|
Sau
đây là các tin tóm tắt về hoạt động nghiên cứu khoa học tại
TP Hồ Chí Minh, chủ yếu liện quan tới các luận văn tốt nghiệp
và công tŕnh cấp Bộ có liên quan thần kinh học NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:
Nghiên
cứu thiết kế, chế tạo và thử nghiệm
thiết
bị vật lư trị liệu bằng điện tần
số thấp. Chủ nhiệm:
thượng tá Đỗ Kiên Cường. Nghiên cứu dùng viên Đamin điều trị ngộ độc ch́ hữu cơ. Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Đ́nh Hùng. Nghiên cứu phương pháp điều trị hội chứng Guillain - Barré bằng corticoide tiêm vào khoang ngoài màng cứng. BS CK II Lê Kim Hà. LUẬN VĂN
TIẾN SỸ:
Đánh giá vai tṛ Doppler xuyên sọ trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi máu năo. Nguyễn Anh Tài. Nghiên cứu áp dụng phẫu thuật định vị không gian ba chiều để chẩn đoán các thương tổn sâu trong đại năo. Dương Minh Mẫn (bảo vệ tháng 11 năm 2003). LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II:
Áp
xe năo: đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị
phẫu thuật. Nguyễn Xuân B́nh.
Đánh giá một số yếu tố tiên lượng
xuất huyết dưới nhện. Nguyễn Thi Kim Liên
Đánh
giá nguyên nhân tử vong trên bệnh nhân đột quỵ
năo cấp. Trương Văn Luyện.
Nhận
xét lâm sàng và h́nh ảnh học xuất
huyết năo hố sau. Nguyễn Thị Hoa. Nhận
xét lâm sàng và điện cơ của hội
chứng Guillain Barré ở người lớn. Phan Thị Ǵn.
Nhận
xét sơ bộ về liên quan giữa mất ngôn ngữ
với vị trí tổn thương trên h́nh ảnh CT-scan
trong nhồi máu năo. Vũ
Tuấn Hùng.
Xây dựng phương tŕnh dự đóan đa biến giúp chẩn đóan phân
biệt viêm màng năo mủ và viêm màng năo siêu vi. Lê Văn Minh.
Xem chi tiết thêm trong báo cáo chi tiết
Đặc điểm lâm sàng - điện
năo ngoài cơn động kinh trẻ em dưới 15 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng 1. Nguyễn
Bá Hiền.
Đánh
giá lâm sàng và phương pháp chẩn đoán điện bệnh đa dây thần
kinh do suy thận mạn. Nguyễn Minh Tuấn.
Nghiên
cứu mối liên quan giữa tăng thân nhiệt và dự hậu trong 30 ngày đầu
của bệnh nhân xuất huyết năo trên lều. Nguyễn Đức Tuệ.
Nghiên
cứu lâm sàng và phẫu thuật bệnh hẹp ống sống thắt lưng.
Ngô Nguyên Quang.
Khảo
sát lâm sàng và cộng hưởng từ trong thoát vị đĩa đệm cột sống
thắt lưng. Nguyễn Tiến Cường.
Nghiên
cứu lâm sàng, h́nh ảnh học chấn thương cột sống cổ. Hà Thị Thanh Tuyền
Nghiên
cứu tạo h́nh bản sống trong điều trị bệnh tủy do hẹp ống sống
cổ. Phan Quang Sơn. Nghiên
cứu phẫu thuật u màng năo ở bán cầu đại năo. Trần
Huy Hoàn Bảo. Nghiên
cứu yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật máu tụ
trong năo do tăng huyết áp. Nguyễn Quốc Lâm.
Đánh
giá lâm sàng và điều trị nhồi máu năo cấp trên
bệnh nhân đái tháo đường type 2. Nguyễn
Thị Đức Hạnh.
Đánh
giá hiệu quả và tính an toàn của Aspirin trong điều
trị thiếu máu năo cục bộ cấp tính.
Nguyễn Huy Thắng. Kết
quả điều trị áp xe năo.
Trần Duy Hưng. Một
số yếu tố tiên lượng tử vong sớm trong
xuất huyết năo. Hàn Tiểu Sảo. Phẫu
thuận tạo h́nh khuyết ṿm sọ bằng xương
sọ tự thân bảo quản lạnh sâu. Nguyễn Kim
Chung. Điều
trị máu tụ ngoài màng cứng hố sau do
chấn thương. Nguyễn Trọng Thiện. Phẫu
thuật vá lỗ ḍ màng cứng trong vỡ
sàn sọ trước. Phùng Đăng Khoa. Vai
tṛ giải áp trong điều trị máu tụ dưới
màng cứng cấp
tính nặng do chấn thương. Nguyễn Hữu Minh. Đánh
giá lâm sàng và điều trị phẫu thuật u
sao bào ở bán cầu đại năo. Nguyễn Quang
Hiển. Khả
năng điều trị ngoại khoa máu tụ trong năo do
cao huyết áp xơ vữa động mạch. Lê Xuân
Long. Điều
trị găy cột sống lưng - thắt lưng bằng
phương pháp nẹp
vít cuống cung. Nguyễn Phong. Nguyên
nhân, thương tổn và điều trị vết
thương sọ năo thời b́nh. Phùng Quốc Thái. Thoát
vị đĩa đệm cột sống cổ: triệu
chứng lâm
sàng, phân bố và kết quả phẫu thuật. Vơ Xuân
Sơn. Điều
trị phẫu thuật u màng năo cạnh xoang tĩnh
mạch dọc trên và liềm năo. Phan Trung Đông. Đặc
điểm mạch máu của các dị dạng động
- tĩnh mạch năo
trên mạch năo đồ. Lê Văn Tuấn. Bước
đầu áp dụng vi phẫu trong mổ u nguyên
tủy bào ở hố sau. Trần Quang Vinh.
