|
|
HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY(lịch
sử)
Drasko Simovic, David H. Weinberg: Carpal
tunnel syndrome. Arch Neurol/vol 57, May 2000, p:754-755. Người dịch: Bs
Nguyễn Minh Tuấn (xin tham khảo thêm các bài về tiêu chuẩn hội chứng ống cổ tay, lịch sử và biến thể và nghiên cứu về phân loại) Hội
chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome – CTS) là
bệnh tổn thương một dây thần kinh hay
gặp nhất trên lâm sàng. Mặc dù ngày nay bệnh
được biết đầy đủ, nhưng cũng
phải mất gần 100 năm từ những đánh giá
ban đầu cho tới khi sinh lư bệnh học của
bệnh được chấp nhận là do chèn ép dây
thần kinh giữa ở cổ tay. Mô
tả ban đầu: Ông
James Paget đă mô tả lần đầu tiên đặc
điểm lâm sàng của CTS vào năm 1854. Bệnh nhân
đầu tiên của ông là một người đàn ông
có đau tăng dần và giảm cảm giác ở bàn tay
sau chấn thương do kéo căng mạnh quanh cổ tay.
Bệnh nhân thứ hai liệt dây thần kinh giữa đến
muộn do vỡ đầu dưới xương quay,
bệnh nhân này được cải thiện với
việc cố định cổ tay và v́ vậy được
mô tả lần đầu phương pháp điều
trị cố định cổ tay, một phương pháp
vẫn được dùng cho tới ngày nay. Một
bệnh nhân nam giới của bệnh viện Guy bị chèn
ép dây thần kinh giữa do vỡ đầu dưới
của xương quay, đă được chỉnh
lại bằng một xương mới dài và rộng hơn.
Bệnh nhân này có những vết loét ở ngón cái, ngón
trỏ và ngón giữa, điều trị nhiều cách khác
nhau không có kết quả, chỉ bằng cách nẹp
cổ tay, để các phần trong ḷng bàn tay được
nghỉ ngơi, khi đó áp lực lên dây thần kinh
được cải thiện. Sau điều trị,
những vết loét tiến triển tốt, nhưng ngay
sau khi bệnh nhân được sử dụng bàn tay, áp
lực lên dây thần kinh quay trở lại và loét ở
những vùng bị chi phối xuất hiện trở
lại. Ba
thập kỷ sau, James Putnam (1880) đă tŕnh bày lâm sàng 37
bệnh nhân với… …
rối loạn cảm giác ngoài da, xuất hiện như
đă biết phổ biến là tê b́ tái phát theo chu
kỳ, đặc biệt hay xảy ra về đêm…
một số trường hợp khi giơ tay cao hoặc
lắc tay một lúc tê sẽ mất đi. Mối
liên quan giữa bệnh học lâm sàng và sinh lư bệnh: Một
bài báo đầu tiên đánh dấu việc cung cấp
hiểu biết lâm sàng và đánh giá bệnh học
tổn thương dây thần kinh giữa không do chấn
thương ở cổ tay do Marie và Foix đưa ra năm
1913. Họ đă báo cáo với Hội thần kinh Pháp
một trường hợp nam giới 80 tuổi có teo cơ
mô cái: Các
dây thần kinh b́nh thường, ngoại trừ dây
thần kinh giữa. Dây thần kinh giữa từ đoạn
đầu dưới cẳng tay tăng dần về kích
thước. Ngay gần dây chằng ṿng có một hạch
nhỏ nh́n giống như u thần kinh. Tuy nhiên, dưới
dây chằng ṿng, dây thần kinh đột nhiên trở lên
mỏng đi … Có sự tăng
sinh tổ chức liên kết trong cũng như ngoài bó dây
chằng. Bao myelin bị giảm dần bắt đầu
từ chỗ hạch nhỏ và ở chỗ co thắt, chúng
gần như mất đi hoàn toàn. Một
quan điểm quan trọng trong bài báo trên cho rằng
“…cắt dây chằng có thể làm ngưng phát triển
hiện tượng này” đă bị quên lăng trong
nhiều thập kỷ. Mặc
dù những đánh giá của Marie và Foix, những hiểu
biết về triệu chứng lâm sàng của chúng tôi
hiện nay về CTS được cho là t́nh trạng
thứ phát sau chèn ép dây thần kinh ở gốc chi. Quan
điểm điều trị chung nhất trong 4 thập
kỷ đầu thế kỷ 20 là cắt cung sườn
cổ. Một số bác sĩ trao
đổi thông tin riêng tư với W. W. Keen (1907), Kinnier
Wilson (1913) và Sargent (1921) đă phổ biến phương
pháp này gồm cung sườn cổ ở bệnh nhân có
bất thường lớp trong cơ đối ngón cái và
cơ dạng ngắn ngón cái do rễ cổ 7, chèn ép
cổ 7 có thể gây ra teo ô mô cái và thay đổi
cảm giác ở 3 ngón tay đầu. Cắt sườn
cổ gây bệnh cảnh lâm sàng nặng lên đă
dẫn tới những hiểu biết sinh lư bệnh
học cơ bản của CTS. W. W. Kenn đă viết vào năm
1907: Trường
hợp 42. Ông P. Sargent và tiến sĩ F. Buzzard ở London
(trao đổi riêng). Một phụ nữ 49 tuổi. Trong
10 năm bà ta than phiền đau mơ hồ không tương
xứng ở ngón cái phải, nặng lên vào buổi
tối và sau khi vận cơ. Ba hoặc bốn năm trước
đó đă có tê đầu ngón cái và ngón trỏ
phải… một năm trước tê lan ra ngón giữa.
