THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

CADASIL

Home Up Feedback Contents Search

 

MS

BỆNH CADASIL GIỐNG NHƯ  BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH NGUYÊN PHÁT CỦA HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG.

Stefan. Engenter, Stefan Rueegg, Eberhard C. Kirsch, Felix Fluri, Alphonse Probst, Andreas J. Steck, Philippe A. Lyrer: CADASIL Mimicking Primary Angiitis of the Central Nervous System. Arch neurol/vol 59, Sep. 2002; 1480-1483.

Người dịch: Bác sĩ Bùi Văn Tố.

MỞ ĐẦU:

Bệnh động mạch năo di truyền theo nhiễm sắc thể trội với những ổ nhồi máu dưới vỏ và bệnh lư chất trắng (CADASIL) và bệnh viêm động mạch nguyên phát của hệ thần kinh trung ương  (PACNS) có một vài biểu hiện lâm sàng và xquang giống nhau. Tuy nhiên, chụp mạch máu mă hoá xoá nền (DSA)  được  ghi nhận  là b́nh thường ở bệnh CADASIL, ngược lại thấy h́nh ảnh ḷng mạch không đều ở những động mạch năo đoạn xa trong bệnh PANCS.

MỤC ĐÍCH:

Để mô tả vai tṛ tiềm ẩn của DSA trong thăm ḍ chẩn đoán bệnh PACNS ở 1 bệnh nhân CADASIL.

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP:

Nhân quan sát một trường hợp.

KẾT QUẢ:

Một bệnh nhân nam 47 tuổi bị nhồi máu năo dưới vỏ tái phát được ghi nhận. Bệnh nhân có cơn migrain và cholesterol  ở mức nhẹ. Tiền sử gia đ́nh khộng có ǵ đặc biệt. Nguyên nhân tiềm tàng của đột quỵ cũng không rơ. Siêu âm xuyên sọ phát hiện giảm tốc độ ḍng máu trong sọ hợp với mô tả của bệnh CADASIL. H́nh ảnh ḷng mạch không đều của 1 vài động mạch trong sọ đoạn ngoại vi đă phát hiện trên DSA  nghĩ tới bệnh PACNS. Bệnh CADASIL được xác định bằng kết quả của sinh thiết da và test di truyền.

KẾT LUẬN:

Thứ nhất: Ở bệnh nhân CADASIL, mà DSA có thể chỉ ra những phần  có ḷng mạch không đều ở động mạch năo đoạn xa gợi ư cho chúng ta nghĩ tới bệnh PANCS. Thứ hai: Vai tṛ tiểm ẩn của TSD trong phân biệt bệnh CADASIL với bệnh PANCS cần kiểm tra kỹ hơn.

            Bệnh động mạch năo di truyền theo nhiễm sắc thể trội với những ổ nhồi máu dưới vỏ và bệnh lư chất trắng (CADASIL)  có đặc điểm lâm sàng là  nhồi máu dưới vỏ tái đi tái lại (70%), Migrain (38%) phần lớn là có tiền triệu, rối loạn tâm thần (30%), giảm nhận thức (28%), và động kinh (10%) thường ở tuổi trung niên. Mặc dù di truyền theo nhiễm sắc thể trội, nhưng tiền sử gia đ́nh có thể không rơ ràng bởi v́ triệu chứng nhẹ ở các thành viên khác trong gia đ́nh hoặc đột biến tạm thời. Bệnh CADASIL với biểu hiện 1 vài triệu chứng lâm sàng và h́nh ảnh cộng hưởng từ  (MRI) với viêm động mạch nguyên phát của hệ thần kinh trung ương  (PACNS). Chúng tôi giới thiệu 1 bệnh nhân bị bệnh CADASIL có biểu hiện lâm sàng, tiền sử gia đ́nh không rơ ràng, và kết quả DSA  đầu tiên gợi ư tới bệnh PANCS, tuy nhiên kết quả của TCD lại nghĩ tới bệnh CADASIL nhiều hơn. Sinh thiết da  có h́nh ảnh đám bạch cầu hạt ái toan trong lớp màng đáy bao quanh tế bào cơ trơn mạch máu và test di truyền  (biểu hiện bằng mất nhiễm sắc thể số 3) thật sự xác định bệnh CADASIL.

BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP:

Một bệnh nhân nam 47 tuổi đă có cơn migrain cùng với tiền triệu kéo dài từ năm 23 tuổi. Lúc 32 tuổi đă nhập viện với liệt 1\2 người trái thoáng qua, có đợt rối loạn nhân cách, và mất khéo loé của bàn tay trái. Những triệu chứng này coi như là tiền triệu migrain kéo dài. Mười năm sau, bệnh nhân xuất hiện liệt và giảm cảm giác 1\2 người phải. Bệnh phục hồi hoàn toàn trong ṿng 3  tháng. Hai năm trước đó, bệnh nhân xuất hiện rối loạn xúc cảm tăng dần với cơn kích động, những triệu chứng này đáp ứng rất tốt khi dùng carbrmazepine.  Ba tuần trước khi nhập viện, bệnh nhân đột gột xuất hiện chóng mặt và rối loạn thăng bằng dữ dội.

            Những triệu chứng lâm sàng qua thăm khám thần kinh: loạn vận ngôn, liệt 1\2 người và liệt mặt trung ương bên trái và rối loạn cảm giác bên trái. Phản xạ tháp xuất hiện cả hai chân. Tăng phản xạ quanh miệng.

            CT scan không đưa h́nh minh hoạ, trên MRI biểu hiện nhiều ổ tổn thương cũ vùng dưới vỏ hai bên và một ổ nhồi máu mới vùng bao trong bên phải. Siêu âm Doppler và siêu âm  kép (duplex) những động mạch ngoài sọ là b́nh thường; không thấy h́nh ảnh của vữa xơ mạch. Siêu âm tim qua thực quản và điện tim 24 giờ  không phát hiện thấy ǵ bất thường. Không có hở lỗ bầu dục. Kết quả xét nghiệm dịch năo tuỷ protein tăng nhẹ(0.069g/dL [ b́nh thường <0.048g/dL]) các  chỉ số khác th́ b́nh thường. Xét nghiệm không có biểu hiện của viêm mạch hệ thống , bệnh đông máu, hay sarcoidosis. Hematocrit ở mức b́nh thường (41% [b́nh thườnh 38-52%]). Yếu tố nguy cơ vữa xơ mạch duy nhất tăng cholesterol mức độ trung b́nh (266mg/dL

[6.9mmol/L]). DSA mạch máu năo biểu hiện hẹp từng đoạn của một vài nhánh động mạch ngoại vi trong khu vực của động mạch năo trước, động mạch năo giữa và động mạch năo sau hai bên và giăn nhẹ ở phần xa của các động mạch năo chính (h́nh 2). Trên DSA (thấy đáng kể nhất h́nh ảnh ḷng động mạch không đều ở đoạn ngoại vi)  được  nghĩ  nhiều tới bệnh PACNS. Bệnh nhân đă được điều trị thích hợp prednisone (với liều 1mg/kg thể trọng) và cyclophophamide (uống 150mg/ngày). Trên TCD thấy tốc độ ḍng máu trung b́nh thấp ở những động mạch năo chính (bảng) phù hợp với bệnh CADASIL đă được báo cáo gần đây. Tiến hành sinh thiết da thấy khối bạch cầu hạt ái toan trong lớp màng đáy của tế bào cơ trơn mạch máu ở những tiểu động mạch nhỏ dưới da. Test di truyền (ở pḥng thí nghiệm Cytogenetique, E.tournierlasserve, MD, bệnh viện Laboisiere, Paris, France) thấy một đột biền ở nhiễn sắc thể số 3  bằng sự chuyển đổi nucleotide (CGC (TGC) tại vị trí 475 trên exon 4. Sau khi đăđược chuẩn đoán CADASIL th́ ngưng điều trị ức chế miễn dịch. Trong ṿng  3 tháng tiếp theo bệnh phục hồi chậm chạp với biểu hiện  liệt ½ người bên trái mức độ nặng.

BÀN LUẬN:

Từ  khoảng giữa lứa tuổi 30, bệnh nhân của chúng tôi đă có nhồi máu năo vùng dưới vỏ tái đi tái lại mà không có bằng chứng nguyên nhân tắc mạch do vữa xơ hay emboli, bệnh đông máu, hoặc viêm mạch máu hệ thống. Kết quả khám nghiệm  trước đây đều âm tính cho đến khi DSA chỉ ra nơi ḷng mạch không đều với nhiều chỗ hẹp ở động mạch trong sọ đoạn xa. Bệnh cảnh lâm sàng  bao gồm tiền sử gia đ́nh  không rơ dànhcho đến khi xuất hiện đột quỵ dưới vỏ tái đi tái lại mà không giải thích được, xét nghiệm dịch năo tuỷ có tăng albumin nhẹ, với những điều trên và biểu hiện trên DSA gợi ư chúng ta nghĩ tới bệnh PACNS. Tuy nhiên những dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của bệnh PACNS không có ǵ  đặc hiệu. Hơn nữa, những giá trị của chụp mạch máu trong lĩnh vực chẩn đoán  bệnh PACNS mức độ vừa với độ nhậy 80% và độ đặc hiệu 30%. Một điều đáng ngạc nhiên là sinh thiết năo chỉ có độ nhạy 53% và độ đặc hiệu 87%. Mặc dù giá trị chuẩn đoán của 2 phương pháp có hạn, việc chẫn đoán bệnh PACNS ở phần lớn các trường hợp dựa vào chủ yếu chụp mạch máu và sinh thiết. Chuẩn đoán phân biệt với bệnh PACNS bao gồm viêm hệ thống mạch máu, bệnh nhiễm trùng thần kinh trung ương (như HIV, giang mai), u lympho, bệnh huỷ myelin, dùng các thuốc gây nghiệm (như cocaine, amphetamine), sarcoidosis, và những bệnh mạch máu hiếm gặp khác chẳng hạn như  loạn sản sợi cơ và bệnh Moya-moya. Tuy nhiên, bệnh nhân của chúng tôiđựơc xác định không bị mắc các bệnh nào trong số các bệnh đă nêu trên.