Khảo sát các
yếu tố tiên lượng suy hô hấp trên bệnh nhân viêm đa rễ dây thần kinh cấp tính.
Tác giả: Lư Thị Kim Lài
Khảo
sát sự thay đổi men CK,
CK-BB, LDH trong huyết thanh bệnh nhân nhồi máu năo trên
lều. NMguyễn Kinh Quốc
Phân
loại nguyên nhân nhồi máu năo:
khảo sát tiền cứu 104 trường hợp. Lê
Nguyễn Nhựt Tín. Thử
nghiệm lập thang điểm lâm sàng để chẩn
đoán phân biệt nhồi máu năo và xuất huyết năo
trên lều. Nguyễn
Bá Thắng. Đánh
giá vai tṛ Doppler xuyên sọ trong chẩn đoán và tiên lượng nhồi
máu năo. Tác giả: BS Nguyễn Anh Tài. Tác giả thực hiện trên
130 bệnh nhân bị nhồi máu năo thuộc phân bố tuần hoàn động mạch
cảnh. Các dữ liệu được xử lư bằng thử nghiệm đơn biến,
sau đó qua phân tích hồi quy đa biến để t́m yếu tố độc lập
dự đoán kết quả Doppler xuyên sọ về tổn thương động mạch năo
và kết quả về mặt chức năng (Barthel index) khi bệnh nhân xuất
viện. Tác giả nhận thấy phân loại lâm sàng theo Bamford và kết
quả Doppler xuyên sọ có liên hệ rất có ư nghĩa: các bất thường
Doppler xuyên sọ thấy trên 86,2% số bệnh nhân bị nhồi máu năo
tuần hoàn trước toàn bộ và 48% số bệnh nhân bị nhồi máu năo
tuần hoàn trước một phần. Tỷ lệ bất thường Doppler là 92,3%
trong nhóm có bệnh tiểu đường, và 56% trong nhóm không có bệnh
tiểu đường. Phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố tương
quan với thang điểm barthel khi xuất viện là: phân loại lâm sàng
theo Bamford, tiền sử đái tháo đường, và Doppler xuyên sọ. Phân
tích hồi quy binary logistic regression thấy duy nhất chỉ có phân loại
lâm sàng theo Bamford là yếu tốt iên đoán độc lập. Nghiên cứu áp
dụng phẫu thuật định vị không gian ba chiều
để chẩn đoán các thương tổn sâu trong đại năo.
Dương Minh Mẫn - Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh. Xây dựng
phương tŕnh dự đóan đa biến giúp chẩn đóan phân biệt viêm màng năo mủ và viêm
màng năo siêu vi. Lê Văn Minh.
Đánh
giá lâm sàng và phương pháp chẩn đoán điện bệnh đa dây thần
kinh do suy thận mạn.Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn. Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược. TP Hồ Chí Minh, ngày
28-4-2004. Tác giả khảo sát 53 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn
cuối và nhận thấy có một tỷ lệ lớn (58,5%) bị bệnh đa dây
thần kinh. Trong đó có 16,1% không hề có triệu chứng lâm sàng và
phát hiện được nhờ EMG. Các triệu chứng chủ quan bao gồm chuột
rút (vọp bẻ) chiếm 48,4%, chân không yên (restless leg) chiếm 41,9%.
Biểu hiện bệnh đa dây thần kinh do suy thận mạn trên EMG chủ yếu
là tổn thương sợi trục, tiến triển mạn tính, không thấy kiểu
hủy myelin đơn thuần. Tác giả kiến nghị ứng dụng EMG trong khảo
sát kết quả ghép thận. Nghiên
cứu mối liên quan giữa tăng thân nhiệt và dự hậu trong 30 ngày đầu
của bệnh nhân xuất huyết năo trên lều. Tác giả: Nguyễn Đức
Tuệ. Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược. TP Hồ Chí Minh, ngày
28-4-2004. Tác giả khảo sát 89 bệnh nhân xuất huyết năo trên
lều và rút ra các kết luận sau: 1) tỷ lệ tăng thân nhiệt trong
48 giờ đầu ở bệnh nhân xuất huyết năo trên lều tương đối
cao (67%); 2) Có mối tương quan giữa nhiệt độ cơ thể với thể
tích khối xuất huyết; 3) Các yếu tố tiên lượng độc lập của
xuất huyết năo trên lều là điểm hôn mê Glasgow, thể tích khối
xuất huyết, và nhiệt độ cơ thể 48 giờ đầu; 4) Nhiệt độ cơ
thể c̣n là yếu tố tiên lượng độc lập đối với dự hậu chức
năng và sống c̣n trong 30 ngày đầu ở bệnh nhân xuất huyết năo
trên lều.
