THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

angioplasty

Home Up Feedback Contents Search

 

angioplast2

(Trang này gồm 2 bài, bài 1 từ số tháng 11 năm 2000, bài 2 từ tháng 9 năm 2001, tạp chí Archives 0f Neurology)

ĐIỀU TRỊ HẸP ĐỘNG MẠCH TRONG SỌ DO VỮA XƠ BẰNG THỦ THUẬT NONG ĐỘNG MẠCH QUA DA

Abdulkader alazzaz; John Thornton; Victor A. Aletich và cộng sự: Intracranial Percutaneous Transluminal Angioplasty for Arteriosclerotic Stenosis. Archives of Neurology, November 2000; p 1625-1630.

Người dịch: BS Bùi Văn Tố

Tóm tắt

Mở đầu: Những bệnh nhân bị xơ cứng động mạch nội sọ có tỷ lệ tử vong và di chứng đáng kể, một số không đáp ứng với điều trị nội khoa và trong phẫu thuật có thể gặp nhiều rủi ro không thể chấp nhận được. Tạo hình mạch máu bằng thủ thuật nong động mạch qua da (PTA: Percutaneous Trasluminal Angioplasty) của các mạch máu trong sọ có thể thay cho phẫu thuật.

Mục đích: Tóm tắt số liệu và giới thiệu kinh nghiệm của chúng tôi về phương pháp PTA.

Đối tượng và phương pháp: 16 bệnh nhân đã được PTA trong sọ cho hẹp do vữa xơ mức độ nặng dựa trên những tiêu chuẩn chẩn đoán và tiêu chuẩn loại trừ một cách chặt chẽ. Tất cả các bệnh nhân đều có triệu chứng liên quan với hẹp động mạch tương ứng trừ 1 trường hợp. Tạo hình mạch đã được tiến hành ở 6 hẹp động mạch đốt sống đoạn trong sọ, 3 động mạch thân nền, 3 động mạch cảnh trong đoạn xa. 1 bệnh nhân có đi kèm với đặt 1 ống dẫn (stent) tại chỗ hẹp.

Kết quả:Có 1 thất bại điều trị nguyên nhân do cấu trúc giải phẫu mạch máu ngoằn ngoèo. 6 bệnh nhân có đường kính lòng mạch tăng lên hơn 80% và có 6 bệnh nhân tăng lên 50 -70% so với ban đầu đi kèm với giảm các triệu chứng. Có 3 trường hợp bị bóc tách nội mạc xảy ra trong thủ thuật; 1 trong số đó chính là trường hợp được đặt stent (nói trên) thuộc động mạch cảnh trong đoạn trước xoang hang. 1 trường hợp bị hẹp tái phát trong vòng 1 tháng sau điều trị. Hiệu quả thủ thuật tiếp tục được duy trì trong vòng 3 tháng đến 2 năm nếu được điều trị củng cố. Biến chứng đột quỵ xảy ra ở 2 bệnh nhân: 1 nhẹ và 1 nặng. Không có trường hợp nào tử vong.

Kết luận: Bệnh hẹp cứng động mạch tắc nghẽn bao gồm cả những mạch máu não trong sọ có thể điều trị nội khoa bằng các thuốc chống kết tập tiểu cầu và các thuốc chống đông hay phẫu thuật. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân tiên lượng lâm sàng tốt, yếu tố nguy cơ thấp mà không đáp ứng với điều trị nội khoa hay những nguy cơ rủ ro trong phẫu thuật không thể chấp nhận được, thì PTA là phương pháp hấp dẫn được lựa chọn.

PTA lần đầu tiên được Dotter và Judkins tiến hành trên hẹp động mạch đùi dùng một hệ thống catheter đồng trục, và ngày nay PTA được tiến hành điều trị cho hẹp động mạch thận, động mạch vành và động mạch chậu. Năm 1980 Sundt và cộng sự lần đầu tiên công bố thành công tạo hình mạch máu ở 2 bệnh nhân bị hẹp động mạch thân nền.

Những thành tựu kỹ thuật ngày nay về catheter có bóng và thanh dẫn siêu nhỏ (microwire and miroballoon catheter) dẫn đến thủ thuật PTA được dùng điều trị những tổn thương hẹp cục bộ đáng kể gây rối loạn huyết động ở tuần hoàn trong và ngoài sọ. Những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa, và được xem nguy cơ rủ ro trong phẫu thuật cao thường được dùng PTA trong sọ. Mặc dù PTA trong tình trạng thực nghiệm, nhưng nhiều trung tâm y khoa trên thế giới đã ghi nhận rằng PTA là phương pháp an toàn cho những bệnh nhân được lựa trọn.

Chúng tôi đưa ra kinh nghiệm trong 5 năm của mình qua 16 bệnh nhân bị hẹp động mạch trong sọ sau điều trị nội khoa thất bại có đủ tiêu chuẩn phù hợp đã được điều trị PTA.

Bệnh nhân và phương pháp:

Bệnh nhân:

Tất cả các bệnh nhân PTA nội sọ được tiến hành tại học viện Illinois ở Chicago từ tháng 4 năm 1994 đến tháng 4 năm 1999 đã được tổng kết. Có 16 bệnh nhân (13 nam và 3 nữ) tuổi từ 38 đến 77 được kiểm chứng là đã được tạo hình mạch máu. PTA đã thành công ở 15 trường hợp, trừ 1 trường hợp thất bại do mạch máu biến dạng ngoằn ngoèo đã ngăn cản chúng tôi đưa bóng catheter vào động mạch cảnh trong đoạn xoang hang. Biểu hiện lâm sàng lúc khởi đầu là cơn TIA ở 12 bệnh nhân và đột quỵ ở 3 bệnh nhân; một bệnh nhân tuy không có biểu hiện lâm sàng nhưng vẫn được tiến hành thủ thuật với mục đích ngăn ngừa đột quỵ có thể xảy ra sau khi phẫu thuật đặt cầu nối (bypass) ở tim.