            Ghi nhận 1 trường hợp gần đây để minh hoạ thấy sự khó khăn trong việc phát hiện bệnh CADASIL và bệnh PACNS bởi v́ biểu hiện trên lâm sàng và MRI giống nhau. Mặc dù đă ghi nhận rằng ở những bệnh nhân CADASIL phần lớn có kết quả DSA b́nh thường, bệnh nhân này, giống bệnh nhân của chúng tôi, đă thấy trên DSA  hẹp đa ổ từng đoạn của động mạch trong sọ, điểu này đă gợi ư cho chúng ta đầu tiên nghĩ tới bệnh PACNS. Bệnh nhân này có một tiền sử rơ dàng của bệnh đột quỵ ở một vài người thân mức 1 trong giai đoạn giữa tuổi trưởng thành, giúp ghĩ tới bệnh CADASIL, ngược lại bệnh nhân của chúng tôi không có tiền sử gia đ́nh rơ dàng về đột quỵ hay sa sút trí tuệ.

            Đề cập tới mối tương quan của DSA với bệnh CADASIL trong y văn, tại hội thảo quốc về bệnh CADASIL đă được báo cáo như sau:

 Chụp mạch máu năo đă được tiến hành ở ít nhất 1 thành viên trong tất cả các gia đ́nh được nghiên cứu (8 gia đ́nh). Nói chung kết quả chụp mạch là b́nh thường ngoại trừ trong một gia đ́nh …….. có h́nh ảnh động mạch giăn dài ph́ng to (dilichomega) và một gia đ́nh… có h́nh ảnh gợi ư tới loạn sản sợi cơ…giường như  phần lớn các dấu hiệu này có liên quan đến bệnh.

Trong bài viết của họ đề cập về mặt lâm sàng của bệnh CADASIL, Chabriat và cộng sự đă báo cáo rằng 14 trong 45 những thành viên trong gia đ́nh bệnh nhân  có triệu chứng đă được chụp DSA.  Kết quả b́nh thường ở 13 bệnh nhân, trong khi một bệnh nhân có “hẹp một vài nhánh nhỏ của động mạch năo trước ,động mạch năo giữa, và động mạch năo sau.” Không có những dữ liệu lâm sàng (ví dụ như Migrain) trên bệnh nhân mà DSA có biểu hiện bất thường.

Bệnh nhân của chúng tôi, trên TCD có biểu hiện giảm tốc độ ḍng máu trung b́nh ở cả động mạch năo trước và động mạch năo giữa. Những phát hiện này cũng phù hợp với kết quả về nghiên cứu TCD gần đây ở những bệnh nhân CADASIL mà nghiên cứu đó đặt trọng tâm vào nghiên cứu khả năng nhạy cảm của CO2 nhưng nó cũng báo cáo chi tiết về tốc độ ḍng chảy trung b́nh; Ở 29 bệnh nhân CADASIL trong nghiên cứu cho thấy tốc độ ḍng máu trung b́nh ở động mạch năo giữa thấp hơn đáng kể so với 2 người nhóm chứng có cùng nhóm tuổi. Tốc độ ḍng máu trung b́nh ở động mạch năo giữa thấp không đặc hiệu, và nguyên nhân căn bản bao gồm tuổi ngày càng tăng và độ nhớt của máu cao. Cả 2 yếu tố này đă không được áp dụng ở bệnh nhân của chúng tôi bởi v́ tốc độ ḍng máu trung b́nh của bệnh nhân này đă ở mức thấp (nhỏ hơn giá trị trung b́nh -2 SD) so với giá trị trung b́nh ở nhóm chứng có cùng nhóm tuổi, và hematocrit của bệnh nhân trong giới hạn b́nh thương. Tốc độ ḍng máu trung b́nh thấp có thể là biểu hiện các thể khác của bệnh mạch máu năo vùng dưới vỏ, đáng chú ư nhất là bệnh Binswanger, tuy nhiên bệnh này không có ở bệnh nhân của chúng tôi. Một vấn đề quan tâm, Mohr đă công bố rằng “ không hiếm khi một trường hợp bị bệnh Binswanger ,  cũng có thể là bệnh CADASIL” và “Bệnh CADASIL có thể gắn kếtvới bệnh viêm động mạch dạng u hạt của hệ thống thần kinh trung ương [PACNS] từ đây có thể gợi ư rằng mạch máu năo có cấu trúc sinh học riêng biệt hơi khác hơn so với  những giường mạch  máu nơi khác.