Nghiên
cứu lâm sàng và phẫu thuật bệnh hẹp ống sống thắt lưng.
Tác giả: Ngô Nguyên Quang. Bảo vệ tại Trường Đại học Y Dược. TP Hồ Chí Minh, ngày
30-3-2004. Tác giả khảo sát 34 bệnh nhân bị hẹp ống sống
thắt lưng: các dấu
hiệu lâm sàng, công hưởng từ, và kết quả phẫu thuật giải
áp. Tác giả nhận thấy bệnh thường xuất hiện ở người cao tổi
(trung b́nh 64,7 tuổi), không ưu thế giới tính. Triệu chứng d89au
cách hồi thần kinh ở 64,7%, đau theo rễ không rơ (32,4%), Lasegue dương
tính chỉ ở 20,6%. Công hưởng từ là xét nghiệm ưu việt và thay
thế cho chụp bao rễ. Thường thấy hẹp 2 tầng (50%), chủ yếu là
tầng L4-L5 (79,4%). Nguyên nhân chủ yếu là thoát vị đĩa đệm
(64,4%), dầy dây chằng vàng (38,5%), ph́ đại khối khớp sau
(29,4%). Phẫu thuật cắt bản sống giải áp vẫn là phương pháp
an toàn và hữu hiệu, với kết quả tốt và khá là 85,3%.
Khảo
sát lâm sàng và cộng hưởng từ trong thoát vị đĩa đệm cột sống
thắt lưng. Tác giả: Nguyễn Tiến Cường. Bảo vệ tại Trường
ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh, ngày 30-3-2004. tác giả khảo sát các dấu
hiệu lâm sàng và h́nh ảnh MRI trên 56 bệnh nhân được phẫu thuật
do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Chợ
Rẫy. Từ đó tác giả nhận xét về các dấu hiệu lâm sàng và
vai tṛ của MRI trong loại bệnh lư cần phẫu thuật này.
Nghiên cứu lâm sàng, h́nh ảnh học chấn
thương cột sống cổ. Tác giả: BS Hà Thị Thanh Tuyền. Bảo vệ tại
Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày 30-12-2003. Tác giả nghiên cứu các
biểu hiện lâm sàng và h́nh ảnh học trên 230 bệnh nhân chấn thương
cột sống cổ, thấy các vùng dễ bị thương tổn nhất là C2
(16,67%) và C5 (34,31%), C6 (24,05%). 60,8% bệnh nhân có tổn thương xương
và dây chằng, 87% liệt tứ chi. CT scan là xét nghiệm tốt nhất khảo
sát tổn thương xương vùng chẩm - C1-C2. MRI là xét nghiệm được
lựa chọn khi có thiếu sót thần kinh.
Nghiên cứu tạo h́nh bản sống trong điều
trị bệnh tủy do hẹp ống sống cổ. Tác giả: BS Phan Quang Sơn. Bảo
vệ tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày 30-12-2003. Tác giả nghiên
cứu tiền cứu 32 trường hợp bệnh tủy do hẹp ống sống cổ
nhiều tầng được phẫu thuật tạo h́nh bản sống theo phương pháp
Kurokawa. Phương pháp Kurokawa (chẻ đôi gai sau) gồm 5 giai đoạn: bộc
lộ gai sau và bản sống, tạo 2 rănh dọc 2 bên bản sống bằng
khoan cao tốc, chẻ đôi gai sau, giải áp tủy sống, và cột rồi
ghép xương. So sánh bằng thang điểm JOA (hội chỉnh h́nh Nhật Bản),
trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng. Tác
giả khuyên nên phẫu thuật khi có triệu chứng lâm sàng, thang điểm
JOA từ 12 trở xuống, h́nh ảnh học có tiêu chuẩn hẹp ống sống
cổ tương đối hoặc hẹp ống sống cổ nhiều tầng. kết quả đạt
được tương đương với của nước ngoài. Ưu điểm là giải áp
tủy mà không làm mất vững cột sống cổ, ít biến chứng. Nghiên cứu phẫu thuật u màng năo ở bán
cầu đại năo. Tác giả: Trần Huy Hoàn Bảo.
