mạch máu
trong những bệnh nhân này và nhóm phụ được
nhận ra trong những bệnh nhân mà tỷ lệ đột
quỵ thiếu máu của những người này trong khu
vực của hẹp động mạch trong sọ thì cao
đủ để biện luận thử nghiệm
tiếp sau so sánh tạo hình mạch trong sọ hoặc
đặt sten với điều trị y khoa tốt
nhất trong những bệnh nhân này.
Thử
nghiệm đặt sten của những thương
tổn thuộc về triệu chứng do vữa xơ
động mạch ở các động mạch não trong
sọ là một kỹ nghệ được bảo đảm,
có chuẩn bị trước, đa trung tâm, giai đoạn
1 nghiên cứu sẽ đánh giá tính an toàn và việc
thực hiện đặt sten ở 50 bệnh nhân hẹp
động mạch não trong sọ. Đây là điều
đầu tiên mà nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm
về sau phải ước lượng thiết kế
sten một cách rõ ràng cho các vữa xơ mạch máu trong
sọ. Nếu kết quả từ nghiên cứu này mang
nhiều hứa hẹn người ta mong đợi công trình
nghiên cứu giai đoạn 2 sẽ được
thực hiện. Như vậy trong suốt những năm
kế tiếp, dữ liệu về sau có đủ
thẩm quyền sẽ kết hợp lại cho ra một
thiết kế của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
rộng rãi so sánh cách điều trị nội khoa
tốt nhất với tạo hình mạch hoặc đặt
sten ở những bệnh nhân hẹp động mạch
trong sọ. Chỉ khi thử nghiệm này được
hoàn tất chúng ta mới biết được vai trò
của kỹ thuật tạo hình mạch trong sọ
hoặc đặt sten như là một phương pháp
chữa trị hàng đầu các tình huống của
hẹp động mạch trong sọ. Cho đến lúc
đó, chúng tôi nên điều trị những bệnh nhân
này như thế nào ? Nếu có thể, những bệnh
nhân nên được đề nghị tham gia những
thử nghiệm lâm sàng đánh giá việc điều
trị nội khoa hoặc tạo hình mạch và đặt
sten. Nếu điều này không thực hiện được,
việc the2o dõi những yếu tố nguy cơ và điều
trị chống huyết khối phải là nền tảng
của điều trị. Ngày nay, không có đủ thông
tin để xác định rằng liệu warfarin hoặc
điều trị chống ngưng kết tiểu cầu
có phải là tốt hơn hoặc tác nhân chống ngưng
kết tiểu cầu là hiệu quả nhất cho hẹp
động mạch trong sọ. Bởi vì thiếu bằng
chứng về sự an toàn và hiệu lực của
tạo hình mạch trong sọ và đặt sten và
những kinh nghiệm còn hạn chế của hầu
hết các thầy thuốc ngoại khoa thần kinh về
quá trình này, những điều trị này hiện
thời không thể được khuyến cáo như là
việc điều trị ban đầu cho bệnh này.
Trong khi những khuyến cáo này sẽ làm thất vọng
những người say mê phẫu thuật, những người
tin rằng tạo hình mạch trong sọ và đặt sten
thì luôn sẵn sàng cho "điều trị ban đầu",
điều này quan trọng là không tránh né trong tiến trình
khoa học cần thiết để phát triển con
đươngf cơ bản hiển nhiên cho điều
trị hẹp động mạch trong sọ. Một trích
dẫn từ 1993 của Barnett và Haines viết rằng khi
những thử nghiệm lâm sàng đánh giá vai trò của
cắt bỏ áo trong động mạch cảnh đã
được tiến hành, thì chỉ như có khuynh hướng
sau đây: "hoa không mọc nhanh hơn nếu chúng ta
cứ hối thúc chúng".
Trở
về đầu trang này

ĐIỀU
TRỊ NỘI KHOA VÀ ĐIỀU TRỊ NỘI MẠCH
ĐỐI VỚI
BỆNH
VỮA XƠ MẠCH MÁU TRONG SỌ
John
N. Whitaker. Medical and Endovascular
therapy for intracranial atherosclerotic vascular disease. Arch Neurol, Vol 58,
Oct 2001: 1692-1693.
Người
dịch: BS Nguyễn Thanh Giang.
