THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

CarpalTunnel4

Home Up Feedback Contents Search

 

KHẢO SÁT ĐIỆN SINH LÍ THẦN KINH CƠ VÀ LÂM SÀNG TRONG HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY.

BS Nguyễn Lê Trung Hiếu, Trường ĐH Y Dược TP HCM

(xin tham khảo thêm các bài về tiêu chuẩn hội chứng ống cổ tay, lịch sử biến thể)

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:

Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome) là một bệnh đơn dây thần kinh do chèn ép lên thần kinh giữa tại ống cổ tay rất phổ biến trong thực hành lâm sàng. Trên thế giới đă và đang có nhiều khảo sát về hội chứng này nhưng số liệu trong nước th́ chưa nhiều. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu khảo sát hoạt động điện của dây thần kinh giữa khi băng qua ống cổ tay kết hợp với t́m hiểu các yếu tố nguy cơ, đăïc điểm lâm sàng và t́m cách đánh giá mức độ nặng của hội chứng ống cổ tay dựa trên hiệu số thời gian tiềm vận động, cảm giác ngoại vi giữa – trụ.

Khảo sát tiền cứu, mô tả, hàng loạt trường hợp, số liệu thu thập tại pḥng điện cơ Bệnh viện Nhân Dân 115 thành phố Hồ Chí Minh, từ 10 - 12/2002. Các thông số chẩn đoán điện được đo đạc và tính toán trên phần mềm khảo sát điện thần kinh cơ của máy NEUROPACK (-MEB-9104K hăng NIHON KOHNDEN. Khảo sát hai nhóm: Nhóm khỏe mạnh gồm 42 người Việt Nam (84 bàn tay) trưởng thành, t́nh nguyện, không có bất kỳ cảm giác khó chịu nào tại bàn tay cho đến thời điểm khảo sát. Nhóm có hội chứng ống cổ tay gồm 70 người (122 bàn tay) có ít nhất một trong các biểu hiện lâm sàng kiểu hội chứng ống cổ tay (như: Tê, đau các ngón tay thuộc dây thần kinh giữa chi phối, tăng lên khi cử động lặp lại liên tục bàn tay; tê, đau bàn tay tăng lên về đêm; yếu hoặc teo cơ dạng ngắn ngón cái; các nghiệm pháp thăm khám dương tính) và có ít nhất một trong các thông số khảo sát trên điện cơ đồ vượt quá ngưỡng b́nh thường (theo kết quả khảo sát của chúng tôi trên nhóm khỏe mạnh). Loại trừ những bàn tay không khảo sát được đầy đủ các thông số cần thiết; có tổn thương dây thần kinh giữa ngoài khu vực ống cổ tay (như: bất thường kiểu cầu nối Martin – Gruber, hội chứng chèn ép kép, bệnh đa dây thần kinh); có biểu hiện tổn thương dây thần kinh trụ, có tiền căn phẫu thuật điều trị hội chứng ống cổ tay.

Khảo sát EMG theo hai phương pháp: Phương pháp 1: khảo sát DML, DSL của thần kinh giữa và trụ tại cổ tay và sự thay đổi của DMLd, DSLd trong đó ghi đáp ứng vận động theo hệ thống ghi bụng – gân và ghi đáp ứng cảm giác thuận chiều. Phương pháp 2: khảo sát MCV, MA, SCV, SA của thần kinh giữa ở đoạn băng ống cổ tay và đoạn ngoài ống cổ tay và sự thay đổi của MCVr, MAr, SCVr, SAr cũng ghi đáp ứng vận động theo cách ghi bụng – gân, đáp ứng cảm giác th́ ghi ngược chiều. Biên độ CMAPs, CSNAPs, đă được trung b́nh hóa, tính theo độ cao từ điểm khởi đầu đến đỉnh của sóng âm đầu tiên.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:

nhóm khoẻ mạnh:

Tuổi từ 13 đến 65, trung b́nh là 38.88 ( 25.64, từ 40 đến 60 chiếm 45%. Nữ chiếm 71.4% (nữ:nam = 2.5:1). Mỗi người đều được khảo sát cả hai bàn tay.