Người ta thừa nhận chỉ có một cơ
bị ảnh hưởng là cơ dạng ngón cái
phải; Phẫu thuật vào ngày 17 - 7 - 1906…bộc lộ
đám rối, thấy toàn bộ cung sườn, rơ ràng
cổ 7 gắn với cung sườn đầu tiên… sau
phẫu thuật toàn bộ chi trên rất yếu… cảm
giác vẫn như trước mổ… F.
P. Moersch (1938) đă khôi phục lại quan điểm
của Marie và Foix là vị trí tổn thương nằm
ở cổ tay: Việc
giải thích sự tiến triển của thể đặc
biệt của viêm dây thần kinh giữa có lẽ
nằm ở giải phẫu cơ bản… có thể là
nhánh ô mô cái… bị chèn ép hoặc là do chấn thương
trực tiếp hoặc do kích thích liên tục… Rối
loạn cảm giác có lẽ là do sự liên quan thân chính
của dây giữa ở dây chằng ṿng… Người
ta ghi nhận việc giải phẫu ống cổ tay
lần đầu vào năm 1924 do H.Galloway. Trong bức thư
năm 1925 ông mô tả một phụ nữ có các dấu
hiệu và triệu chứng lâm sàng của CTS được
cải thiện cảm giác ở ngón trỏ sau khi phẫu
thuật thăm ḍ dây thần kinh giữa ở cổ tay: Thân
gửi bác sĩ Henderson…
Có sự cải thiện ở ô mô cái và thay đổi
nuôi dưỡng móng tay của ngón cái và ngón trỏ. Vào
ngày 11 - 3 – 1924 dây thần kinh giữa được
giải phóng khỏi nếp gấp cổ tay xuống dưới
1 inch và lên trên 2 inches. Bề ngoài của nó hoàn toàn b́nh
thường. Sau phẫu thuật đă có một số
cải thiện cảm giác ở ngón trỏ. Tuy
nhiên sau đó phát triển một u thần kinh và các
triệu chứng tái phát. Chín năm sau James Learmonth (1933)
đă mô tả chi tiết một trường hợp
phẫu thuật cắt dây chằng ngang cổ tay. Dấu
hiệu Tinel và Phalen Năm
1950, Phalen và cộng sự đă
công bố một loạt bài báo xác định thêm CTS là
một hội chứng lâm sàng do chèn ép dây thần kinh
giữa ở cổ tay. Ông xác nhận dấu hiệu Tinel
rất có ích như là một kỹ thuật tinh hoa
gợi triệu chứng cảm giác trong CTS: Dấu hiệu Tinel được dùng cho dây thần kinh giữa ở cổ tay được rút ra sau mỗi trường hợp bệnh nhân. Đây là cảm giác đau chói lan tỏa xuống bàn tay, xuất hiện khi gơ nhẹ lên trên dây thần kinh giöơa ôû coå tay. Ông
cũng mô tả thêm một phương pháp mà ngày nay
được biết là dấu hiệu Phalen: Mặc dù
áp lực bên trong ống cổ tay tăng lên do duỗi
cổ tay, cảm giác tê và dị cảm ở đầu
ngón tay của những bệnh nhân này có thể tăng lên
khi gấp mạnh cổ tay trong 60 giây. Các triệu
chứng này sẽ giảm ngay tức khắc khi rời
khỏi tay ở tư thế gấp. Cuối cùng ông
kết luận rằng khi cắt ngang dây chằng ṿng
cổ tay làm giảm chèn ép lên dây thần kinh để
giữ lại chức năng b́nh thường của nó. Chúng
tôi đă khảo sát 71 bệnh nhân bị chèn ép dây
thần kinh giữa tự phát ở ống cổ tay…
Cảm giác đau và dị cảm do dây giữa chi
phối giảm đi nhanh chóng khi cắt dây chằng
cổ tay để giảm chèn ép ép Người
ta đă mất hơn 4 thập kỷ kể từ khi
những nhận thức đầu tiên rằng CTS do chèn
ép dây thần kinh giữa ở cổ tay tới khi phương
pháp cắt dây chằng ṿng ống cổ tay trở thành
phương pháp điều trị chính CTS.
|