Chụp động mạch chẩn đoán:

Tất cả các bệnh nhân đều được chụp động mạch của hệ thần kinh chẩn đoán bao gồm: quai động mạch chủ, và 4 động mạch não trừ đoạn cổ và đoạn nội sọ cuả động mạch cảnh và động mạch đốt sống được tạo hình mạch máu. Chụp 4 động mạch tạo hình đã được tiến hành nhằm đánh giá sự cung cấp máu bởi tuần hoàn phụ cho mạch máu bị hẹp, đánh giá những chỗ hẹp còn tiềm ẩn trước và sau tổn thương đã được xác định, đánh giá độ dài và đường kính đoạn hẹp. Mức độ hẹp được tính bằng tỷ số giữa đường kính trong lòng mạch đo tại chỗ hẹp (lấy đường kính nhỏ hơn giữa đường kính trước sau và đường kính bên) với đường kính trong lòng mạch bình thường (ngay tại chỗ gần nhất với chỗ hẹp). Sau khi đã được chứng minh là có hẹp động mạch có triệu chứng, tất cả đều đủ điều kiện và đã được điều trị nội khoa bằng các thuốc chống đông và thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu (đường uống) trừ 1 trường hợp không cần thiết bởi bệnh nhân này được PTA chỉ với mục đích ngăn ngừa đột quỵ xảy ra sau phẫu thuật đặt cầu nối ở tim.

Tiêu chuẩn lựa chọn:

Tiêu chuẩn lựa chọn tiến hành PTA nội sọ gồm: (1) Hẹp trên 60% đường kính lòng mạch nguyên nhân do bệnh vữa xơ động mạch; (2) Cơn TIA hay đột quỵ nguyên nhân do mạch máu bị hẹp mặc dù đã được điều trị nội khoa.

Những mạch máu trong sọ bị hẹp bao gồm: 3 động mạch cảnh trong đoạn trong sọ, 5 động mạch não giữa (đoạn M1hoặc gần M2), 3 động mạch thân nền, và 6 động mạch đốt sống đoạn trong sọ (đoạn V4). 1 bệnh nhân đã được PTA đoạn V4 2 lần. 1 bệnh nhân bị nhồi máu diện rộng phát hiện trên CT scan hay MRI bị loại khỏi nghiên cứu và đây là tiêu chuẩn loại trừ duy nhất theo tiêu chuẩn (protocol) của chúng tôi. Nguy cơ đột quỵ hoặc tử vong xung quanh thủ thuật là 5% - 10% theo số liệu tổng hợp rút ra được từ những bệnh nhân này. Tất cả các bệnh nhân đều được vô cảm đường toàn thân để cho phép sử dụng đồng thời đầu dẫn đường điện toán 2 mặt phẳng (biplane digital roadmapping) một cách có hiệu quả nhằm giảm bớt đáng kể thời gian thủ thuật và nguy cơ mắc phải biến chứng do kỹ thuật gây nên.

Quy trình:

1 cái bao 7F được đưa vào động mạch đùi. Heparin sodium, 1 thuốc kháng đông đường toàn thân, được sử dụng bằng liều khởi đầu 1 lần (bolus) 5000-7000U tĩnh mạch, sau đó duy trì với liều 1000U/h trong suốt quy trình. Liều thuốc kháng đông thích hợp được củng cố dựa trên thời gian đông máu hoạt hóa từ 250-300 giây.

1 catheter dẫn đường loại 7F , có tên gọi Envoy (Cordis, Miami, Fla) hoặc Platfom (Target Theurapeutics Corp, Fremont, Calif), được định vị bằng cách sao cho đầu của nó được đặt tại đầu xa của động mạch cảnh trong đoạn cổ hoặc đầu xa của động mạch đốt sống phần cần tạo hình. Trước đó người ta đã đưa vào 1 microcatheter có bóng chìm có thanh dẫn với đường kính lớn hơn 0.014- in (Target Theurapeutics Corp) đã được dùng vào lúc đầu của quy trình. Trong những ca mới chúng tôi đã sử dụng 1catheter siêu nhỏ với bóng Stratus (Stratus balloon Microcatheter) và 1 trường hợp gần đây dùng chúng tôi dùng 1 catheter siêu nhỏ với bóng dùng trong tạo hình mạch vành tên gọi là VALOR (Cordis). Đầu của catheter dẫn đường 7F được đưa vào đến nền sọ trong động mạch cảnh hay động mạch đốt sống. Thực hiện bắn ra ở phía trước sau và phía bên của đầu dẫn đường điện toán (Digital roadmapping). Bóng và thanh dẫn đường phối hợp với nhau rồi chuyền qua van của kìm cầm máu hình bánh xe và gắn với catheter dẫn đường.

Đường kính của bóng catheter được chọn sao cho luôn luôn nhỏ hơn một chút so với đường kính bình thường của động mạch được tạo hình. Chọn đường kính và chiều dài của bóng thổi phồng được xác định bởi chiều rộng của mạch máu bình thường và chiều dài của đoạn hẹp cần tạo hình.

Hệ thống thanh dẫn siêu nhỏ (microwire) và bóng catheter được đưa qua chỗ tổn thương hẹp dưới hướng dẫn của catheter và đầu dẫn đường. Bóng được thổi với áp xuất 6-7 atmotphe trong thời gian 10 giây; có thể lặp lại như vậy 2-3 lần dựa vào kết quả giãn ra của đoạn hẹp cần tạo hình. Bóng được làm xẹp xuống nhưng phải để nguyên vị trí; kiểm tra kết quả mở rộng chỗ hẹp sau thủ thuật bằng chụp mạch máu có thuốc cản quang (100% omnipaque 300) qua catheter dẫn đường. Sau đó bóng được rút ra; mạch não đồ được làm lại để đánh giá mạch máu hẹp và bằng chứng tắc mạch đoạn xa do embolie.

