THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

ChanDoanGBS

Home Up Feedback Contents Search

 

ChinaGBS

NHỮNG DẤU HIỆU SỚM TRONG CHẨN ĐOÁN ĐIỆN CỦA HỘI CHỨNG GUILLAIN - BARRE’

Paul H. Gordon, Asa J. Wilbourn: Early electrodiagnostic finding in Guillain-Barré syndrome. Arch. Neurol.  June 2001, 58: 913-917.

Người dịch: BS Kim Xuyến, BV Nguyễn Tri Phương.

BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU :

Hội chứng Guillain Barre’(GBS) là một nguyên nhân quan trọng nhất của bệnh lý thần kinh ngoại biên cấp tính, toàn thể hóa . Mặc dù việc khảo sát dẫn truyền thần kinh có nhiệm vụ quan trọng trong chẩn đoán,  nhưng những thay đổi về đặc điểm địên học có thể không xuất hiện trong vài tuần đầu . Tuy nhiên , chẩn đoán sớm GBS là một việc rất cần thiết bởi vì khi điều trị sớm đã cho thấy có cải thiện kết quả tốt.

MỤC ĐÍCH:

Mô tả những bất thường có thể xuất hiện trong vài tuần đầu của GBS, nhằm phát hiện những kiểu bất thường sớm mà nó gợi ý đến GBS, đồng thời xác định phần trăm bệnh nhân có những biểu hiện giúp chẩn đoán rõ ràng trong vài tuần đầu.

THIẾT KẾ:

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu trên hồ sơ bệnh án trong vòng 16 năm của những bệnh nhân ở phòng khám Foundation, Cleveland, Ohio đã có chẩn đoán điện là GBS. Những bệnhnhân này đều có khảo sát dẫn truyền thần kinh trong vòng 7 ngày sau khi có yếu cơ.

Kết Quả: Mất phản xạ H là 30 bệnh nhân trong tổng số 31 bệnh nhân (97 %) , 19 bệnh nhân có điện thế hoạt động của dây thần kinh cảm giác (SNAP) ở chi trên ù biên độ thấp hoặc mất (61%). 15 bệnh nhân có bất thường SNAP  của các dâythần kinh chi trên kết hợp với SANP của dây thần kinh hiển bình thường (  48% ) trong đó có 14 bệnh nhân dưới 60 tuổi (67%) (với số bệnh nhân dưới 60 tuổi của cả nghiên cứu là 21 ) (67%). Những dấu hiệu khác bao gồm một sóng F bất thường: 25 bệnh nhân (84%), giảm biên độ của điện thế hoạt động cơ : 22 bệnh nhân (71%), thời gian tiềm ngoại vi kéo dài : 20 bệnhnhân (65%) , phát tán theo thời gian 16 bệnh hân (52%) , block dẫn truyền của dây thần kinh vận động: 4 bệnh nhân (13%), 17 bệnh nhân (55%) có thể chẩn đoán xác định nhưng hầu như không thể chẩn đoán được trước ngày thứ năm của bệnh.

KẾT LUẬN :

Phản xạ H là test nhạy cảm nhất cho chẩn đoán sớm GBS. SNAP ở chi trên cũng thường bất trong GBS sớm. Mất đáp ứng sóng H , sóng F bất thường và SNAP chi trên bất thường kết hợp với SNAP thần kinh hiển bình thường là đặc điểm của GBS sớm . Nếu nhiều dây thần kinh được khảo sát thì có thể chẩn đoán xác định được một nữa số bệnh nhân nhưng chỉ từ ngày thứ năm sau khi có triệu chứng.

HỘI CHỨNG GUILLAIN BARRE’ (GBS) là một dạng thường gặp nhất của bệnh thần kinh ngoại biên toàn thể hóa nặng và cấp tính. Khảo sát dẫn truyền thần kinh là một test hổ trợ chẩn đoán rất quan trọng. Các chẩn đoán điện thường cho ta bằng chứng của hủy myelin, biểu hiện bằng block dẫn truyền, tốc độ dẫn truyền chậm (CVS), thời gian tiềm kéo dài, và  những kiểu đáp ứng phát tán. Tuy nhiên những bất thường về điện học này không xuất hiện một cách đầy đủ để chẩn đoán sớm trong hai tuần đầu , trong khi đó việc chẩn đoán sớm GBS rất quan trọng vì  nó sẽ giúp cho thời gian điều trị có thể ngắn đi, giảm thời gian cần thở máy , làm gảim đi tình trạng nặng chung. Tiêu chí của nghiên cứu này là phát hiện những dấu hiệu đặc trưng (nếu có ) hoặc những biểu hiện sớm gợi ý cho chẩn đoán GBS mà ta có thể tin cậy được. Chúng tôi đánh giá hồi cứu bệnh án của tất cả bệnh nhân GBS có làm test chẩn đoán điện trong vòng 7 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng về vận động ở trung tâm của chúng tôi. nhằm phát hiện những biểu hiện thay đổi điện học sớm và phổ biến nhất, số % bệnh nhân có thể đuợc chẩn đoán với những lý do chắc chắn.