            Ngược lại với những bệnh nhân bị bệnh CADASIL (có tốc độ ḍng máu trung b́nh thấp ở động mạch năo giữa), trong tất cả các bệnh nhân bị bệnh PACNS nghiên cứu phát hiện trên TCD bao gồm cả 5 bệnh nhân đều có tăng tốc độ ḍng máu trung b́nh ở động mạch năo giữa. Những dữ liệu thu được này giúp chúng ta chứng minh rằng TCD có thể giúp chúng ta trong việc chọn những test chẩn đoán xâm lấn khác có thể được áp dụng (như sinh thiết da hay DSA) ở những bệnh nhân có những dấu hiệu của bệnh năo chất trắng dưới vỏ mà chưa rơ nguồn gốc. Một thuật toán (algorithm )  để phân biệt hai bệnh này sẽ có ứng dụng trong lâm sàng. Thứ nhất, DSA   chứa đựng một tỷ lệ biến chứng cao trong bệnh CADASIL. Thứ hai, dùng thuốc ức chế miễn dịch được chỉ định chỉ trong bệnh PACNS. Tuy nhiên những thông số  của TCD chức năng như là độ nhậy cảm  dioxit carbon đa không được đánh giá trong nghiên cứu của chúng tôi và cũng như các báo cáo của TCD đă được đề cập ở phần trước trong bệnh PACNS. Hơn thế nữa, điều này chỉ ghi nhận ở một trương hợp. Cho nên, một thảo luận tỉ mỉ về vai tṛ có thể có trong tương lai của TCD đối với bệnh CADASIL và bệnh PACNS th́ ngoài tầm của báo cáo này và chờ đợi những nghiên cứu thêm nữa.

Phát hiện của chúng tôi về tốc độ ḍng máu thấp trong bệnh CADASIL ở động mạch năo trước và năo giữa cũng phù hợp với nghiên cứu về huyết động trong bệnh CADASIL bằng MRI, PET hoặc SPECT. Tất cả các phương pháp này  đă chỉ ra thể tích và tốc độ ḍng máu giảm, đặc biệt trong chất trắng. Thêm vào nữa, độ nhậy cảm của thành mạch gây ra bởi co2ơ giảm trong bệnh CADASIL. Tốc độ ḍng máu trung b́nh thấp ở động mạch năo trước và động mạch năo giữa cũng như thể tích và ḍng chảy năo thấp,  tất cả những dấu hiệu đó hướng tới giăn của động mạch chính trong sọ ở bệnh CADASIL. Giăn mạch ở phần gốc của động mạch trong sọ có thể giải thích như là sự cố gắng bù trừ cho việc ḷng mạch bị thu hẹp ở đoạn xa các nhánh của các động mạch như trong h́nh ảnh trên DSA ở bệnh nhân chúng tôi. Ḷng mạch bị thu hẹp ở đoạn xa của những động mạch xuyên nhỏ có thể phản ảnh loạn chức năng của tế bào cơ trơn mạch máu hay phá huỷ mạch máu và thay thế bằng tổ chức ngoại bào điều này dẫn đến sự phát triển của các tổ chức xơ sợi dưới nội mô chồng lên. Bằng chứng về biến mô học trong bệnh CADASIL được t́m thấy chủ uyế ở những động mạch nhỏ hơn và các tiểu động mạch, điều đó có thể giải thích về kết quả DSA là hẹp ở các nhánh động mạch xa hơn là ở các động mạch lớn. Tuy nhiên, nh́n chung vẫn chưa rơ dàng tại sao biểu hiện DSA trong bệnh CADASIL lại được báo cáo là b́nh thường.

Từ khoá: CADASIL , viêm động mạch , viem đong mach , siêu âm xuyên sọ , TSD , DSA