Điều trị sau thủ thuật

Heparin được dùng tiếp tục sau thủ thuật, liều được điều chỉnh để duy trì thời gian thromboplastin từ 60-80 giây. Tất cả các bệnh nhân đã được lấy ống ra trong bộ chụp mạch thần kinh. Cái bao ở động mạch đùi được lấy ra trong khi bệnh nhân vẫn còn dùng heparin. Tất cả các bệnh nhân đã được theo dõi tại đơn vị cấp cứu ngoại thần kinh ít nhất 48 giờ sau PTA. Khám thần kinh tỷ mỉ đã được thực hiện ngay sau tạo hình mạch khi còn bộ chụp mạch thần kinh và sau đó khám từng ngày trong suốt thời gian nằm viện. Tất cả các bệnh nhân được đánh giá lâm sàng trong 1 tháng.

Kết quả:

Biểu hiện lâm sàng và những đặc tính chụp mạch máu thần kinh của những bệnh nhân trước và sau tạo hình mạch máu được trình bày trong bảng (trang 7), mạch đồ của bệnh nhân 5,7,11 và 14 được trình bày ảnh tương ứng 1,2,3,4.

Tạo hình động mạch đốt sống

5 bệnh nhân đã được điều trị hẹp động mạch đốt sống trong sọ (đoạn V4). Không có biến chứng do PTA gây ra. Khẩu kính mạch máu đã tăng hơn 70% so với ban đầu, và hết các triệu chứng ở 4 bệnh nhân (bệnh nhân thứ 2 đến thứ 5). 1 bệnh nhân tái phát sau 1 tháng điều trị, cùng thời gian đó chụp động mạch não đã chỉ ra hẹp trở lại đoạn đã được tạo hình. Bệnh nhân này được tiến hành PTA lại, và các triệu chứng mất đi sau đó. Để phòng đột quỵ trước phẫu thuật làm cầu nối (bypass) ở tim cấp cứu, 1 bệnh nhân (bệnh nhân số 1) bị hẹp động mạch thông sau và độnh mạch đốt sống được tiến hành PTA; đã không có biến chứng nào sau phẫu thuật.

Tạo hình động mạch thân nền.

3 bệnh nhân đã được điều trị hẹp động mạch thân nền có triệu chứng: 2 bệnh nhân hẹp động mạch thân nền ờ đoạn xa và 1 bệnh nhân hẹp chức năng động mạch sống nền bên trái. Tất cả các bệnh nhân đều hẹp trên 80% đường kính lòng mạch. Sau thủ thuật đường kính lòng mạch đã tăng trên 50% so với ban đầu, hết các triệu chứng ở 2 bệnh nhân (bệnh nhân số 6 và 7), và không thay đổi các triệu chứng ở bệnh nhân thứ 3 (bệnh nhân số 8); hiệu quả thủ thuật được duy trì trung bình trong vòng 4 tháng ở 3 bệnh nhân này. Bệnh nhân thứ 3 ( bệnh nhân số 8) có vạt nội mạc nhỏ ở đầu xa của đoạn đã được tạo hình nhưng không làm thay đổi huyết động hay cải thiện triệu chứng.

Tạo hình động mạch não giữa:

5 bệnh nhân bị hẹp động mạch não giữa có triệu chứng (đoạn M1) đã được điều trị PTA. Tất cả các bệnh nhân đều hẹp trên 80% đường kính lòng mạch. Sau thủ thuật đường kính lòng mạch đã tăng trên 70% so với ban đầu.Hết hoặc giảm các triệu chứng ở 3 bệnh nhân (bệnh nhân số 10-12), hiệu quả thủ thuật được duy trì từ 4 tháng đến 2 năm. Bệnh nhân thứ 4 (bệnh nhân số 13) bị liệt ½ người trái trước đó nặng hơn do bị tắc mạch sau PTA. Bệnh nhân thứ 5 không thay đổi triệu chứng mặc dù kết quả tạo hình mạch máu tốt. Bệnh nhân số 12 bị hẹp trở lại tại đoạn tạo hình mạch máu sau hai năm nhưng không thay đổi các triệu chứng so với trước lúc tái phát.

Tạo hình động mạch cảnh trong:

3 bệnh nhân bị hẹp động mạch cảnh trong đoạn trong sọ có triệu chứng. Một bệnh nhân (bệnh nhân số 15) được tiến hành thủ thuật PTA nhưng không thành công bởi vì tại xoang hang của động mạch cảnh trong bị ngoằn ngoèo nên không thể đưa bóng catheter qua được. Bệnh nhân thứ 2 (bệnh nhân 16) hẹp trên 95% ở vị trí C2 đoạn siphon của động mạch cảnh trong bên trái bắt nguồn từ chỗ tách ra động mạch mắt (đầu xa) đến chỗ tách ra động mạch thông sau (đầu gần). Đã có biến chứng do Emboli hình thành tại mạch máu được tạo hình gây tắc đoạn M1 phía bên trái của động mạch não giữa. Được điều trị tiêu sợi huyết bằng urokinase 250.000U trong vòng 30 phút nhưng không làm tiêu cục máu tại đoạn M1. Liệt ½ người bên phải, mất ngôn ngữ đã tiến triển nặng lên ở bệnh nhân này. Bệnh nhân thứ 3 (bệnh nhân 14) hẹp 90% lòng động mạch cảnh trong tại đoạn trước xoang hang bị biến chứng do bóc tách mảng xơ vữa tại đoạn tạo hình điều đó thúc đẩy việc đặt một Palmaz stent. Bệnh nhân này duy trì triệu chứng mà không phải điều trị trong 2 năm nhưng sau đó các triệu chứng xuất hiện trở lại.

