|
|
KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG LÂM
SÀNG
CỦA
TOXIN BOTULINUM
TS.BS.
Nguyễn Thi Hùng (Trưởng khoa nộI thần kinh BV
Nguyễn Tri Phương, BS thuộc đơn vị
Thần kinh – Cơ BV trường ĐH Y Dược) Bài
thuyết tŕnh trong workshop về Dysport tháng 7 năm 2003
tạI TP Hồ Chí Minh. Toxin
Botulinum (BTX) là hoạt chất gây liệt thần kinh cơ
rất mạnh và đă có vai tṛ nổi bật trong điều
trị học thần kinh từ nhiêu năm nay. Toxin này
đă điều trị thành công chứng lé mắt,
loạn trương lực cơ cổ, bại năo và
gần đây đă cho thấy rất hiệu quả trong
điều trị chứng tăng tiết mồ hôi khu trú,
nhức đầu do căng thẳng, đau màng cân cơ,
đau lưng, và điều trị thẩm mỹ để
làm giảm bớt các vết nhăn trên mặt. I.
CƠ CHẾ VÀ VỊ TRÍ TÁC DỤNG: BTX
làm giảm t́nh trạng co thắt bất thường
của cơ trong một thời gian khá dài khi được
chích vào cơ tăng hoạt là do sự ức chế nơron
vận động tại đó. Hoạt động
của bó cơ bị ngăn chặn thông qua tác động
ức chế nơi tiếp hợp cholinergic của sợi
nơron vận động ? trong thoi cơ. Hoạt chất
này tác động tại nơi tiếp hợp thần
kinh cơ nên ngăn cản sự phóng thích Acetyl choline và
gây ra liệt. Về
mặt dược lư, độc tố này do vi trùng
Clostridium Botulinum tiết ra gồm 7 loại khác biệt
về mặt huyết thanh học là Toxin A, B, C1, C2, D, E, F
trong đó loại A đầu tiên được áp
dụng trong điều trị. Toxin được
tổng hợp từ một chuỗi polypeptid có trọng lượng
phân tử gần 150.000. Ở cấu trúc này, phân tử
độc tố có hoạt lực tương đối
thấp, nhưng khi bị một số enzym của vi
khuẩn và trypsin tách ra thành hai chuỗi nặng (100.000
dalton) và nhẹ (50.000 dalton) nối với nhau bằng
cầu nối sulfur có gắn với một phân tử Zn,
th́ với cấu tạo này Toxin có tác dụng ức
chế sự dẫn truyền thần kinh cơ. Toxin tác
dụng qua 3 giai đoạn: Kết nối, Thâm nhập,
Ức chế sự phóng thích chất dẫn truyền
thần kinh. Toxin không có ảnh hưởng vào sự
tổng hợp hay dự trữ Acetyl choline nhưng ảnh
hưởng vào sự phóng thích chất này ở sợiï
tận cùng tiền tiếp hợp. Chuỗi nặng có
hoạt tính cholinergic và có khả năng kết nối, c̣n
chuỗi nhẹ là cấu trúc gây độc nội bào. Thuốc
có thể có tác dụng tại hệ mao mạch v́ ở
các bệnh nhân tăng tiết mồ hôi khu trú thường
thấy có hiện tượng thay đổi tuần hoàn
da sau khi chích Toxin. Những nghiên cứu gần đây
về Toxin Botulinum cho thấy hoạt chất này làm
giảm cơn đau của migraine có thể qua tác
dụng lên cấu trúc mạch máu vùng sọ. Một nghiên
cứu thực nghiệm c̣n cho thấy BTX có ái lực
với các cấu trúc như hạch rễ cảm giác nên
giải thích được tác dụng giảm đau
của Toxin Botulimum. II.
ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA TOXIN BOTULINUM
1.