BỆNH NHÂN, CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP

CHỌN LỰA BỆNH NHÂN :

Chúng tôi hồi cứu tất cả bệnh án trong  16 năm của những bệnh nhân đã có chẩn đoán lâm sàng GBS và được làm test điện cơ trong vòng 7 ngày sau khi khởi phát triệu chứng vận động. Bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu khi có các dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh x quang, các xét nghiệm , và điện cơ phối hợp nhau gợi ý GBS và không có bất kỳ rối loạn nào khác. Tiêu chuẩn kết luận GBS là sự yếu chi tiến triển nhanh ,có hoặc không có dị cảm ngọn chi và  giảm phản xạ gân sâu . Có một bệnh nhân có dấu hiệu thất điều, liệt mắt,  mất phản xạ và đuợc chẩn đoán là hội chứng Miller – Fisher. Những bệnh nhân có tình trạng thiếu ổn định hệ thần kinh tự động và suyhô hấp đựơc xem  là triệu chứng tăng cường và cũng được chọn vào nghiên cứu này.Những bệnh nhân có bất thường dẫn truyền thần kinh do nguyên nhân khác (suy thận , tiểu đuờng), hoặc  bệnh nhân có bằng chứng của bệnh thần kinh cơ khác ( bệnh tủy sống , bệnh đa dây thần kinh có tính gia đình, viêm một dây thần kinh ở nhiều chổ, bệnh lý thần kinh ngoại biên mãn tính) đều bị loại khỏi nghiên cứu

CÁC XÉT NGHIỆM: Sinh hóa máu, công thức máu, tìm kim loại nặng, hầu hết bệnh nhân đều được chọc dò tủy sống và phân tích dịch não tủy (27 bệnh nhân được chọc tủy sống vào tuần đầu tiên sau khi có dấu hiệu yếu chi)

CHẨN ĐOÁN ĐIỆN: đo dẫn truyền dây thần kinh vận động ở một chi trên và một chi dưới cùng bên, sử dụng điện cực bề mặt,  tất cả bệnh nhân đều có nhiệt độ da >32o. Khi có kết quả bất thường nên đo sang chi đối bên để so sánh. Đo dẫn truyền cảm giác và sử dụng kỷ thuật kích thích ngược chiều ở thần kinh giữa, thần kinh quay nông và thần kinh hiển. Thần kinh giữa và thần kinh trụ được đo dẫn truyền  bằng cách kích thích ở cổ tay , cánh tay và điện cực ghi đặt lần lượt ở cơ  dạng ngắn ngón cái , và cơ dạng ngón út ở bàn tay. Thần kinh chày sau và mác sâu ghi bằng cách kích thích ở mắt cá và gối , điện cực ghi đuợc đặt ở cơ duỗi ngắn các ngón, cơ dạng ngón cái. Kích thích trên đòn là kích thích trên nhiều dây thần kinh vận động của chi trên, thường là dây trụ nhằm mục đích tìm các block dẫn truyền ,hay chậm dẫn truyền ở đoạn trên khuỷu. Mỗi  Sóng F được đánh giá ứng với mỗi điện thế hoạt động cơ toàn phần (CMAP) ghi nhân từ đo dẫn truyền vận động của các dây thần kinh .Phản xạ H được ghi từ cơ bụng chân và cơ dép khi kích thích dây chầy sau . Ghi nhận các thông số như biên độ CMAP, thời gian tiềm ngoại vi, tốc độ dẫn truyền vận động (MCV), biên độ và thời gian tiềm ở dây thần kinh cảm giác, thời gian tiềm và biên độ của phản xạ H , của sóng F. các số đo đuợc cho là bất thường khi nằm ngoài phạm vi  bình thường của phòng xét nghiệm chúng tôi, các trị số này được hiệu chỉnh theo tuổi . Bệnh nhân được xếp là có bệnh đa rễ và dây thần kinh kiểu GBS nếu có một sự kết hợp của thời gian tiềm vận động ngoại vi kéo dài ( trên 150 % giới hạn trên của trị số bình thường), chậm dẫn truyền (dưới 70% giới hạn dưới của trị số bình thường  ) thời gian tiềm sóng F kéo dài (trên 150% giới hạn trên của trị số bình thường) biên độ CMAP thấp hoặc biên độ CMAP ở gốc chi bị tuột xuống gợi ý block dẫn truyền hay có hiện tượng phát tán ở 2 dây thần kinh hay nhiều hơn. Điện cơ kim chỉ được thực hiện  trên vài bệnh nhân bởi vì thời gian từ lúc khởi phát triệu chứng đến lúc thực hiện điện cơ kim quá ngắn. Những bệnh nhân này được làm điện cơ kim  ở nhiều cơ.