Bàn luận

Hẹp đáng kể mà có gây rối loạn huyết động của động mạch trong sọ có thể là nguyên nhân gây nghẽn ở xa tiếp gay sau đó là nhồi máu hay thiều máu não. Dòng máu bị rối loạn kết hợp với mất trơn láng của nội mạc động mạch tại bên hẹp có thể khởi đầu và nhân lên từ cục ngẽn nhỏ thành huyết khối, điều đó dẫn đến thiếu máu hay nhồi máu não.

Mặc dù tỷ lệ tử vong và di chứng khá cao do hẹp động mạch trong sọ có triệu chứng, nhưng không có tiến hành phẫu thuật hoặc những điều trị can thiệp khác tại thời điểm này. Vẫn còn là vấn đề bàn cãi có hay không những bệnh nhân được lựa trọn (bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tạo hình mạch) có thể có lợi khi phẫu thuật làm cầu nối động mạch cảnh trong với động mạch cảnh ngoài, và chỉ định có rõ ràng như thủ thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh hay không (coi như là điều trị phẫu thuật đã được thành lập), từ đó giảm đáng kể nguy cơ thiếu máu và nhồi máu não do emboli ở những bệnh nhân bị bệnh hẹp vữa động mạch cảnh ngoài mức độ nặng có triệu chứng. Ngày nay, việc điều trị thuốc kháng đông và chống kết tập tiểu cầu được dùng hạn chế đáng kể rối loạn huyết động và các triệu chứng ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch trong sọ.

PTA cho những mạch máu hẹp đã được chứng minh là một phương pháp điều trị có kết quả ở những vị trí khác của cơ thể. Tạo hình động mạch chậu đã được chứng minh rất tốt trong điều trị nhồi máu chi dưới và bệnh tắc ngẽn đa mức. Điều trị thành công PTA cho hẹp động mạch trong sọ đã được báo cáo ở một số ít bệnh nhân bởi các tác giả Higashida, McKenzie, Takis, Touho, Clark và cộng sự cuả họ.

Một vài yếu tố góp phần làm hạn chế sử dụng PTA nội sọ. Thứ nhất, hiệu quả lâu dài không thấy được qua một chuỗi các báo cáo và những bệnh nhân đã được gặp, tỷ lệ biến chứng thì khác nhau và cải thiện lâm sàng thì không chắc chắn. Những chỉ định rõ ràng cho tạo hình mạch trong sọ thì chưa có. Đã có ít nhất 1% số bệnh nhân được làm thủ thuật PTA động mạch chậu được báo cáo là có sự tạo lập embolie ở đầu xa; tuy nhiên, tỷ lệ thực sự có thể còn cao hơn nhiều. Embolie đầu xa biểu hiện lâm sàng trễ ở chi dưới; tuy nhiên mô thần kinh chịu đựng microembolie kém hơn nhiều và điều này có thể là một cản trổ lớn đối với việc sử dụng PTA nội sọ.

Sự bóc tách và tắc nghẽn của đoạn được tạo hình ở động mạch trong sọ mặc dù hiếm gặp nhưng hậu quả khôn lường, bởi vì còn thiếu phương pháp điều trị đối với sự bóc tách nội mạc động mạch.Vỡ động mạch nội sọ trong quá trình PTA là một nguy cơ khủng khiếp đối với bệnh nhân và có thể gây tử vong.

Tỷ lệ đột quỵ được xem như là biến chứng chủ yếu trong loạt báo cáo của chúng tôi là 13% (2/15); một bệnh nhân bị aphasia và liệt ½ người bên phải, bệnh nhân thứ 2 yếu ½ người trái nặng dần. Trong số 18 bệnh nhân trong báo cáo của Higashida và cộng sự, tỷ lệ đột qụy là 33%; của Touho là 15% trong 13 bệnh nhân; của Clark và cộng sự là 9% trong 22 bệnh nhân; của McKenzie và cộng sự là 8% trong 12 bệnh nhân và của Takis và cộng sự là 50% trong 8 bệnh nhân. Embolie đầu xa, bóc tách động mạch, tắc nghẽn mạch, co thắt mạch hay vỡ động mạch được tạo hình trong PTA nội sọ là nguyên nhân gây đột quỵ. Về lý thuyết, thuốc kháng đông heparin có thể làm giảm hậu quả gây bởi embolie đầu xa khi được dùng liên tục trong lúc thủ thuật và dùng ít nhất là 48 giờ sau thủ thuật, và giữ cho thời gian thromboplastin từng phần (PTT) từ 60 – 80 giây.

Mặc dù gần đây Phatouros và cộng sự đã báo cáo thành công trong việc điều trị tắc nghẽn động mạch thân nền cấp tính do embolie bằng cách dùng stent động mạch vành Gianturco – Roubin- 2 (Cordis) nong nội mạc mạch máu xuyên qua da, nhưng sử dụng microstent động mạch vành cho động mạch não đoạn trong sọ còn đang được nghiên cứu. Chúng tôi tin rằng những thử nghiệm thêm nữa sẽ thiết lập được chắc chắn hơn về tính hiệu quả và độ an toàn của microstent nội sọ, coi như là món quà dành cho những bệnh nhân trước kia được xem như không điều trị được. Thành tựu về sử dụng stent đã làm giảm những biện chứng của thủ thuật tạo hình động mạch vành, và cung cấp một phương tiện cho điều trị bóc tách nội mạc do thủ thuật gây nên.

Co thắt động mạch tại vị trí được tạo hình có thể điều trị bằng papaverine hydrochloride hay nitroglycerine. Thổi baloon đến đường kính hơn bé hơn đường kính trong của động mạch tại chỗ tiếp xúc sẽ làm giảm nguy cơ vỡ động mạch.