Bảo vệ tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày 26-12-2003. Nghiên cứu
60 trường hợp u màng năo vùng bán cầu đại năo, thấy định khu
vùng trán chiếm tỷ lệ 48,3%, đỉnh 23,3%, thái dương 16,7%, và chẩm
11,7%. Đặc biệt tỷ lệ u màng năo ác tính chiếm tỷ lệ cao
(15%). Các u màng năo vùng bán cầu có thuận lợi về mặt phẫu
thuật (lấy toàn bộ u, xương và màng cứng bị thâm nhiễm),
có 59/60 trường hợp được mổ lấy toàn bộ u. Kết quả sau phẫu
thuật: phục hồi tốt (thang điểm Karnofski 80-100 điểm) và vừa
(thang điểm Karnofski 50-70 điểm) là 86,7%, xấu 13,3% và tử vong
1,7% (1 trường hợp). tuổi và vị trí u không liên quan kết quả
phẫu thuật, trong khi t́nh trạng lâm sàng trước mổ và kích thước
u có liên quan mạnh tới tiên lượng sau mổ. Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến kết
quả phẫu thuật máu tụ trong năo do tăng huyết áp. Tác giả: BS
Nguyễn Quốc Lâm. Bảo vệ tại Trường ĐH Y Dược TP HCM, ngày
26-12-2003. Khảo sát 84 trường hợp phẫu thuật lấy máu tụ trong
năo do cao huyết áp, tác giả nhận thấy yếu tố quan trọng liên
quan tới tiên lượng sdau mổ là: tri giác, huyết áp khi nhập viện,
và t́nh trạng đồng tử. Glasgow coma scale (GCC) trước mổ dưới 8
cho tiên lượng hậu phẫu xấu, nếu GCC dưới 5 th́ 85,7% tử vong
hoặc đời sống thực vật. Đồng tử trước mổ bất thường có
tiên lượng xấu hơn so với đồng tử trước mổ b́nh thường, tỷ
lệ tử vong hay sống thực vật lần lượt là 77,3% so với 32,3%.
Huyết áp trước mổ trên 180/110 mmHg th́ có tiên lượng xấu hơn
huyết áp ở dưới mức đó, tỷ lệ tử vong hay sống thực vật
lần lượt là 59,4% so với 34,6%. Tuổi cao có khuynh hướng kết quả
xấu, tuy nhiên khác biệt không có ư nghĩa thống kê. Đánh giá lâm sàng và điều
trị nhồi máu năo cấp trên bệnh nhân đái tháo
đường type 2. Tác giả: Nguyễn Thị Đức
Hạnh.Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Bảo
vệ: tháng 7 năm 2002. Tác giả tŕnh bày nghiên cứu
của riêng ḿnh trên nhóm gồm 80 bệnh nhân nhồi máu
năo có tiểu đường type 2. Trong nhóm nghiên cứu
này, tác giả phân ra thành nhiều nhóm nhỏ, dựa trên
một số chỉ số như huyết áp, đường
huyết lúc nhập viện,... để tiến hành so sánh
tỷ lệ tử vong và chỉ số Barthel sau 1 tháng.
Từ đó tác giả đi tới kết luận nên
kiểm soát đường huyết sau khi nhập
viện, trong điều trị nên lưu ư những
yếu tố liên quan bệnh tiểu đường như:
insulin trên bệnh nhân suy thận, áp lực thẩm
thấu huyết tương, các biến chứng tim
mạch và thận vốn có của tiểu đường.
Một kết luận quan trọng là thời gian mắc
bệnh tiểu đường càng lâu, th́ khi bị
nhồi máu năo tỷ lệ tử vong càng cao và khả năng
phục hồi càng kém. B́nh
luận thêm: Theo những dữ liệu của thử
nghiệm đa trung tâm TOAST, được dẫn lại
trên tạp chí Văn thư lưu trữ
Thần kinh học (Archives of Neurology) số tháng 8 năm
2000, th́ tăng đường huyết lúc nhập
viện là 1 yếu tố độc lập quan trọng tiên
lượng tử vong và tỷ lệ tàn tật. Nghiên
cứu trên 1259 BN đột quỵ thiếu máu không
phải dạng lỗ khuyết, cho thấy mức
đường huyết cao hơn lúc nhập viện cho
dự hậu xấu hơn sau 3 tháng. Tuy nhiên trong đột
quỵ dạng lỗ khuyết, tăng đường
huyết dường như không có hại mà lại có
lợi. Từ đó nhiều tác giả khuyên nên dùng
insulin điều trị chứng tăng đường
huyết trong giai đoạn sớm của đột
quỵ, nếu đột quỵ không phải dạng
lỗ khuyết. Trong nghiên cứu của tác giả Đức
Hạnh, phải chăng do ảnh hưởng trái ngược
nhau giữa 2 nhóm đột quỵ (lỗ khuyết vs không
lỗ khuyết) nên tổng hợp lại, tác giả
nhận thấy mức đường huyết lúc
nhập viện không ảnh hưởng đến tỷ
lệ tử vong cũng như mức độ phục
hồi ? Đánh giá hiệu quả và tính an
toàn của Aspirin trong điều trị thiếu máu năo
cục bộ cấp tính. Tác giả: Nguyễn Huy