KẾT QUẢ

SỐ LIỆU LÂM SÀNG ;

Tổng số  gồm 31 bệnh nhân (20 nam, 11 nữ ) tuổi từ 4- 76  tuổi, trung bình là 50 tuổi, 21 bệnh nhân dưới 60 tuổi (bảng 1), 22 (71%) bệnh nhân có nhiễm trùng hoặc phẫu thuật tháng trước đó . Ơû thời điểm nhập viện tất cả đều có yếu vận động . 29  bệnh nhân (94%) có mất phản xạ gân sâu, 1 bệnh nhân (0.3%) phản xạ chỉ xuât hiện với lực gõ mạnh, 3 (10%) bệnh nhân có mất cảm giác cấp tính. một bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng Miller- Fisher bằng khám lâm sàng. Riêng triệu chứng yếu cơ do bác sỹ chuyên khoa thần kinh khám và đánh giá gồm : nhẹ 18 bệnh nhân (58%), nặng 4 (13%). Tuy vậy, số bệnh nhân thật sự cần thở máy là 12 (39%). Dịch não tủy có bất thường là 20 bệnh nhân (71%) trong số 28 bệnh nhân được chọc dò, 18 (64%) bệnh nhân có phân ly đạm tế bào  và 17 bệnh nhân được chọc dò trong tuần đầu của bệnh.

SỐ LIỆU VỀ CHẨN ĐOÁN ĐIỆN CƠ

Sóng H:

Mất phản xạ H ở 30 bệnh nhân (97%) trong tổng số 31 bệnh nhân (bảng 2) trong đó có 21 bệnh nhân <60 tuổi, 01 bệnh nhân là hội chứng Miller - Fisher, chỉ có một bệnh nhân còn phản xạ H nhưng biên độ thấp. có 5 bệnh nhân chỉ có mất phản xạ H còn các yếu tố khác trong chẩn đoán điện hoàn toàn bìnhthường (16%).

Sóng F :

Bất thường sóng F tìm thấy ở 26 bệnh nhân (55%) (thời gian tiềm kéo dài, mất đáp ứng), khảo sát chi trên nhận thấy: 17 bệnh nhân có một hay nhiều dây thần kinh ở chi trên mất sóng F (55%), 6 bệnh nhân có thời gian tiềm sóng F kéo dài (19%) và 8 bệnh nhân sóng F của chi trên bình thường (26%) . Tương tự,  khảo sát chi dưới thấy có 19 bệnh nhân mất sóng F ở một hay nhiều dây thần kinh (61%), thời gian tiềm sóng F kéo dài gặp ở 4 bệnh nhân (13%), và 8 bệnh nhân có sóng F bình thường. Trong các bệnh nhân bị mất sóng F của các dây thần kinh thuộc chi trên không có ai có biểu hiện mất myelin theo tiêu chuẩn thời gian tiềm kéo dài hơn 150 % giới hạn trên của của phạm vi bình thường của chi trên. 18 bệnh nhân (58%) có ít nhất là một dây thần kinh với sóng F bình thường , 6 bệnh nhân chỉ có bất thường sóng F (19%). 5 bệnh nhân có ít nhất hai dây thần kinh ở mỗi chi có sóng F hoàn toàn bình thường, không có bệnh nhân nào chỉ có sóng F bất thường mà không có những bất thường khác về điện cơ .