Tỷ lệ biến chứng trong chuỗi báo cáo này thấp hơn trong y văn. Vài lý do có thể giải thích cho điều này: thứ nhất, chúng tôi đã chọn rời rạc hơn những đoạn tổn thương hẹp của các động mạch não để điều trị trong chuỗi nghiên cứu của chúng tôi. Thứ hai, đường kính baloon luôn luôn nhỏ hơn đường kính của động mạch đoạn sẽ tạo hình, từ đó giảm nguy cơ vỡ động mạch não. Thứ ba, dùng thuốc mê đường toàn thân và đồng thời dùng đầu dẫn đường hai mặt phẳng (biplane roadmapping) giảm thời gian thủ thuật và biến chứng. Thêm vào đó kỹ thuật đã trở lên an toàn và dễ sử dụng hơn nhiều.

Kết luận:

PTA trong sọ có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và di chứng so với trước đây ở bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn. Chúng tôi nghĩ rằng: nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỷ lệ di chứng thấp của chúng tôi là chúng tôi không cố gắng phục hồi đường kính động mạch hẹp trở về mức bình thường ban đầu của nó. Chúng tôi phải công nhận rằng nghiên cứu của chúng tôi chỉ đơn thuần là hồi cứu. Một thử nghiệm ngẫu nhiên là phương thức khoa học được chấp nhận duy nhất để chứng minh rằng phương pháp PTA có hay không đặt stent tốt hơn với điều trị nội khoa. Nhường như có đủ bằng chứng cho 1 thử nghiệm đáng làm này.

(Không trình bày 4 hình chụp DSA và 1 bảng mô tả triệu chứng lâm sàng của từng bệnh nhân)

Trở về đầu trang

ĐẶC ĐIỂM MICROEMBOLIE Ở NÃO TRONG THỦ THUẬT TẠO HÌNH MẠCH NÃO ĐƠN THUẦN HAY TẠO HÌNH CÓ ĐẶT STENT Ở ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG.

Giovanni Orlandi, SimonaFanucchi, Cristina, Giovanni Acerbi, Michele Puglioli, Riccardo Padolecchia, Ferdinando Sartucci, Luigi Murri: Characteristics of Cerebral Microembolism During Carotid Stenting and Angioplasty Alone. Arch neurol/ vol 58, sep 2001: 1410-1413.

Người dịch: Bác sĩ  Bùi Văn Tố

Mở đầu: Microembolie ở não thường được xác định bằng hình ảnh Doppler xuyên sọ trong suốt thủ thuật tạo hình mạch đơn thuần hay tạo hình có đặt stent. Tuy nhiên một vài một vài dữ liệu có thể đánh giá những đặc điểm microembolie ở não của 2 phương pháp khác nhau là tạo hình mạch đơn thuần và tạo hình mạch có đặt stent trong thủ thuật tạo hình mạch cảnh.

Mục tiêu: Để so sánh 1 nhóm bệnh nhân được tạo hình mạch có đặt stent động mạch cảnh với nhóm bệnh nhân khác được tạo hình động mạch đơn thuần quan tâm đến sự xuất hiện của microembolie ỏ não trong suốt giai đoạn khác nhau của 2 thủ thuật và quan tâm đến mối liên quan tới việc xuất hiện microebolie với những biến chứng mạch máu não quanh thủ thuật. 

Bệnh nhân và phương pháp: 38 bệnh nhân trải qua 41 lần phẫu thuật  (15 lần phẫu thuật tạo hình mạch đơn thuần và 26 lần tạo hình có đặt stent) cho hẹp động mạch với mức độ hẹp (70% đường kính, có triệu chứng. Theo dõi bằng siêu âm xuyên sọ được tiến hành để phát hiện microembolie ở động mạch não gữa suốt  3 giai đoạn của quá trình thủ thuật: giai đoạn 1 đưa thanh dẫn đường (guidewire) tới chỗ hẹp, giai đoạn hai: làm giãn mạch máu  lần thứ nhất với những ca tạo hình mạch đơn thuần  hoặc phóng Stent sau khi đã được làm giãn mạch trước đó; giai đoạn 3 làm giãn mạch thêm nữa.

Kết quả: Microembolie đã xảy ra trong tất cả các trường hợp ở giai đoạn 1 của thủ thuật nhưng tần số ít hơn trong điều trị hẹp động mạch có đặt stent  khi so sánh với tạo hình mạch đơn thuần trong giai đoạn 2 và đặc biệt khác nhau có ý nghĩa (P<0.02) trong giai đoạn 3. Số lượng embolie trung bình của microembolie thường cao nhất ở giai đoạn 2, ưu thế (P<0.05) trong tạo hình mạch đơn thuần, và đặc biệt giảm (P<0.02) ở giai đoạn 3 trong tạo hình mạch có đặt stent. Có 2 trường hợp (5%) của 41 lần tạo hình , có biến chứng tắc mạch máu não xảy ra ở giai đoạn 1, có số ổ microembolie cao hơn giá trị trung bình.

Kết luận: Miroembolie não là một biến cố rất thường gặp, đặc biệt trong suốt giai đoạn đặt thông dẫn và trong tạo hình động mạch đơn thuần khi so sánh với tạo hình có đặt stent. Nên có những nghiên cứu thên nữa về ý nghĩa tiên lượng của phẫu thuật này.

 

Tạo hình mạch máu bằng thủ thuật nong động mạch qua da và đặt stent  ở động mạch cảnh cho thấy là một thủ thuật đầy hứa hẹn ở những bệnh nhân hẹp ( 70% đường kính động mạch có triệu chứng và đồng thời có  yếu tố nguy cơ cao trong cuộc phẫu thuật mặc dù không có bằng chứng rõ dàng từ những thử nghiệm lâm sàng  để chỉ ra rằng thủ thuật này tốt hơn phẫu thuật hay điều trị nội khoa. Hơn nữa, có thể có nhiều biến chứng quanh thủ thuật có thể xảy ra, như khiếm khuyết thần kinh cục bộ do embolie ở đầu xa và giảm huyết động. Embolie ở não im lặng cũng thường biểu hiện trên cộng hưởng từ trước và sau những biện pháp can thiệp điều trị.