Loạn trương lực cơ khu trú: Hiệu
quả của Toxin lần đầu tiên được
chứng minh qua nghiên cứu năm 1987 về điều
trị co giật của mí mắt, sau đó là các
loại loạn trương lực cơ khu trú khác như
loạn trương lực cơ cổ, mất thực
dụng mí mắt (Lid apraxia), loạn trương lực
miệng hàm, loạn trương lực cơ thanh
quản, loạn trương lực chi. 1.1.Loạn
trương lực cơ cổ: Rất
nhiều nghiên cứu đă chứng minh hiệu quả
của BTX trong điều trị loạn trương
lực cơ cổ
(Jankovic, Brin, Comella, Tsui, Pullman…). FDA
và NINDS đă khuyến cáo dùng BTX điều trị
loạn trương lực cơ cổ và co giựt mí
mắt từ đầu những năm 90. Tỷ lệ
mắc bệnh này là 3/10.000 dân, ở Hoa Kỳ có
khoảng 83.000 người mắc bệnh này. Triệu
chứng lâm sàng là có sự co thắt từng đợt
hay kéo dài của các cơ quanh cổ. Hiện tượng
co thắt làm đầu của người bệnh nghiêng
sang một bên hay bị kéo ra phía trước hay phía sau.
Hai vai có thể không ngay bằng nhau và có hiện tượng
run ở đầu hay cánh tay. Luôn có hiện tượng
đau nhiều, liên tục ở các cơ co thắt.
Bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi 25 đến
55 tuổi, thường gặp ở phụ nữ và nguyên
nhân chưa rơ, đôi khi khởi phát sau một chấn thương
ở vùng cổ hay đầu. H́nh như có mối liên
hệ về di truyền với khoảng 5% người
bệnh có ít nhất một người thân bị
loạn trương lực cơ cổ và 50% tiền
sử gia đ́nh có người bị run ở đầu
hay bàn tay. Có 4 kiểu loạn trương lực cơ
cổ là loại xoay (đầu quay về một bên do co
thắt cơ gối đầu cùng bên, cơ ức đ̣n
chũm đối bên), nghiêng (đầu nghiêng về phía
vai, do co thắt cơ ức đ̣n chũm cùng bên, cơ
gối đầu, cơ bậc thang, cơ nâng vai, cơ
sau cột sống cùng bên), ngữa đầu ra sau (do cơ
gối đầu hai bên, cơ bậc thang hai bên), ngữa
đầu ra phía trước (do cơ ức đ̣n chũm,
cơ bậc thang, cơ dưới cằm hai bên). Điều
trị bằng thuốc kháng cholinergic và các benzodiazepines
chỉ làm giảm triệu chứng rất ít mà tác
dụng phụ lại khó chịu. Điều trị
bằng BTX chích tại chỗ các cơ tăng hoạt cho
kết quả rất khả quan. Liều
lượng BTX để điều trị loạn trương
lực cơ cổ thay đổi theo cá thể như
đối với cơ ức đ̣n chũm (100đv),
gối đầu (200 đv) cơ bậc thang (200 đv), nâng
vai (100 đv). Đây là đơn vị Dysport của
thị trường Châu Âu (500 đv một chai), c̣n
thị trường Bắc Mỹ thường dùng Botox
(100 đv mỗi chai). Vài năm gần đây đă có
loại Toxin Botulimum B (biệt dược Myobloc) được
dùng cho các bệnh nhân bị giảm hiệu quả tác
dụng với BTX A do sau nhiều lần chích có thể
sinh ra kháng thể chống lại BTX A. Về hiệu
lực lâm sàng, một số nghiên cứu ácho thây 1 đv
Botox bằng khoảng 3 đv Dysport. Lần
đầu tiên nên dùng liều thấp và chích ở
nhiều điểm tại cơ bị co thắt (2-4 điểm).
Tác dụng bắt đầu thấy rơ từ tuần
lễ 1 đến 2 sau khi chích và kéo dài 3-5 tháng, trung b́nh
nên chích lại sau 4-6 tháng tùy trường hợp bệnh
nhân. Bệnh nhân mới bị loạn trương lực
cơ cổ đáp ứng tốt hơn bệnh nhân đă
bị lâu. Thống kê cho thấy khoảng 28% bệnh nhân
có các tác dụng không mong muốn sau khi chích như khó
nuốt, yếu vai, buồn nôn. Riêng triệu chứng khó
nuốt thường khỏi trong ṿng 2 tuần lễ.
