THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

BAEPs

Home Up Feedback Contents Search

 

CÁC CHỈ  SỐ CỦA ĐIỆN THẾ  GỢI THÍNH GIÁC THÂN NĂO (BAEPs) TRÊN NGƯỜI VIỆT NAM

 Nguyễn Thị Thu Thảo,  Nguyễn Hữu Công

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phương pháp ghi điện thế gợi thính giác thân năo (Brainstem Auditory Evoked Potentials), viết tắt là BAEPs, giúp chúng ta khảo sát tính toàn vẹn của hệ thống dẫn truyền thính giác từ , tai trong qua dây TK thính giác (dây VIII) vào trong cầu năo lên trung năo qua dăi dọc bên (lateral lemniscus)  cùng bên tới củ năo sinh tư dưới (inferior colliculus) bên đối diện và kết thúc ở vỏ năo thính giác.

Các tác giả thường quan tâm tới thời gian tiềm và biên độ của các điện thế BAEPS. Thời gian tiềm (latency) là thời gian kể từ khi kích thích âm thanh ở tai cho tới đỉnh của sóng (peak latency) tính bằng  ms. Biên độ (amplitude) được đo từ đỉnh cao nhất tới đỉnh thấp nhất của điện thế (peak-to-peak amplitude) tính bằng (V. Trên bảng ghi có nhiều đỉnh sóng (đỉnh của điện thế), đánh số từ I tới V . Thường người ta t́m hiểu điện thế  I, III, và V.

Phương pháp này có tính ưu việt là cho phép lặp đi lặp lại trên bệnh nhân, mà không tổn thương hoặc đau đớn.

H́nh 1: mô tả cơ chế ghi BAEPs. MG làthể gối trong (medial geniculate) , IC là củ năo sinh tư dưới (inferior colliculus), LL là dải cảm giác bên (lateral lemniscus), AN là dây thính (auditory nerve), SO là nhân trám trên (superior olive), CN là nhân ốc tai (cochlear nucleus). ta thấy các sóng được đánh số la mă từ I tới V tương ứng với các cấu trúc trên đường dẫn truyền thính giác. Góc trên bên phải là đường ghi tổng hợp, có được từ máy ghi điện cơ, với các sóng tương ứng.

(Electrodiagnosis in Clinical Neurology, Michael J. Aminoff editor, 1992)1

 Khảo sát bản ghi BAEPS giúp bác sĩ lâm sàng xác định khả năng tổn thương dây TK VIII, các tổn thương ở thân năo, khối choán chỗ lớn của bán cầu đại năo gây chèn đẩy thân năo, đặc biệt trong bệnh xơ rải rác ( MS), thất điều Friedreich và các bệnh lư thoái hóa thần kinh trung ương khác (bệnh Wilson, thoái hóa trám – cầu – tiểu năo…). BAEPs giúp khoa nhi xác định điếc ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ , cũng như trên những bệnh nhân tâm thần, giả bệnh. Ngoài ra c̣n dùng BAEPS để khảo sát chức năng thân năo của bệnh nhân đang hôn mê.

Trên toàn quốc: cho tới nay, chúng tôi chưa đọc được báo cáo chính thức nào về BAEPs của hội thần kinh Việt nam. Tại thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam  cho tới nay chưa có pḥng điện cơ nào thực hiện  xét nghiệm này.  Hiện nay tại bệnh viện ĐD - PHCN BĐ II chúng tôi  mới được cung cấp một máy điện cơ Neuropack m , có cài sẵn chức năng ghi BAEPS.

Mục đích của nghiên cưú này, là áp dụng qui tŕnh ghi BAEPs chuẩn của thế giới để t́m các chỉ số trên người Việt nam b́nh thường, nhằm phục vu chẩn đoán lâm sàng thần kinh trong tương laiï

 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Người b́nh thường khỏe mạnh đa số là nhân viên y tế đang làm việc, đă được khám sơ bộ và xét nghiệm loại trừ các bệnh lư về tai và thính lực, bệnh tiểu đường, suy gan, suy thận.

 Phương tiện:  Máy điện cơ Neuropack m

H́nh 2: Kích thích vào một tai, trong khi tai bên kia bị bịt lại. Chuỗi kích thích: 1000 kích thích, tần số tối thuận của kích thích thường là từ 8-10 Hz. Cường độ kích thích nằm trong khoảng : 90-120 dB. Ghi 2 lần , ghi luân phiên từng tai, cho cả hai bên.

 Phương pháp kích thích và ghi BAEPs: chúng tôi dùng các đạo tŕnh chuẩn theo hội điện năo học của Hoa kỳ (American Encephalographic Society -AES), 1984, như mô tả trên h́nh 2.2

 Các số liệu được xử lư bằng phần mềm SPSS.

 KẾT QUẢ

Chúng tôi đă thực hiện phép ghi BAEPs trên 92 người b́nh thường, trong đó có 51 nam và 41 nữ, tuổi trung b́nh 32 (SD 7,8, cao nhất là 53 và thấp nhất là 18). Chiều cao trung b́nh 161 cm  (SD = 5,4). Dưới đây là một bản ghi BAEPs điển h́nh trên người b́nh thường, với 2 đường ghi cho 2 tai, các điện thế BAEPs được đánh dấu theo qui ước từ I tới V. Tiếp sau là bảng các giá trị b́nh thường.

 

 Bảng 1: các giá trị thời gian tiềm b́nh thường tính bằng ms.