Sự
tiến bộ đáng kể trong điều trị thành công
bệnh vữa xơ động mạch trong sọ là
một vấn đề lớn xuất phát mà các nhà
thần kinh học đang đối diện. Cuối cùng
thì nguyên nhân thứ 3 đưa đến tử vong và tàn
phế nặng thường xảy ra liên quan với
bệnh mạch máu não ở trong cộng đồng dân cư.đươc
mong chờ tăng thêm sự sống và có nhiều
bệnh
Song
song với sự lớn mạnh của ngành thần kinh và
sự chuyển biến của nó từ những triệu
chứng lớn đến những triệu chứng
hỗn hợp của việc điều trị chuyên khoa,
những cố gắng để lựa chọn và điều
trị thoả đáng bệnh nhân bị rối loạn
mạch máu não đã tăng thêm nhiều thành công do có
hiểu biết thêm về sinh bệnh học của
mạch máu, sự nhận biết của các yếu
tố nguy cơ và bước đầu của kỹ
thuật hình ảnh không xâm lấn và những phương
thức điều trị mới hơn. Mặc dù sự
hấp dẫn việc điều trị lạ thường
ở trên có thể do những phương pháp điều
trị bệnh nội mạch, vẫn cần phải có
sự chừng mực trong việc đánh giá cẩn
thận và sự đón nhận tiếp cận phương
pháp điều trị mới trong khi vẫn còn nhiều
cố gắng để xác định sự can thiệp
điều trị nào là tốt nhất.
Trong
những thay đổi hiện nay, Chimowitz và Gomez giới
hạn chỗ đứng mà họ rất rõ ràng trong
việc cho rằng tính chất thích hợp khi sử
dụng việc can thiệp tạo hình mạch và đặt
sten dối với bệnh nhân vữa xơ mạch máu
trong sọ. Chimowitz nói một cách chính xác sự chú ý
đến những bằng chứng thiếu cho kỹ
thuật này và kinh nghiệm hạn chế về kỹ
thuật trong việc áp dụng vào những thủ tục
cần thiết về sau, có khá hơn so với trước
đây, việc tập hợp là cần thiết và
những thử nghiệm được thiết kế hoàn
hảo sẽ được đòi hỏi. Gomez và
cộng sự công nhận tính chất mới có liên quan
của những thủ tục họ xác nhận, nhưng
họ cũng đưa ra lời mời độc giả
đối diện với thực tế của những
nguy cơ khi không làm gì hoặc làm điều đó quá
trễ bởi vì những phương pháp luận điều
trị có thể áp dụng vẫn còn phải được
định nghĩa và ưu tiên xét trước. Họ
chỉ ra sự cần thiết để phân cấp và
lựa chọn bệnh nhân: 1- Những người bị
thất bại trong điều trị nội khoa phải
được nhận ra sớm 2- Những vị trí
phẫu thuật dễ bị ảnh hưởng xấu
hoặc không vào được pải được công
bố 3- Những phẫu thuật viên lành nghề của
kỹ thuật can thiệp được triển khai
hoặc huấn luyện một cách thích hợp
việc
cần thiết của thử nghiệm để nhận
ra cách điều trị nội khoa nào là tốt nhất
bao gồm những thuốc huỷ tiểu cầu và
chống đông là rõ ràng hiển nhiên và có sự thay
đổi mau lẹ để lựa chọn bệnh nhân
những người cần kỹ thuật can thiệp
phẫu thuật cắt bỏ áo trong động mạch
hoặc tạo hình mạch hoặc nong mạch máu có đặt
sten. Những thử nghiệm thích hợp đã được
hoạch định và kết quả cho biết cách điều
trị nội khoa tốt nhất hoặc những kỹ
thuật tương ứng của họ sẽ có giá
trị trongm những tiến trình đúng đắn.
Vấn
đề vẫn cần được làm rõ liệu phương
pháp luận của phẫu thuật hoặc những
kỹ thuật nội mạc cái nào sẽ chứng tỏ
hiệu quả nhất trong một phạm vi đã lựa
chọn của hẹp động mạch, cái mà có
thể thực hiện được.
Lĩnh
vực của thần kinh học là đang tiến đến
một điểm mà ở đó sẽ mang lĩnh vực
thần kinh không xâm lấn hoàn toàn thông qua hiểu
biết chính xác hơn về lịch sử bản
chất của bệnh mạch máu, các thông tin xuất phát
từ việc điều trị nội khoa và kỹ năng
của phẫu thuật viên, những người có
thể tiến hành tạo hình mạch và nong mạch máu có
đặt sten để đưa ra một loạt các cách
lựa chọn chẩn đoán và điều trị
giống như đối với các bạn đồng
nghiệp của họ trong lĩnh vực tim mạch,
những người hướng những cố gắng
của họ tới các mạch máu bên trong hoặc
gần tim.
Trong
những năm gần đây phải chứng minh
được sự cải tiến của chúng, giữa
những tranh cãi về ưu thế và cân nhắc việc
tiếp cận điều trị như Chimowitz, Gomez và
cộng sự đã trình bày có thể được nghiên
cứu và giải quyết một cách chặt chẽ ./.
Trở
về đầu trang này