Việc thăm khám các cơ co thắt chủ yếu
dựa vào quan sát bệnh nhân ở tư thế tự nhiên
với mắt mở và nhắm, khi đứng, đi
lại, ngồi và viết chữ, xoay chuyển đầu
bệnh nhân để phát hiện các vị trí bị
loạn trương lực, các cơ co thắt, bị
đau hay ph́ đại. Điện cơ kư (EMG)không
cần phải sử dụng cho các thể lâm sàng điển
h́nh mà nên dùng cho các loại loạn trương lực cơ
cổ phức tạp có sự co thắt của các cơ
ở lớp sâu hay có nhiều nhóm cơ tham gia. Tuy nhiên
một số nghiên cứu gần đây cho thấy
với sự hỗ trợ của EMG, độ chính xác
của kỹ thuật chích các cơ tăng hoạt
được cải thiện khi sử dụng loại
kim có 2 ṇng để tiêm BTX và để làm điện
cực ghăm kim khảo sát cơ bị loạn trương
lực. 1.2.
Co giựt mí mắt: Công
tŕnh nghiên cứu đầu tiên là của Jankovic vào năm
1987 và đă ghi nhận tỷ lệ cải thiện ở
mức độ tốt và trung b́nh chứng co giựt mí
mắt là 94% (thử nghiệm trên 90 bệnh nhân). Có tác
giả tiêm 7-5 đv BTX Dysport vào mí mắt trên và dưới
ở 3 điểm khác nhau, có tác giả lại chích 5
điểm ở mí mắt trên, dưới, khóe mắt và
chân mày gần khóe mắt. Hiệu quả trung b́nh là 3-4
tháng. Hiện nay BTX là phương pháp được
lựa chọn để điều trị co giựt mí
mắt vô căn và do thuốc (L-Dopa, thuốc an thần
kinh).Đây là kỹ thuật theo chúng tôi có kết
quả cao nhưng cần thận trọng khi thao tác để
tránh hiện tượng sụp mi. 1.3.
Loạn trương lực chi: Điều
trị loạn trương lực chi và đặc
biệt chứng bịnh “bàn tay co rút của văn sĩ”
(writer’s cramps) bằng các phương pháp vật lư
trị liệu, phương pháp dăn cơ, thuốc và
phẫu thuật vẫn c̣n cho kết quả rất khiêm
tốn. Hiện có một số nghiên cứu mở và mù
đôi có đối chứng đă ghi nhận chích BTX vào
các cơ bàn tay và cẳng tay có chọn lọc đă cho
kết quả khả quan để điều trị
chứng bệnh loạn trương lực cơ khi
thực hiện động tác chuyên biệt (Task specific
occupationnal dystonia). Các cơ được chích BTX là các cơ
gập các ngón nông, gập các ngón ngón sâu, gập cổ
tay quay, gập cổ tay trụ, gập ngón cái dài,
duỗi chung ngón cái, duỗi chung các ngón, duỗi cổ
tay quay, duỗi cổ tay trụ, cơ sấp cẳng tay, cơ
déïp, cơ bụngđôi, cơ chày sau với liều lượng
BTX thay đổi từ 100-150 đv cho cơ chi trên đến
200-300 đv cho cơ chi dưới. Với
sự trợ giúp của điện cơ kư, hiệu
quả chích đúng mục tiêu sẽ cao hơn. Loạn trương
lực chi là một bệnh lư điều trị khó khăn
và phức tạp. Thí dụ trong chứng “bàn tay co rút
của văn sĩ hay một số rối loạn trương
lực chi trên của một số người làm các công
việc có tính chất chuyên biệt và tinh tế như:
đánh piano, đánh máy, nhạc công, thể thao gia…
việc xác định các cơ đ̣i hỏi sự chính
xác cao, điện cơ kư nhiều kênh có hiệu quả
trong việc xác định cơ. Tuy nhiên, v́ các cơ bàn
tay thường nhỏ, nằm ở các lớp nông sâu
gần nhau, và trong quá tŕnh loạn trương lực cơ
lại có sự tăng hoạt của cả cơ đối
kháng nên việc xác định và chọn lọc cơ
mục tiêu để chích BTX rất khó khăn. Thuốc c̣n
có thể khuếch tán vào các cơ lân cận nên làm
yếu cả cơ không bị tăng hoạt. Đây là
phương pháp đă chứng tỏ có kết quả nhưng
không cao như điều trị loạn trương
lực cơ cổ, trong co giựt mí mắt. Loạn trương
lực chi dưới như hiện tượng gập ḷng
và xoay trong bàn chân, loạn trương lực ngón chân,
loạn trương lực cổ chân.. cũng cải
thiện đáng kể khi chích tại chỗ BTX. 1.4.