Thắng.Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Bảo
vệ: tháng 7 năm 2002. Đây
là công tŕnh nghiên cứu tiền cứu có kiểm soát,
thực hiện trên 92 bệnh nhân, chia làm 3 nhóm: nhóm
chứng gồm 31 người, nhóm dùng Aspirin ngay trong 24
giờ đầu là 24 người, và nhóm dùng Aspirin trong
24-48 giờ là 32 người. Dùng toán thống kê để
so sánh các thông số lâm sàng và CT scan/MRI vào thời điểm
nhập viện giữa các nhóm, thấy không có khác
biệt. Tác giả khảo sát tỷ lệ tử vong,
xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết trong ổ
nhồi máu, nhồi máu năo tái phát, đồng thời
khảo sát các điểm số lâm sàng như chỉ
số Barthel và điểm đột quỵ Orgogozo, vào 3
thời điểm là: ngày thứ 14, thứ 30 và thứ
90 sau đột quỵ. Tác giả nhận thấy ở nhóm
không dùng Aspirin, có 2 bệnh nhân tái phát nhồi máu năo,
trong khi trong cả 2 nhóm dùng Aspirin không có 1 trường
hợp nào tái phát. Ngược lại, trong 2 nhóm dùng
Aspirin, tổng cộng có 2 trường hợp xuất
huyết tiêu hóa, trong khi nhóm chứng không có trường
hợp nào. So sánh chỉ số Barthel và điểm Orgogozo
thấy có xu hướng cải thiện hơn ở 2 nhóm
dùng Aspirin. B́nh
luận thêm: Theo các kết quả của việc phân tích
5 thử nghiệm lâm sàng với tổng cộng 52.251 người
tham gia, được báo cáo trên tạp
chí Văn thư lưu trữ Thần kinh học (Archives of
Neurology) số tháng 3 năm 2000, th́ khác hẳn với
hiệu quả tích cực của Aspirin trên bệnh pḥng
ngừa nhồi máu cơ tim, Aspirin không làm giảm
được nguy cơ nhồi máu năo tiên phát, ngược
lại có vẻ làm tăng nguy cơ đột quỵ nói
chung. Điều này có liên quan tới t́nh trạng tốt
xấu song hành của Aspirin (the aspirin dilemma), ví dụ
Aspirin c̣n có tác dụng làm tăng huyết áp tư
thế nằm và đối kháng tác dụng của
một số thuốc hạ huyết áp, từ đó làm
tăng nguy cơ nhồi máu và chảy máu năo, hoặc trên
động mạch b́nh thường không có bệnh lư
vữa xơ, th́ tác dụng ức chế tổng hợp
prostacyclin nội mạch có thể đưa đến
sự h́nh thành huyết khối. Tuy nhiên công tŕnh của
BS Huy Thắng thuộc lĩnh vực khác: pḥng ngừa
huyết khối trên bệhn nhân đă có bệnh lư
vữa xơ mạch (đă bị huyế tkhối, nay
dự pḥng tái phát), cho kết quả là có lẽ aspirin không
có hiệu quả ǵ nhiều trong giai đoạn cấp
của đột quỵ huyết khối. Kết quả điều
trị áp xe năo. Tác giả: Trần Duy Hưng. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm
1999. Tác giả có 100 bệnh nhân, có 23 điều trị
nội khoa và 77 điều trị phẫu thuật. Tác
giả nhấn mạnh tới ư nghĩa của chẩn
đoán và điều trị sớm, phân tích giá trị
điều trị của kháng sinh và Corticoides, cũng như
phân tích các số liệu của từng phương pháp
phẫu thuật. Tác giả nhấn mạnh về các khác
biệt giữa phẫu thuật bóc bao với chọc hút,
và khuyến cáo lựa chọn phương pháp tùy
thuộc t́nh trạng bệnh lư của từng bệnh nhân
cụ thể. Một số yếu
tố tiên lượng tử vong sớm trong xuất
huyết năo. Tác giả Hàn Tiểu Sảo. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 5 năm
2000. Các đột quỵ (tai biến mạch máu năo) đứng
hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong. Các đột
quỵ do chảy máu chiếm khoảng 20% tổng số
đột quỵ, trong đó xuất huyết trong năo
(intracerebral hemorrhage) chiếm một tỷ lệ quan
trọng và tỷ lệ tử vong trong ṿng 30 ngày đầu
khoảng từ 30 tới 60%. Trong số bệnh nhân tử
vong do xuất huyết trong năo, th́ tử vong trong 2 ngày
đầu chiếm khoảng trên dưới 50%. BS Hàn
Tiểu Sảo nghên cứu t́m cách tiên lượng
sớm khả năng sống c̣n của bệnh nhân
chảy máu trong năo, dựa vào các dấu hiệu khách quan
ngay khi mới nhập viện. Theo một số tác
giả, trong xuất huyết trong năo, những dấu
hiệu sau đây được coi là có tiên lượng
xấu: 1)Ư thức kém, nhất là t́nh trạng hôn mê.