Phuơng pháp 1: Giá trị của các thông số về thời gian tiềm (Bảng 1):

 

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung b́nh

Ngưỡng 95%

Giới hạn 95- 98%

DMLm

2.27

4.17

3.33 ± 0.68

4.01

4.01 - 4.35

DMLu

2.20

3.06

2.66 ± 0.39

3.05

3.05 - 3.25

DMLd

0.03

1.20

0.68 ±  0.57

1.25

1.25 - 1.54

DSLm

2.26

3.42

2.61 ± 0.46

3.07

3.07 - 3.30

DSLu

1.80

2.74

2.12 ± 0.42

2.63

2.63 - 2.84

DSLd

0.22

0.78

0.50 ± 0.29

0.79

0.79 -  0.93

 Ghi chú: DMLm, DSLm (ms):  thời gian tiềm vận động, cảm giác của thần kinh giữa.                                                                               DMLu,  DSLu  (ms):  thời gian tiềm vận động, cảm giác của thần kinh trụ.

DMLd = DMLm – DMLu (ms),     DSLd = DSLm – DSLu (ms)

Khi DMLm, DMLu, DSLm, DSLu vượt quá ngưỡng 95% là bất thường. DMLd > 1.25ms (theo Felsenthal(8) >1.20ms; Nguyễn Hữu Công(10) > 1.20ms) gợi ư có chậm dẫn truyền vận động và DSLd > 0.79ms (theo Jonhson > 0.8ms(8); Nguyễn Hữu Công > 0.79ms) là có chậm dẫn truyền cảm giác chỉ ở thần kinh giữa qua ống cổ tay. Bằng phép kiểm T-test cho trung b́nh của hai biến định lượng, chúng tôi không thấy có sự khác biệt về DMLd, DSLd khi so sánh hai tay phải với tay trái và hai giới. Do đó, chúng tôi chọn DMLd, DSLd làm một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ống cổ tay trong khảo sát tiếp theo.

Phương pháp 2: Giá trị của các thông số về vận tốc dẫn truyền và biên độ (bảng 2):

 

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung b́nh

Ngưỡng 95%

MCV1

46.00

83.30

60.46 ± 15.11

45.35

MCV2

46.56

69.40

59.56 ± 9.01

50.55

MCVr

85.70%

100%

97.47 ± 7.09

90.38%

MA1

1.55

9.03

3.31 ± 2.92

?

MA2

1.25

8.92

2.83 ± 2.76

?

MAr

71.32%

100%

98.21 ± 10.17

88.04%

SCV1

48.50

70.20

59.40 ± 9.08

50.32

SCV2

49.40

72.00

61.18 ± 9.07

52.10

SCVr

89.79%

100%

96.66 ± 7.18

89.48%

SA1

6.84

46.45

17.80 ± 14.34

?

SA2

4.81

55.91

21.15 ± 18.72

?

SAr

38.33

100

82.64 ± 19.61

?

            Ghi chú:  MCV1(m/s): cổ tay-ḷng bàn tay ;  MCV2(m/s): cổ tay-khuỷu.

                            SCV1(m/s): cổ tay-ḷng bàn tay; SCV2(ms): ngón tay-ḷng bàn tay.

                MA1(mV):  biên độ CMAP kích thích tại cổ tay. MA2(mV):  biên độ CMAP kích thích tại ḷng bàn tay.

                SA1((V):  biên độ CSNAP kích thích tại cổ tay. SA2(( V): biên độ CSNAP kích thích tại ḷng bàn tay

                MCVr(%) = MCV1/MCV2;    MAr(%) = MA1/MA2.    SCVr(%) =  SCV1/SCV2;  SAr(%)  =  SA1/SA2.