Loạn trương lực cơ thanh quản (chưa
thực hiện ở Việt Nam): Trước
khi có BTX việc điều trị loạn trương
lực cơ thanh quản rất khó khăn, các thuốc kháng
cholinergic và Benzodiazepines cho hiệu quả rất khiêm
tốn. Vấn đề chẩn đoán bệnh này
cần sự phối hợp khám tai mũi họng,
thần kinh và giọng nói một cách tỉ mỉ
chuẩn xác. Nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi
đă cho thấy BTX có hiệu quả trong điều
trị loạn trương lực cơ thanh quản. Có 3
kỹ thuật chính được thực hiện ở các
nước phát triển: (1)
Chích vào 1 bên cơ thanh âm có hướng dẫn
bằng điện cơ kư. (2)
Chích vào 2 bên có điện cơ kư hướng
dẫn với liều lượng 1,25-4 đv vào mỗi
nếp thanh âm. (3)
Chích có hướng dẫn của nội soi thanh
quản. Dù
với kỹ thuật nào, kết quả đă cho thấy
tỷ lệ cải thiện giọng nói là 75-95% ở
bệnh nhân co thắt dạng áp (Adductor dysphonia).Các tác
dụng phụ là tiếng nói nhỏ đi, khàn tiếng,
khó nuốt chỉ có tính chất tạm thời. C̣n phương
pháp chích vào cơ nắp phễu sau (cycroarytenoid) có máy
điện cơ kư hướng dẫn có thể có
hiệu quả điều trị loạn trương
lực cơ thanh quản dạng dang (kỹ thuật này có
biến chứng nhiều hơn và hiệu quả kém hơn). 2.
Một số trường hợp rối loạn vận
động khác: 2.1.
Chứng co thắt nửa mặt: Co
thắt nửa mặt không được xem như
loạn trương lực cơ dù gây ra co giựt mí
mắt và vùng mặt, đặc điểm khác biệt
của chứng bệnh này là luôn luôn xảy ra ở
một nửa mặt. C̣n được gọi là rối
loạn động tác kiểu tăng động. Đây
là một rối loạn thần kinh có triệu chứng
co giựt mí mắt không tự ư và tái phát ở cơ vùng
mí mắt, cận sống mũi, vùng miệng, g̣ má, cơ
da cổ và một số cơ khác chỉ ở một
nửa bên mặt. Được xem là một dạng
rối loạn động tác có nguồn gốc ngoại
vi và có thể được xếp loại vào nhóm co
giựt cơ từng phần (Segmental myoclonus). Chứng
bệnh này thường do sự chèn ép hay kích thích
thần kinh mặt bởi một nhánh động mạch
tại chỗ hay bất thường về mạch máu
quanh vùng thân năo. Vi phẫu thuật giải áp thần kinh
mặt cho kết quả tốt nhưng có các biến
chứng là liệt mặt, điếc, đột quỵ
và tử vong. Điều trị bằng cách chích BTX vào các
cơ vùng mặt bị co thắt cho kết quả rất
tốt và là phương pháp thay thế cho vi phẫu
thuật. Theo kinh nghiệm của chúng tôi qua hơn 4 năm
điều trị bằng BTX th́ tỷ lệ đạt
thành công rất cao, biến chứng lại ít và chỉ là
tạm thời (liệt thần kinh mặt, sụïp mi
cải thiện sau 2-3 tuần). Tác dụng kéo dài có
thể đến 5 tháng mới phải chích lại
nếu so với các rối loạn về trương
lực cơ khác. 2.2.