2)Thể tích khối máu tụ ³ 60 mL. 3) Di lệch
đường giữa. 4) Chẩy máu vào năo thất
với khối lượng ³ 20 mL. 5) Tuổi cao, nhất là
tuổi ³ 70. 6) Liệt chân tay nặng. 7) Tăng Glucose máu
sớm. Trong luận văn, hầu hết các kết
luận của tác giả đều gần tương
đồng. Tuy nhiên tác giả nhận thấy tuổi không
phải là một yếu tố tiên lượng xấu. Tác
giả đă rút ra những kết luận về HAmin,
HAmax, kết quả nghiên cứu phù hợp với quan
điểm nước ngoài và không phù hợp với quan
điểm của một số BS thần kinh Việt nam. Phẫu thuận tạo h́nh
khuyết ṿm sọ bằng xương sọ tự thân
bảo quản lạnh sâu. Tác giả: Nguyễn Kim Chung. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm
2000. Tại nước ta đă có nhiều công tŕnh nghiên
cứu với các vật liệu tạo h́nh hộp sọ
khác nhau: Nguyễn Danh Đô dùng bản ngoài xương
sọ tự thân, Nguyễn Công Tô và Vơ Văn Nho dùng
vật liệu tổng hợp Carbon Intost –2. Tác giả
luận văn dùngd vật liệu mới ở Việt nam
là xương sọ tự thân bảo quản lạnh sâu.
Tác giả đă nghiên cứu trên 107 bệnh nhân
được phẫu thuật từ tháng 1 năm 2000 cho
tới tháng 6 năm 2000. Điều trị máu
tụ ngoài màng cứng hố sau do chấn thương.Tác
giả: Nguyễn Trọng Thiện. Trường Đại
học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm 2000. Máu
tụ ngoài màng cứng hố sau mặc dù chiếm
một tỷ lệ thấp trong tổng số các máu
tụ nội sọ do chấn thương, nhưng lại
khó chẩn đoán và điều trị, khó cứu
sống hoặc để lại di chứng nặng
nề. Tác giả đă nghiên cứu trên 135 trường
hợp được điều trị trong 2 năm 1998 và
1999 tại BV Chợ rẫy. Tác giả nhấn mạnh
những gợi ư hướng tới chẩn đoán là: cơ
chế chấn thương, vết đụng dập da
đầu vùng chẩm, t́nh trạng rối loạn hô
hấp tuần hoàn, vết nứt sọ trên phim X quang thường.
Việc sử dụng CT scan để chẩn đoán
sớm và theo dơi diễn biến khối máu tụ hố
sau sẽ giúp cho chỉ định điều trị
bảo tồn hay phẫu thuật kịp thời. Kết
luận: tuổi cao, mức tri giác trước mổ kém
dựa vào GCS, và các thương tổn nội sọ
đi kèm, là những yếu tố tiên lượng
xấu của máu tụ ngoài màng cứng hố sau. Wong
C.V. th́ điều trị bảo tồn khi máu tụ dày dưới
15 mm, tác giả thấy chỉ nên điều trị
bảo tồn khi máu tụ dầy dưới 5 mm. Phẫu thuật vá lỗ
ḍ màng cứng trong vỡ sàn sọ trước. Tác
giả: Phùng Đăng Khoa. Trường Đại
học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm 2000.
Số liệu được thu thập từ Bệnh
viện Nhân dân 115 và Chợ rẫy. Tác giả nêu 5 nhóm
đặc điểm lâm sàng kết hợp cận lâm sàng
để chẩn đoán lỗ ḍ màng cứng không lành
được với điều trị nội khoa.