Hình ảnh Doppler xuyên sọ là một công cụ theo dõi và phát hiện microembolie ở động mạch não giữa và có thể cho thấy tỷ lệ cao của embolie không triệu chứng trong suốt cả thủ thuật tạo hình mạch cảnh đơn thuần lẫn có đặt stent, tỷ lệ embolie trong thủ thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh cao hơn 8 lần so với thủ thuật tạo hình mạch, mặc dù khả năng gây giảm huyết động thấp.

Tuy nhiên, có vài dữ liệu có giá trị đang đề cập đến sự khác biệt nghẽn mạch nhỏ quanh thủ thuật xảy ra khi tạo hình động mạch đơn thuần và tạo hình mạch có đặt stent; Hơn thế nữa vai trò về hình thái học của mảng xơ vữa vốn có thể có liên quan đến sự khác biệt ở cả sự tạo lập embolie và tổn thương thiếu máu não thường không được quan tâm đến.

 Hướng của nghiên cứu này là là so sánh 1 nhóm của những bệnh nhân trải qua tạo hình mạch có đặt stent với nhóm khác trải qua tạo hình mạch đơn thuần về vấn đề xảy ra microembolie ở não trong những giai đoạn khác nhau của hai thủ thuật và liên quan giữa phát hiện microembolie và biến chứng mạch máu não xunh quanh thủ thuật.

Đối tượng và phương pháp:

Gồm 38 bệnh nhân (25 nam và 13 nữ; tuổi trung bình 67.8; khoảng tuổi  54 – 79)  thời gian từ tháng 2 năm 1998 đến tháng 7 năm 2000 qua 41 lần tạo hình cho hẹp động mạch cảnh trong  có triệu chứng (2 bên trong 3 trường hợp) với mức độ (70% đường kính lòng mạch được chứng minh bằng hình ảnh chụp mạch và đánh giá theo tiêu chuẩn của thử nghiệm cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh có triệu chứng ở Bắc Mỹ. Tất cả các bệnh nhân đều có hiện diện yếu tố nguy cơ cao (bệnh tim ở 21 trường hợp và bệnh phổi ở 17) cho phương pháp vô cảm, và chống chỉ định cho thủ thuật cắt bỏ nội mạc động mạch, tất cả đều viết cam kết đồng ý làm thủ thuật. 15 động mạch đã được điều trị bằng tạo hình mạch máu đơn thuần  và 26 trường hợp  tạo hình có đặt stent.  Mục tiêu khống chế 2 nhóm là hình thái học của mảng xơ vữa càng giống nhau càng tốt và mức độ hẹp được xác định động mạch đó cần  phải được tạo hình mạch máu đơn thuần hay phải đặt stent. Đặc tính hình thái học của mảng vữa xơ được xác định bằng cách xử dụng máy Scanner - Duplex (ẠU5;Esoate biomedica, Florence, Italy) theo tiêu chuẩn chất lượng dùng cho siêu âm mảng vữa xơ (giảm Echo, đồng Echo hay tăng Echo) bản chất mảng vữa xơ (đồng nhất, không đồng nhất hay calci), bề mặt mảng vữa xơ (trơn nhẵn, không đều, loét). Bảng 2  cho thấy sự phân bố tương tự nhau về đặc tính mảng vữa xơ trên siêu âm và mức độ hẹp trung bình trên chụp động mạch ở 2 nhóm động mạch đựơc lựa chọn tiến hành tạo hình mạch đơn thuần hay tạo hình có đặt stent.

Tất cả các bệnh nhân đã được điều trị acit  acetylsalicylic (100mg/ngày) như là để ngăn chặn đột quỵ tái phát. An thần nhẹ bằng promazin hydrocloride, heparin sodium tĩnh mạch (duy trì thời gian thromboplastin từng phần từ 80 - 100giây) được dùng trong quà trình phẫu thuật. Có thể dùng 1mg  atropin sulfate  tĩnh mạch để ngăn chặn nhịp chậm do kích thích xoang cảnh trong khi bơm bóng. Một catheter dẫn đường được đưa vào trong động mạch cảnh chung, và qua chỗ hẹp bằng thanh dẫn (có đường kính 0.014 đến 0.020 in là thanh dẫn dùng trong nong động mạch vành) dưới hướng dẫn của màn hình Xquang. Trong trường hợp tạo hình mạch, những catheter có bóng (OPAT5 French hay PowerFlex Plus; Cordis Corp, Miami, Fla) có đường kính 5 đến 6 mm, thổi bóng bằng cơ học 2 lần kéo dài từ  20 đến 30 giây cho mỗi lần. Khi chúng tôi dùng một stent (Wallstent, Boston Scientific Corp, La Garenne Colombes, France) (với kích thước lúc stent mở hoàn toàn là 8(20,8(30, 10(20, và 10(30b mm) được sử dụng để che phủ hoàn toàn tổn thương và khi đó stent được định vị rồi làm giãn 1 đoạn mạch bởi 1 bóng được bơm dưới áp lực cao. 5 trường hợp hẹp nặng nhất được làm dãn bằng 1 catheter có bóng đường kính 3 mm trước khi phóng stent.