Các điện thế BAEPs

Trung b́nh (ms)

Độ lệch chuẩn

Sóng I

1,82

0,31

Sóng II

2,79

0,31

Sóng III

3,82

0,36

Sóng IV

4,94

0,35

Sóng V

5,97

0,47

 Bảng 2: Thời gian liên đỉnh (interpeak latency) tính bằng ms.        

Thời gian liên đỉnh

Trung b́nh (ms)

Độ lệch chuẩn

I-III

2,00

0,28

III-V

2,15

0,39

I-V

4,15

0,4

 Về biên độ, chúng tôi chỉ đo lường biên độ của sóng V: trung b́nh 0,35 (V (SD = 0,19).

 Bảng 3: Hệ số tương quan tuyến tính (r, Pearson) giữa thời gian tiềm của BAEPs với các thông số của cá thể:

 

I

II

III

IV

V

Tuổi

0,1

0,0

-0,01

0,06

0,06

Giới tính

-0,01

0,08

0,28

0,26

0,03

Chiều cao

-0,09

0,07

0,16

0,21

-0,06

d trước -sau

-0,08

-0,08

0,01

0,01

-0,08

d phải-trái

-0,11

0,03

0,12

0,16

-0,15

Như vậy không có tương quan tuyến tính giữa các thông số của BAEPs với chỉ số về giới, tuổi và chiều cao cũng như kích thước đầu.

 BÀN LUẬN

Phương pháp ghi BAEPs giúp khảo sát khả năng tổn thương đường dẫn truyền thính giác  từ ngoại vi tớiø trung ương, do vậy giúp bác sĩ lâm sàng phân biệt các loại điếc, và nghiên cứu chức năng dẫn truyền thân năo ở các bệnh lư thần kinh trung ương, như bệnh lư hủy myelin trung ương (MS, Friedreich ataxia…), cũng như một số bệnh lư trung ương khác. Đây là những kết quả công bố lần đầu trong nội bộ Hội TK học Việt Nam. Có thể tại các bệnh viện chuyên khoa tai - mũi - họng, cũng như tại các Labo sinh lư học của các trường đại học Y của Việt nam đă có người làm về vấn đề này, chúng tôi đă có cố gắng t́m hiểu để học hỏi kinh nghiệm, nhưng cho tới nay vẫn không t́m được tài liệu công bố chính thức về BAEPs tại Việt Nam.

Chúng tôi so sánh những kết quả của ḿnh với của các tác giả nước ngoài, bao gồm những nghiên cứu về BAEPs trên người b́nh thường của 2 nhóm: nhóm của Chiappa, Gladstone và Young, năm 1979, với số đối tượng n = 55, tuổi từ 15 tới 51; và nhóm của Fujita, Hosoki và Miyazaki, năm 1981, với số đối tượng n = 30, tuổi từ 18 tới 56.

 Bảng 4: so sánh các số liệu BAEPs người b́nh thường.2

 

Chiappa

Fujita

Chúng tôi

Sóng I

1,7±0,15

1,57±0,07

1,82±0,31

Sóng II

2,8±0,17

2,76±0,12

2,79±0,31

Sóng III

3,9±0,19

3,72±0,15

3,82±0,36

Sóng IV

5,1±0,24

4,93±0,21

4,93±0,35

Sóng V

5,7±0,25

5,62±0,21

5,97±0,47

Như vậy các số liệu của chúng tôi cũng khá gần với các số liệu có được từ Châu Aâu và Nhật Bản.

Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ là bước đầu nên chưa hoàn chỉnh, chúng tôi dự kiến trong thời gian tới sẽ nghiên cứu tiếp để bổ xung các chỉ số sau: biên độ tương đối (tỷ lệ biên độ IV/V:I), hiệu số thời gian tiềm và biên độ giữa 2 bên (phải - trái). Cũng cần có các thông số của trẻ em. Tiếp theo, chúng tôi dự kiến sẽ nghiên cứu những biến đổi BAEPs trên một số bệnh lư thần kinh trung ương có liên quan hố sau và đường dẫn truyền thính giác trung ương,

 KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu được công bố chính thức lần đầu tiên trong Hội thần kinh Việt Nam. Chúng tôi đă nghiên cứu trên 92 người Việt Nam b́nh thường khoẻ mạnh, và t́m được các thông số b́nh thường của BAEPs. Các kết quả của chúng tôi tương đối phù hợp với những kết quả của các tác giả khác trên thế giới. Chúng tôi dự kiến sẽ triển khai tiếp nghiên cứu của ḿnh, và cố gắng ứng dụng sớm phục vụ lâm sàng thần kinh. Chúng tôi cũng sẵn sàng chuyển giao kỹ thuật cho các pḥng điện cơ của các bệnh viện bạn, nhằm có được những số liệu lớn hơn, cũng như mỗi pḥng điện cơ nên có bảng chuẩn b́nh thường của riêng ḿnh.

Chúng tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp và những người t́nh nguyện khác đă giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1.       James J. Stockard, Janet E. Pope - Stockard & Frank W. Sharbrough: Braistem Auditory Evoked Potentials in Neurology: Methodology, Interpretation and clinical application. In: Electrodiagnosis in clinical neurology, 3rd edition, edited by Michael J. Aminoff. Churchill Livingstone, 1992: 503-536.

2.       Jay A. Liveson & Dong M. Ma: Laboratory reference for clinical neurophysiology. F.A. Davis Co., Philadelphia, 1992: 324-331.