MCV1, MCV2, SCV1, SCV2 được xem là chậm khi thấp hơn ngưỡng 95%. Giá trị trung b́nh của MCVr ở người không bị tổn thương dây thần kinh giữa khu trú trên đoạn băng qua ống cổ tay là 97.47 ( 7.09%, nghĩa là ( 90%. Và của SCVr là 96.66 ( 7.18%, cũng ( 90%. Kết quả này phù hợp với khảo sát của Wee (2001)(15). Chúng tôi cũng không t́m thấy sự khác biệt về MCVr và SCVr giữa hai giới và hai bên. V́ thế, chúng tôi chọn thông số MCVr < 90%, SCVr < 90% là tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ống cổ tay trong phần khảo sát tiếp theo.

Biên độ CMAPs, CSNAPs có giá trị rất dao động (độ lệch chuẩn khá cao); phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước khối cơ của người được khảo sát, thao tác đặt điện cực… Giá trị trung b́nh của MAr và SAr lần lượt là 98.21% và 82.64% (Wee (2001) 94% và 81%). Tuy nhiên, chúng tôi chưa thể kết luận đây là ngưỡng bất thường. Chúng tôi không chọn các thông số này làm tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh. 

Từ kết quả phân tích trên, chúng tôi chẩn đoán hội chứng ống cổ tay trên EMG khi có ít nhất một trong 4 thông số sau: DMLd > 1.25ms hoặc DSLd > 0.79ms hoặc MCVr < 90% hoặc SCVr < 90%.

NHÓM NGƯỜI CÓ HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY:

Lâm sàng:       

Tuổi 13 - 73, trung b́nh 47.04 ( 20.96 (Kouyoumdijan (1999)(6): 47.9; Goyal (2001)(3): 44.21; Nguyễn Hữu Công (1997)(10): 44), 74.3% từ 40 đến 60, nhiều nhất là ở tuổi 50, cao hơn 60 th́ ít gặp. Tuổi khởi bệnh (thời điểm bắt đầu có triệu chứng khó chịu ở bàn tay, người bệnh khai) trung b́nh: 45.66 tuổi. Nữ chiếm 85.7% (nữ:nam = 6:1), nữ gặp nhiều hơn nam có ư nghĩa thống kê ((2 = 66.393, p < 0.0005); phù hợp với ghi nhận của nhiều tác giả khác  tỉ lệ nữ:nam vào khoảng 3:1 – 10:1(1,2,5,13). Bàn tay phải: 54.9%, sự khác biệt hai tay đủ ư nghĩa thông kê ((2 = 1.18, p = 0.277), có thể do mẫu khảo nhỏ, chưa phải là mẫu đại diện cho cộng đồng. Nhưng nếu chỉ bị một bàn tay th́ vẫn có khuynh hướng bị bàn tay phải nhiều hơn (chỉ bị một tay phải là 12.85%, chỉ bị một tay trái là 4.28%); nếu bị cả hai tay th́ tay phải cũng có khuynh hướng nặng hơn. Số người bị cả hai tay là 82.85%, (Padual (1998)(11) là 87%).

Mặc dù chưa đạt được sự tương đồng hoàn toàn về tuổi (age-matched) và giới (gender-matched) nhưng các đường cong phân phối chuẩn trên biểu đồ phân bố chiều cao, cân nặng, BMI, kích thước ṿng cổ tay của nhóm b́nh thường đều có dạng chuông và phù hợp với phân bố của nhóm bệnh. Thực hiện kiểm định T- test, chúng tôi nhận thấy chiều cao không có sự khác biệt giữa hai nhóm nhưng cân nặng th́ có với p = 0.03. Chỉ số BMI trung b́nh ở nhóm bệnh nằm trong nhóm quá cân và có sự khác biệt rất có ư nghĩa (p < 0.0005) so với nhóm b́nh thường, phù hợp với khảo sát của Kouyumdjian JA (2002)(6) và một số tác giả khác, cho là, chỉ số BMI cao là yếu tố nguy cơ của bệnh. Kích thước ṿng cổ tay nhóm người có hội chứng ống cổ tay lớn hơn nhưng sự khác biệt giữa này với p = 0.03 chưa thật sự có sức thuyết phục cao.