Máy Doppler xuyên sọ với tần số sóng 2–MHz (DWL Elektronische Systeme Multidop X-TCD7; Sipplingen, Germany) đã được dùng cho tất cả các bệnh nhân với mục đích khảo sát động mạch não giữa trong thời gian dài và tiến hành theo dõi toàn bộ quá trình thủ thuật. Đầu dò Doppler có đường kính 1.7cm  và được tiếp xúc với hộp sọ ở một vùng tương ứng với cửa sổ thái dương. Bề rộng của trục biểu thị thể tích mẫu được cài là 10mm, động mạch não giữa được khảo sát ở độ sâu được xác định trước là 45-55mm để thu được hình ảnh mạch rõ ràng nhất. Một đầu lọc có khả năng thu nhận sóng cao được cài ở tần số 100 Hz để khử những rung động của thành mạch tần số thấp. Sóng siêu âm phát ra tại bề mặt đầu dò là 50-100 mW/cm2. Cường độ sóng âm được xác định là sóng đo bằng đơn vị decibel trong phổ Doppler. Thuật toán để đo cường độ sóng sử dụng trong toàn bộ quá trình là một thuật toán cơ bản và khoảng biến thiên từ –100 đến +150 cm/s tùy thuộc vào tần số kích thích 6500 Hz lặp đi lặp lại. Phép biến đổi Fourier nhanh gồm 64 điểm với chiều dài 2 ms và khoảng chồng lấp 60% được sử dụng. Thông số đã đề cập ở trên được lựa chọn tùy  thuộc vào bản tham khảo của nhóm tranh luận quốc tế về khám phá microembolie. Máy siêu âm xuyên sọ được cài một bộ xử ly tự động để phát hiện tín hiệu thoáng qua có cường độ cao, tín hiệu đó giúp xác định microembolie theo tiêu chuẩn của  hội nghị quốc tế về chuyên đề huyết động học não lầ thứ 9: cường độ tín hiệu được coi là cao hơn mức bình thường nếu có giá trị ít nhất là 3 dB thời gian tín hiệu kéa dài ít hơn 300ms, tín hiệu trực tiếp đo được ở một bên trong phổ tốc độ Doppler, có đi kèm với âm thanh đặc trưng được xem như là 1 chirp. Để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu, ngưỡng phát hiện cường độ cao hơn 7 dB được chọn vào nghiên cứu.

Theo dõi bệnh nhân cẩn thận và chất lượng ghi Doppler xuyên sọ đã được quan sát cùng lúc bởi tác giả SF, mà tác giả ghi lại những biến cố có thể là nguồn gốc của artifact. Tín hiệu thoáng qua có cường độ cao được thâu vào băng Video và phân tích độc lập bởi hai tác giả GO và CF, hai người này không hề biết gì về dữ liệu lâm sàng. Hệ số K bằng 0.91 được xem là có sự đồng nhất giữa 2 tác giả.

3 giai đoạn của thủ thuật được tiến hành: giai đoạn 1 đưa thanh dẫn đường tới chỗ hẹp, giai đoạn hai: làm giãn mạch máu lần thứ nhất với những ca tạo hình mạch đơn thuần  hoặc phóng Stent sau khi đã được làm giãn mạch trước đó; gai đoạn 3 làø làm giãn mạch thêm nữa. Số lượng trung bình và cường độ trung bình của nghẽn mạch nhỏ được đáng giá trong mỗi giai đoạn của thủ thuật trong nhóm tạo hình mạch đơn thuần và trong nhóm tạo hình mạch có đặt  stent. Suốt đoạn mạch máu còn tồn tại thuốc cản quang khi chụp mạch máu, một tín hiệu sóng rộng và có cường độ cao nhần lẫn với microembolie, luôn luôn qua sát được ở động mạch não giữa; vì vậy giai đoạn này chúng tôi loại khi phân tích dữ liệu. Hơn thế nữa có thể xảy ra giảm thính lực, TIA, đột quỵ được xem là những biến chứng quang thủ thuật.

 Phân tích dữ liệu được sử dụng 2 phương pháp (2 (so sánh tỷ lệ nghẽn mạch nhỏ của thủ thuật được so sánh giữa tạo hình mạch đơn thuần với tạo hình mạch có stent) và T test (so sánh số lượng trung bình và cường độ trung bình  giữ hai phương pháp). Sai số có ý nghĩa được qui định là p<0.5.

Kết quả

Microembolie xuất hiện ở tất cả các trường hợp trong giai đoạn 1 của thủ thuật, trái lại các động mạch được tạo hình có đặt stent có tỷ lệ nghẽn mạch nhỏ thấp hơn so với khi điều trị bằng tạo hình động mạch đơn thuần trong giai đoạn 2 (96% so với 100%) và đặc biệt thấp hơn ở pha 3 (54% so với 87%; p<o.02) ( sơ đồ 1).

Số lượng trung bình ( SD của microembolie phát hiện trong giai đoạn 1 khi điều trị bằng tạo hình đơn thuần (13.5 (4.3) không có sự khác biệt khi tạo hình có đặt bằng stent (14.3  (5,2). Trái lại số lượng microembolie pha 2 với chênh lệch có ý nghĩa (p<0.05) khi so sánh giữa điều trị băng tạo hình động mạch đơn thuần (22 (3.0) với điều trị bằng tạp hình mạch có stent (19.1 ( 4.1) số lượng microembolie giảm ở giai đoạn 3 và đặc biệt giảm khi điều trị tạo hình mạch có đặt stent (10.4 (5.2) so với khi điều trị bằng tạo hình mạch đơn thuần (18.6 (4.6), p<0,02. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về cường độ microembolie giữa tạo hình mạch đơn thuần và tạo hình mạch  có đặt stent ở tất cả các giai đoạn của thủ thuật.