Từ tỷ lệ thất bại cao hơn so với Sakas:
trong 41 trường hợp mổ có phát hiện được
lỗ ḍ và được thống kê trong luận văn,
th́ thất bại 6, trong đó tử vong 2; Trong khi tác
giả Sakas mổ 28 ca, không có tử vong và chỉ có 1
thất bại. Tác giả có phân tích kỹ các trường
hợp thất bại: và rút ra những kết luận rơ
ràng về việc nên mở sọ trán hai bên cho tất
cả các ca, và khi đă có chỉ định phẫu
thuật th́ nên mổ sớm bỏ qua giai đoạn
điều trị nội khoa. Tác giả cũng khuyến
cáo dùng bột xương, màng xương và cân cơ thái
dương của chính bệnh nhân làm nguyên liệu để
vá là tốt nhất, không cần sử dụng màng
cứng hay keo sinh học tổng hợp. Vai tṛ giải áp trong
điều trị máu tụ dưới màng cứng
cấp tính nặng do chấn thương. Tác giả:
Nguyễn Hữu Minh. Trường Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm 2000. Tác giả đă nghiên
cứu trên 320 trường hợp được phẫu
thuật giải áp tại Bệnh viện Chợ rẫy và
Nhân dân 115. Tác giả nhấn mạnh cần thực
hiện phẫu thuật trước khi có dấu hiệu
suy sụp trầm trọng về thần kinh, và kích thước
nắp sọ phải đủ rộng. Tác giả
thấy nên phẫu thuật trước 4 giờ khi điểm
Glasgow c̣n cao, và t́nh trạng tri giác lúc phẫu thuật là
yếu tố chính đánh giá dự hậu. Tác giả cũng
cho thấy đóng kín rộng màng cứng làm giảm sang
chấn bờ khuyết sọ và c̣n tạo hàng rào
hữu hiệu chống nhiễm trùng. Công tŕnh nghiên
cứu có tính đến tương quan giữa các
yếu tố trước mổ với kết quả sau
mổ, cũng như tính tương quan giữa kích thước
nắp sọ được mở cùng biện pháp xứ
lư vá màng cứng với kết quả phẫu thuật và
biến chứng hậu phẫu. Đánh giá lâm sàng và
điều trị phẫu thuật u sao bào ở bán
cầu đại năo. Tác giả: Nguyễn Quang Hiển. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm
2000. Trong các u năo, u tế bào thần kinh đệm
(gliomas) chiếm tỷ lệ khoảng 56-70%, và trong các u
tế bào thần kinh đệm th́ u tế bào h́nh sao
(astrocytomas) hay c̣n gọi là u sao bào chiếm tỷ lệ
trên 25% (Anthony Hopkins, 1994). U sao bào có thể có những
định khu khác nhau, độ ác tính thay đổi khác
nhau, do vậy đ̣i hỏi phương pháp mổ và các
trị liệu phối hợp khác nhau. Tác giả nghiên
cứu trên 76 bệnh nhân đă phẫu thuật. Tác
giả phân chia kết quả ra làm 4 độ Khả năng điều trị
ngoại khoa máu tụ trong năo do cao huyết áp xơ
vữa động mạch. Tác giả: Lê Xuân Long. Tại
Việt nam, theo thống kê của Bộ môn thần kinh
học trường ĐH Y Dược TP HCM tỷ lệ
tai biến mạch máu năo là 415/100 000 dân. Trong các tai
biến mạch máu năo th́ chảy máu năo chiếm 15-20%,
trong đó có tỷ lệ máu tụ trong năo là khá
lớn. Một trong những vấn đề tranh luận
trong điều trị máu tụ trong năo là điều
trị nội khoa đơn thuần hay phẫu thuật
lấy bỏ khối máu tụ, và nếu can thiệp
phẫu thuật th́ vào thời điểm nào và với
kỹ thuật nào cho thích hợp với hoàn cảnh
Việt nam. Tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân
được can thiệp phẫu thuật của tác
giả là 16,7%, thấp hơn nhiều so với tỷ
lệ tử vong chung ở các nhóm chỉ điều
trị nội khoa đơn thuần là 30 tới 55% (tùy
theo các tác giả khác nhau). Ngoài ra, tác giả c̣n nêu
được 1 số liệu khá mới là liên quan
giữa vị trí máu tụ với tỷ lệ tử
vong, trong đó máu tụ ở thùy năo tử vong 0% c̣n máu
tụ ở bao trong tử vong 26,08%. Tác giả đă đề
xuất tiêu chuẩn chỉ định mổ cho loại
bệnh lư này. Điều trị găy cột
sống lưng - thắt lưng bằng phương pháp
nẹp vít cuống cung. Nguyễn Phong. Trường đại
học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1999.
Gẫy cột sống là một bệnh lư chấn thương
nặng nề, có thể kèm tổn thương thần
kinh, gây tàn phế suốt đời hoặc tử vong.
Trong đó găy cột sống đoạn tiếp nối lưng
- thắt lưng rất thường gặp do đặc
điểm giải phẫu. Phương pháp mổ
đường sau, làm cứng bằng nẹp vít cuống
cung tạo điều kiện cố định trong
chắc chắn, cho phép vận động sớm, tránh các
biến chứng do nằm lâu, giảm thời gian nằm
viện, trong khi kỹ thuật mổ đơn giản, ít
biến chứng, có thể thực hiện được
ở tuyến tỉnh. Tác giả đă đưa ra
những kết quả dựa vào đo đạc sự
thay đổi trước và sau mổ của góc gù,
mức độ di lệnh và chiều cao thân sống.
Số liệu được lấy từ 129 bệnh nhân
của bệnh viện Chợ rẫy. Tác giả nêu
rỏ những ưu điểm của phương pháp
cố định nẹp vít cuống cung, cũng như
những nhược điểm của phương pháp này.
Đồng thời, tác giả cũng nêu những cải
tiến đă thực hiện và mạnh dạn đề
xuất phương hướng phát triển kỹ
thuật. Tác giả nêu rơ lại sự cần thiết
sản xuất nẹp vít kiểu Steffee, kết hợp
với dùng phương pháp chụp cắt lớp vi tính
để nghiên cứu h́nh thái học của cột
sống khu vực giải phẫu này, đồng thời
với phát triển thêm kỹ thuật mổ theo
đường trước. Nguyên nhân, thương tổn và
điều trị vết thương sọ năo thời b́nh.