Các rối loạn vận động khác: Toxin
Botulimum cũng đă có hiệu quả trong điều
trị một số bệnh lư khác hiếm gặp như
các biểu hiện rối loạn vận động hay phát
âm của Tic (thí dụ co giựt mí mắt trong một
số bệnh nhân bị Tic). 3.
Bại năo: Bại
năo là rối loạn vận động thường
gặp nhất ở trẻ em với tỷ lệ
khoảng 2 trên 1000 trường hợp trẻ sanh c̣n
sống tại Hoa Kỳ. Đây là các trường
hợp rối loạn vận động không tiến
triển nặng hơn, thường xuất hiện trước
5 tuổi do một số nguyên nhân như bất thường
khi sinh, trước khi sinh, hay do thương tổn hệ
thần kinh trung ương sau sanh (Hội chứng vàng da nhân).
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nguyên nhân chưa
được xác định. Một
cách phân loại bại năo trong thực hành lâm sàng là căn
cứ theo 3 h́nh thái rối loạn vận động: co
cứng cơ, múa vờn và thất điều. Dạng co
cứng cơ trong bại năo được phân thành 3 nhóm: 1)
Liệt nửa người co cứng: là h́nh thái thường
gặp nhất, trẻ gần như duy tŕ được
sự độc lập trong sinh hoạt thường ngày
nhưng sử dụng một chi không tốt như chi bên
lành. 2)
Liệt hai chi co cứng: xuất hiện ở hai bên,
thường là 2 chân và sau khi sinh non. 3)
Liệt tứ chi co cứng: là h́nh thái nặng
nhất của bại năo, co cứng cả tay chân hai bên,
cần sự trợ giúp, có rối loạn về chức
năng thần kinh cao cấp, rối loạn cảm giác, có
các cơn động kinh. Toxin
Botulimum đă cho thấy có hiệu quả cao để
điều trị co cứng cơ trong các trường
hợp bại năo, và cả sau tai biến mạch máu năo,
trong bệnh xơ cứng mảng. Thuốc tác dụng
tại chỗ làm giảm sự co cứng của cơ do
đó cơ có thể phát triển b́nh thường hơn,
chiều dài của cơ tăng hơn nên giảm bớt
nguy cơ co thắt, làm chậm việc phải can
thiệp phẫu thuật. Sau khi chích BTX cần tiếp
tục vật lư trị liệu hỗ trợ. Ở chi trên,
các dạng co cứng cơ thường gặp là: xoay vai
vào trong hay áp vai, gập khuỷu, cánh tay sấp, ngón cái
gập ḷng. Một số cơ được chích BTX là
cơ ngực, cơ lưng rộng, cánh tay quay,cơ hai
đầu, cơ cánh tay, cơ xấp tṛn,cơ gập
cổ tay quay, gập cổ tay trụ, gập ngón cái dài,
áp ngón cái, cơ đối ngón cái với liều lượng
thay đổi từ 50-300 đv Dysport tùy cơ lớn hay
nhỏ. Thí dụ đối với cơ áp ngón cái là 50
đv Botox, nhưng đối với cơ hai đầu là
100- 200 đv. Ở
chi dưới các dạng lâm sàng thường gặp là:
gập háng, gập gối, áp mông, cứng khớp
gối, chân gập ḷng và vẹo ngoài. Các cơ được
chích BTX là cơ thăn, thẳng đùi, cơ dép, cơ
bụng chân, các cơ áp mông, với liều lượng
từ 200-400 đv. Như cơ gập ngón chân cái dài là
150đv, c̣n cơ bụng chân là 200-400 đv Dysport. Tác
dụng của thuốc kéo dài từ 3 đến 6 tháng, và
ở một số trường hợp có thể c̣n lâu hơn.
Vấn đề là chất lượng cuộc sống
của các em đă được cải thiện khả
quan. 4.