Ở 2 trong số 41 lượt làm thủ thuật (5%) các biến chứng mạch máu não quanh thủ thuật  (cơn TIA ở 1 trường hợp tạo hình mạch đơn thuần và 1 trường hợp tạo hình mạch có stent) xuất hiện ở giai đoạn 1. Cả 2 trường hợp cho thấy số lượng microembolie cao hơn nhiều so với các giá trị trung bình trong suốt các giai đoạn của thủ thuật, trong khi 1 sự phân bố tương tự về cường độ microembolie cũng được quan sát thấy (sơ đồ 2). Ở tất cả các trường hợp khác, microembolie xuất hiện mà không có triệu chứng. Trong suốt quá trình làm giãn mạch có 3 bệnh nhân được điều trị bằng thủ thuật tạo hình mạch đơn thuần xuất hiện những biến chứng nhỏ bao gồm chậm nhịp tim thoáng qua và hạ huyết áp đột gột. Kiểm tra bằng chụp- mạch máu cuối thũ thụât đã chứng minh hẹp động mạch giảm đi dưới 30% ở tất cả các trường hợp.

Bàn luận

Sự xuấy hiện microembolie là biến cố rất thường gặp ở tất cả các giai đoạn của thủ thuật tạo hình mạch đơn thuần và tạo hình mạch có đặt stent, đặc biệt ở những bệnh nhân tạo hình mạch đơn thuần. Các yếu tố cơ học như chấn thương bề mặt mảng vỡ xơ khi thanh dẫn đi qua chỗ hẹp và trong suốt gia đoạn làm giãn mạch lần đầu tiên có thể giải thích cho tỷ lệ cao microembolie gắn liền với sang thương vỡ xơ mạch. Trái lại số lượng bệnh nhân bị nghẽn mạch nhỏ giảm dần trong suốt giai đoạn giãn mạch thêm nữa có thể là do mảng vỡ xơ đã bị nén chặt lại sau giai đoạn làm giãn chỗ hẹp, điều này làm cho mảng vữa xơ khó bong ra và cũng làm giảm sự ma sát với tốc độ của dòng máu vốn được hồi phục về mứv bình thường. Quan sát của chúng tôi thì phù hợp với Markus và cộng sự. Oâng ta quan sát thấy có nhiều tín hiệu của microembolie ngay sau khi thổi bóng ở 9 trong 10 bệnh nhân được tạo hình mạch đơn thuần. Tương tự Mc Cleary và cộng sự đã báo cáo các tín hiệu microembolie ở 9/9 bệnh nhân khi được đặt stent động mạch cảnh. Mảng vỡ xơ bị ném lại sau khi đặt stent  cũng giúp giải thích cho thực tế là bệnh nhân trong nhóm điều trị bằng stent sẽ ít bị microembolie hơn trong giai đoạn làm giãn mạch thêm nữa so với bệnh nhân trong nhóm được tạo hình mạch đơn thuần. Tương tự Benichou và Bergeron cũng báo cáo 1 tỷ lệ microembolie quanh thủ thuật ở 19 trường hợp tạo hình mạch so với 13 trường hợp tạo hình mạch có đặt stent. Néu mảng vữa xơ bẵng stent cũng giống như nhét 1 cái mecsh, cũng có thể giải thích số lượng trung bình microembolie thấp hơn trong suốt và sau khi đặt stent so với trong suốt quá trình làm giãn mạch ở nhóm bệnh nhân tạo hình mạch dơn thuần. Sự khác biệt về đặc tính về hình thái học của mảng vữa xơ có thể có liên quan tới tốc độ embolie hóa. Tuy nhiên chúng tôi đã lựa chọn những mảng vữa xơ có đặc tính trên siêu âm tương tự nhau giữa 2 nhóm tạo hình đơn thuần và có đặt stent. Vì vậy tỷ lệ microembolie không thể là do sự khác biệt về đặc tính mảng vữa xơ giữa 2 nhóm mà là do sự khác biệt giữa 2 thủ thuật. Đề cập đến giá trị trung bình của cường độ microembolie quan sát thấy không có sự khác biệt  giữa nhóm tạo hình mạch đơn thuần và tạo hình mạch có đặt stent. Tuy nhiên thông số này không có ý nghĩa rõ ràng, từ đó nó có thể dựa vào cả âm lượng và tính chất của microembolie, và hệ thống phát hiện này không dùng khảo sát  về hình thái học và đặc điểm. 

Sự xuất hiện microembolie có triệu chứng  chỉ ở 2 bệnh nhân (5%) có biến chứng mạch máu não liên quan đến điều trị lớp dưới nội mạc động mạch cảnh, và cả 2 trường hợp này đều xuất hiện trong giai đoạn 1 của thủ thuật. Điều này cũng có thể liên quan tới số lượng lớn ổ microembolie; tuy nhiên những yếu tố khác như  giảm huyết động đi kèm sự độc lập của embolie có thể bao gồm cả trong tổn thương nhồi máu là nguyên nhân giảm vùng gây microembolie.Trong khía cạnh này nghiên cứu trên cộng hưởng từ  có thể xác định rằng embolie não có tần số lớn hơn tỷ lệ biến chứng thần kinh. Hơn thế nữa Rapp và cộng sự  gần đây đã nhận thấy rằng những mảng vữa nhỏ bằng phẳng (<20(m) có thể  là nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ thần kinh muộn , và di chứng thần kinh tâm thần đã được ghi nhận như kết quả của microembolie ở não trong thủ thuật tạo hình mạch cảnh. Cần phải có những  nghiên cứ u trong tương lai làm sáng tỏ có hay không  số lượng cao ổ microembolie có thể báo hiệu của những biến chứng mạch máu não.

Bởi vì những khám phá này  xuất hiện  câu trả lời rằng tạo hình có đặt stent an toàn hơn tạo hình mạch đơn thuần và điều đó tránh xuất hiện microembolie hoặc những hậu quả của nó, như  cải thiện của những phương pháp can thiệp thần kinh hay dùng các thuốc bảo vệ thần kinh, có thể phù hợp.

Trở về đầu trang