Phùng Quốc Thái. Trường Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1999. Số liệu lấy
từ 126 bệnh nhân. Tác giả so sánh các kết quả
có được với các số liệu của
những tác giả khác, trong những thời kỳ khác,
từ đó rút ra những nhận xét của riêng tác
giả về các vấn đề liên quan vết thương
sọ năo được nêu ra trong luận văn. Tác
giả liệt kê tóm tắt và nêu lại các số
liệu thống kê chủ chốt về vết thương
sọ năo trong công tŕnh của ḿnh, từ đó nhấn
mạnh cần điều trị phẫu thật càng
sớm càng tốt trước 6 giờ, nên cố gắng
vá kín màng cứng, vai tṛ của chẩn đoán h́nh
ảnh và kháng sinh và xử trí phẫu thuật ở
tuyến tỉnh. Thoát vị đĩa đệm
cột sống cổ: triệu chứng lâm sàng, phân
bố và kết quả phẫu thuật. Vơ Xuân Sơn. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm
1999.Tác giả đă mổ 147 trường hợp và
chọn được 96 trường hợp đủ tiêu
chuẩn nghiên cứu. Tác giả tŕnh bày tỷ mỷ các
số liệu thống kê của ḿnh, đặc biệt
bao gồm các mức phân bố của thoát vị và các
kết quả phẫu thuật theo các phương pháp khác
nhau. Tác giả cho biết không có khác biệt về
khả năng hồi phục giữa các nhóm được
mổ bằng các kỹ thuật khác nhau, kết quả có
được của tác giả tương đương
với của các tác giả nước ngoài. Điều trị phẫu thuật u
màng năo cạnh xoang tĩnh mạch dọc trên và liềm
năo. Phan Trung Đông. Trường Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh.Tháng 9 năm 2000. U màng năo chiếm
khoảng 20% các u năo nội sọ, trong các u màng năo th́ u
màng năo cạnh xoang tĩnh mạch dọc trên và liềm
năo cũng chiếm xấp xỉ trên 20%. Do vị trí
của nó có liên quan với xoang tĩnh mạch dọc trên
và động mạch năo trước, các u màng năo ở
đây có thể tạo những khó khăn phức
tạp cho phẫu thuật. Nghiên cứu thực hiện
từ năm 1996 tới 2000, với 52 trường hợp.
Tác giả nêu lên được các số liệu cụ
thể về những triệu chứng của u màng năo
cạnh xoang tĩnh mạch dọc trên và liềm năo, các
phân bố của nó và kỹ thuật mổ. Tỷ
lệ thành công sau mổ chiếm tới 88,8% và tử vong
là 3,8%. Đặc điểm mạch máu
của các dị dạng động - tĩnh mạch năo
trên mạch năo đồ. Lê Văn Tuấn. Trường
Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Tháng 10 năm
2000. Tác giả nghiên cứu trên 30 trường hợp
dị dạng mạch máu năo. Tỷ lệ bị xuất
huyết là 20/30 bệnh nhân, là một tỷ lệ
rất cao (thực tế chỉ có những dị dạng
có biến chứng mới làm cho bệnh nhân vào viện và
chịu cho chụp mạch năo đồ). Tác giả
nhận xét về các mối liên hệ về h́nh ảnh
học với 2 loại dị dạng động – tĩnh
mạch năo. Những liên hệ với dị dạng động
– tĩnh mạch năo gây xuất huyết bao gồm: ổ
dị dạng có kích thước của ổ nhỏ và
vị trí liên quan năo thất nằm ở sâu, tĩnh
mạch dẫn lưu loại ở sâu ; C̣n những
yếu tố liên hệ với dị dạng động
– tĩnh mạch năo không gây xuất huyết gồm
động mạch nuôi bất thường từ vỏ năo
và nguồn mạch máu nuôi từ động mạch năo
sau. Bước đầu áp dụng vi
phẫu trong mổ u nguyên tủy bào ở hố sau.
Trần Quang Vinh. Trường Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1999. U nguyên tủy bào (UNTB)
ở hố sau là loại u ác tính thường gặp
nhất trong các loại u của hệ thần kinh trung
ương ở trẻ em, tỷ lệ tử vong sau
mổ cao hơn các loại khác, lư do v́ u nằm rất
gần các cấu trúc quan trọng ở thân năo, năo
thất 4, các động mạch tiểu năo. Nhờ
ứng dụng mổ vi phẫu lấy UNTB, tỷ lệ
tử vong sau mổ đă giảm xuống rất thấp.
Tác giả đă mô tả tỷ mỷ các triệu
chứng lâm sàng và cận lâm sàng, nêu bật ư nghĩa
của phương pháp mổ vi phẫu trong kết
quả sau mổ. Trong 13 trường hợp mổ vi
phẫu, đạt kết quả tốt 61,5% trong khi
mổ không vi phẫu là 42,9%, kết quả xấu là 7,7%
trong khi mổ không vi phẫu là 17,1%, tử vong cũng là
7,7% trong khi mổ không vi phẫu cũng là 17,1%. |
|
|