Tăng tiết mồ hôi khu trú: Là
t́nh trạng tăng tiết mồ hôi ở ḷng bàn tay, ḷng
bàn chân, nách và mặt. Bệnh lư này chiếm tỉ
lệ 0,5% dân số ở độ tuổi 20 đến
30. Phần lớn thuộc loại vô căn, là hậu
quả của sự tăng hoạt động của các
tuyến mồ hôi ở nách, ḷng bàn tay, ḷng bàn chân, tăng
tiết mồ hôi khu trú cũng có thể xảy ra sau
chấn thương tủy sống hay trong một số
bệnh thần kinh ngoại biên. C̣n tăng tiết mồ
hôi toàn thân có nhiều nguyên nhân từ một số
bệnh lư như đái tháo đường, cường
giáp, lao phổi. Cơ chế bệnh sinh của loại tăng
tiết mồ hôi khu trú vô căn tất nhiên là chưa rơ.
Vấn đề điều trị loại tăng
tiết mồ hôi khu trú này trước kia có nhiều
biện pháp như điều trị tại chỗ (thoa các
dung dịch acid, aldehyd và muối kim loại nặng). Tuy nhiên,
nhược điểm là phải thoa thường xuyên. C̣n
thuốc uống để điều trị ra mồ hôi
thường sử dụng là thuốc kháng cholinergic
lại có nhiều tác dụng phụ như khô miệng,
mờ mắt. Dùng kỹ thuật nhỏ giọt nước
có điện tử lưu chuyển vào ḷng bàn tay tăng
tiết mồ hôi (Tap water iontophoresis) cũng có hiệu
quả trong một thời gian ngắn. Phẫu thuật
mổ cắt bỏ và nạo các tuyến mồ hôi có
thể áp dụng ở nách nhưng để lại
sẹo. C̣n phẫu thuật phá hủy hạch giao cảm
ngực T2-T3 có thể làm ngưng tiết mồ hôi ở
ḷng bàn tay nhưng làm tăng tiết mồ hôi ở các vùng
khác. Báo
cáo đầu tiên về BTX là của Naumann vào năm 1997
đă chích cho 1 bệnh nhân bị tăng tiết mồ hôi
khu trú, 30 đv BTX ( Bo Tox) được tiêm trong da ḷng bàn
tay ở 10 điểm khác nhau với liều lượng
3 đv/điểm. Kết quả rất tốt sau 1
tuần, các tuyến ở tay ngưng xuất tiết
mồ hôi. Tác dụng kéo dài từ 3-4 tháng. Sau đó có
gần 100 trường hợp đă được công
bố bởi nhiều tác giả khác nhau (Schinder, Naver,…).
Phần lớn nghiên cứu chích BTX ở nách, ḷng bàn tay
chỉ có một trường hợp ở lưng.
Liều lượng thay đổi từ 15-50 đv Botox hay
120-400 đv Dysport. Có tác giả như Bergman ghi nhận
hiệu quả làm ngưng tiết mồ hôi kéo dài đến
6 tháng với liều 15 đv mỗi ḷng bàn tay. C̣n Shelley
khi dùng 100 đv Botox cho mỗi ḷng bàn tay trên 4 bệnh nhân
th́ thấy hiệu quả kéo dài từ 4 đến 12 tháng.
Các tác dụng phụ hiếm gặp. Những nghiên
cứu này đă cho thấy BTX là phương pháp điều
trị an toàn và hiệu quả chứng bệnh tăng
tiết mồ hôi khu trú. Hiện nay, hiệu quả tác
dụng có lẽ là 4 tháng hay nhiều hơn. Tuy nhiên c̣n
cần xác định rơ liều tối ưu và thấp
nhất mà có hiệu quả để có thể tránh các
tác dụng phụ (như yếu cơ bàn tay), giảm chi
phí điều trị và ngăn ngừa sự h́nh thành kháng
thể. 5.
Nhức đầu căng thẳng mạn tính: Là
t́nh trạng nhức đầu có tính chất mạn tính
hay xảy ra từng đợt mà thời gian đau
nhiều hơn 15 lần/tháng hay hơn 180 ngày/năm. Cơn
đau được mô tả như giải băng ép
quanh đầu, ở vùng trán, vùng đỉnh hay vùng
chẫm. Nhức đầu căng thẳng là dạng
nhức đầu thường gặp nhất. Có
nhiều giả thuyết giải thích cơ chế của
nhức đầu này và tập trung vào các rối
loạn ngoại biên, hành tủy và cả vỏ năo.