Công việc nội trợ là chiếm tỉ lệ cao nhất. Những công việc khác như  đánh máy vi tính, may, thêu cũng được ghi nhận là có tần xuất cao, cũng phù hợp với ghi nhận chung là công việc đ̣i hỏi sự lặp đi lặp lại bàn tay là nguy cơ của bệnh(1,2,5,13).

Tiền sử bệnh có liên quan với các bệnh về khớp đặc biệt là khớp cổ tay, phù hợp với ghi nhận của các tác giả khác. Một số bệnh khác như đái tháo đường, suy thận măn, nghiện rượu … cũng được ghi nhận. Tuy nhiên, đây chỉ là khảo sát mở, mô tả, thời gian khảo sát ngắn, chưa kết hợp được với các cận lâm sàng khác nên có thể c̣n rất nhiều yếu tố nguy cơ cũng như tiền sử khác chưa thể ghi nhận được như bệnh của tuyến giáp, bệnh chuyển hoá mỡ, bệnh thoái hoá dạng bột, to đầu chi, chạy thận nhân tạo, có thai, gia đ́nh, di truyền…(1,2,5,13). Cần có nhiều thời gian hơn, số lượng người bệnh lớn hơn, khảo sát tỉ mỉ hơn.      Các biểu hiện lâm sàng: Dị cảm xuất hiện trong hầu hết các giai đoạn, 72.7% ở độ 1, bộc lộ rơ nhất (gần 100%) ở độ 2 và 3, có thể nói đây là triệu chứng sớm và thường gặp nhất. Đau bàn tay ít gặp hơn và cũng khá rơ ràng ở độ 2,3. Đau bàn tay về đêm đặc biệt nổi bật ở độ 3. Đau lan lên cẳng tay th́ ít gặp. Ở độ 4 th́ mức độ xuất hiện các triệu chứng lại giảm. Điều này có thể làm cho người bệnh lầm là bệnh thuyên giảm, nhưng không phải vậy, mà sẽ teo dần khối cơ mô cái. Đây sẽ là một đặc điểm về lâm sàng cần được chú ư bởi thầy thuốc cũng như người bệnh.

Các nghiệm pháp thăm khám: Độ nhạy của dấu hiệu Tinel, test Phalen và test Phalen đảo ngược lần lượt là 55.7%, 36.1% và 23.8%, tương tự khảo sát của Kazt (2002)(5) dấu hiệu Tinel gặp 25 - 60%, test Phalen là 40 – 80% và Nguyễn Hữu Công ghi nhận dấu hiệu Tinel dương tính trong 34.8% trường hợp. Độ nhạy của chúng cao hơn ở độ 2 và 3 của bệnh nhưng giá trị cao nhất cũng chỉ khoảng 50 – 70 %.

EMG:

Các thông số về dẫn truyền:

            Bảng 5: Kết quả trên nhóm bệnh:

Thông số

Số bàn tay ghi được

Số bàn tay b́nh thường

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Trung b́nh

Độ nhạy

DMLm

116/122

22/122

3.06ms

9.62ms

5.17 ± 2.74(ms)

81.96%

DMLd

116/122

10/122

1.06ms

7.29ms

2.63 ± 2.78ms

91.80%

DSLm

96/122

20/122

2.64ms

6.06ms

3.61 ± 1.38(ms)

83.61%

DSLd

96/122

8/122

0.72ms

4.00ms

1.59 ± 1.40ms

93.34%

MCV1

116/122

18/122

13.1m/s

76.6m/s

31.13 ± 23.1m/s

85.25%

MCVr

116/122

5/122

22.63%

100%

55.33 ± 35.98%

95.90%

SCV1

101/122

4/122

16.8m/s

55.6m/s

35.53 ± 16.0m/s

96.72%

SCVr

101/122

0/122

24.34%

88.36%