Sự tăng hoạt của các cơ quanh sọ h́nh như
có vai tṛ quan trọng, dù rằng sự co thắt kéo dài này
có lẻ là hậu quả của cơn đau đầu.
Các công tŕnh nghiên cứu gần đây (1999-2000) của
một số tác giả đă cho thấy chích BTX vào các cơ
tăng hoạt trong nhức đầu mạn tính căng
thẳng làm giảm cơn đau đáng kể và cải
thiện rơ chất lượng cuộc sống của người
bệnh. BTX tác dụng trực tiếp vào các cơ quanh
sọ bị tăng hoạt do đó làm dăn cơ và
giảm đau. Có thể c̣n một cơ chế tác
dụng khác của BTX trên đường hướng tâm,
ảnh hưởng lên các thụ thể đau do đó làm
giảm cơn đau gián tiếp. Liều trung b́nh là 8,5
đv Botox hay 25,5 đv Dysport cho 1 điểm đau. Porta so
sánh 2 nhóm nhức đầu căng thẳng mạn tính
điều trị bằng BTX và Methyl prednisolone và đánh
giá kết quả ở ngày 30 và 60 sau điều trị
th́ thấy tác dụng của BTX kéo dài hơn một cách
có ư nghĩa thống kê. 6.
Nếp nhăn trên mặt: Điều
trị các nếp nhăn ở mặt được
thực hiện lần đầu tiên bởi Carruthers vào năm
1992. Từ đó đến nay, đă có nhiều trung tâm
thẩm mỹ, nhăn khoa sử dụng kỹ thuật này
để điều trị nhăn và là phương pháp
ít gây ra biến chứng. BTX điều trị rất có
hiệu quả các nếp nhăn vùng gốc mũi, vùng trán
và vùng khóe mắt. Liều lượng dùng để
điều trị nhăn tương đối thấp, ví
dụ chích các nếp nhăn ở khóe mắt 1 bên
chỉ cần dùng 7,5 đvBotox hay 22,5 đv Dysport. Hiệu
quả được ghi nhận từ 2 đến 4 ngày
sau khi chích và kéo dài trung b́nh 4 tháng. Điều trị 2
lần gần nhau quá có nguy cơ tạo kháng thể
chống lại BTX. Tác giả Letessier khuyên nên chích
mỗi 9-12 tháng là hợp lư để duy tŕ kết
quả được hoàn hảo. Các nếp nhăn
bị xóa mờ khi mặt ở tư thế nghỉ dù các
cơ bắt đầu muốn co thắt trở lại. III.
KẾT LUẬN: Trong
thập niên qua, từ các kết quả nghiên cứu
ở Âu Mỹ, Toxin Botulinum đă chứng tỏ là
một hoạt chất có hiệu quả điều
trị nhiều loại rối loạn vận động.
Khởi đầu là điều trị loạn trương
lực cơ khu trú, nhiều nghiên cứu tiếp theo đă
hướng đến việc sử dụng BTX cho
chứng co cứng cơ của trẻ bại năo, của
người lớn sau đột quỵ… Một số
chỉ định mới như điều trị
chứng tăng tiết mồ hôi khu trú, các chứng đau
do co thắt bao gồm cả nhức đầu căng
thẳng mạn tính, hội chứng đau màng cân cơ
(Myofascial pain syndrome)… và gần đây nhất là điều
trị các nếp nhăn ở mặt đă cho kết
quả rất khả quan. BTX có những ưu điểm
là hiệu quả, an toàn khi điều trị cho bệnh
nhân ngoại trú nhưng chi phí điều trị c̣n cao. THƯ
MỤC THAM KHẢO -
Comella, Brin and Jankovic - Botulinum Toxin in the Clinical Management
of Cervical Dystonia - Neurology Supplement Vol.55 2000. -
Jankovic and coll. - Botulinum Toxin Treatment of Cervical Dystonia -
Churchill Livingstone 1994. -
Petter Moore - Handbook of Botulinum Toxin Treatment - Blackwell Science
1995. -
Roger Kurlan - Treatment of Movement Disorders - Lippincott 1995. -
Watts and Koller - Movement
Disorders: Neurologic Principles and Pratice - 1997.
|
|
|