Điện thế hoạt động cảm giác (SNAP) :

Mất đáp ứng điện thế hoạt động cảm giác chi trên thấy ở 12 bệnh nhân (39%), 6 bệnh nhân có biên độ SNAP thấp (19%) và chậm đáp ứng (dây thần kinh trụ) ở một bệnh nhân. Nói chung, điện thế hoạt động cảm giác bất thường ở chi trên là 19 bệnh nhân (61%). Những bất thường có ảnh hưởng như nhau trên tất cả thần kinh chi trên mà không ưu thế đặc biệt riêng thần kinh nào .Điện thế hoạt động cảm giác của thần kinh hiển bình thường ở 26 bệnh nhân (84%) gồm có 19/21 (90%) bệnh nhân <60 tuổi. 9 bệnh nhân có biểu hiện vừa có mất đáp ứng của SNAP chi trên vừa có SANP của thần kinh hiển bình thường chiếm tỷ lệ 29%,  trong số này có 8 bệnh nhân <60 tuổi (38%). 14 bệnh nhân trong số 21 bệnh nhân < 60 tuổi có đáp ứng SANP chi trên mất hoặc kéo dài đồng thời SANP của thần kinh hiển bình thường. Nói tóm lại, trong những bệnh nhân có thần kinh hiển bình thường thì có 15 bệnh nhân có một SANP chi trên bất thường (58%) trong đó có 14 bệnh nhân tre ûhơn 60 tuổi gồm biên độ SANP giảm là 2 bệnh nhân, một bệnh nhân có thời gian tiềm kéo dài , một đáp ứng bất thường, 10 bệnh nhân có sự kết hợp của các bất thường trên.

Đo dẫn truyền vận động :

Những bất thường của CMAP (điện thế hoạt động cơ toàn phần) ở chi trên và chi dưới thường kết hợp, không ưu thế đặc biệt ở thần kinh nào. 22 bệnh nhân có giảm biên độ đáp ứng của CMAP ở ít nhất một dây thần kinh khi kích thích ở ngoại vi. 3 bệnh nhân chỉ có giảm biên độ CMAP ở một dây thần kinh và 19 bệnh nhân có giảm biên độ nhiều hơn một dây thần kinh (61%). mất đáp ứng CMAP ở 2 bệnh nhân. 5 bệnh nhân có dấu hiệu mất sợi trục rõ ràng trên điện cơ kim.

Thời gian tiềm ngoại vi (distal latency):

Có 20 bệnh nhân thời gian tiềm ngoại vi bị kéo dài ở ít nhất là một dây thần kinh (65%), 6 bệnh nhân chỉ có bất thường ở nột dây thần kinh (19%) và 14 bệnh nhân có bất thường ở nhiều dây thần kinh (45%). 13/20 bệnh nhân có thời gian tiềm ngoại vi lớn hơn 150 % giới hạn bình thường ở chi trên. Tần suất ở chi trên chi dưới như nhau.

Tốc độ dẫn truyền

16 bệnh nhân có tốc độ dẫn truyền vận động chậm (52%). Tuy nhiên chỉ có 5 bệnh nhân có tốc độ dẫn truyền chậm hơn 70% so với giới hạn bình thường dưới của phòng điện cơ chúng tôi và được xem là nằm trong phạm vi của hủy myelin. Tốc độ dẫn truyền chậm được ghi nhận ở thần kinh mác sâu (14 bệnh nhân), thần kinh giữa, thần kinh trụ (2 bệnh nhân), thần kinh chày sau (1 bệnh nhân).

Block dẫn truyền hay phát tán

Khi kích thích ở phần giữa chi hay gốc chi thì nhận thấy có 4 bệnh nhân bị block dẫn truyền (13%),  3 bệnh nhân bị ở 1 dây thần kinh, 1 bệnh nhân bị block dẫn truyền ở phần trung tâm của cả dây trụ và dây mác sâu. Dấu hiệu phát tán của đáp ứng CMAP có lẽ là dấu hiệu đặc hiệu nhất trong GBS sớm đã được thấy khi kích thích phần trung tâm của một dây thần kinh ở 3 bệnh nhân (10%) và ở nhiều dây thần kinh ở 15 bệnh nhân (48%). Nói tóm lại , có 18 bệnh nhân (58%) có đáp ứng CMAP phát tán ở ít nhất là một dây thần kinh.

Dấu hiệu điện cơ

Điện cơ kim được thực hiện chỉ ở 6 bệnh nhân bởi vì thời điểm thực hiện quá gần so với thời điểm khởi phát triệu chứng. Số lượng đơn vị vận động và hiện tượng kết tập đều bị giảm ở tất cả bệnh nhân , một bệnh nhân được thực hiện điện cơ kim 5 ngày sau khi có triệu chứng và nhận thấy có điện thế tự phát (fibrilation) ở các cơ gốc chi trên và chi dưới.

17 (55%)bệnh nhân có thể chẩn đoán xác định bởi vì  có sự kết hợp của giảm tốc độ dẫn truyền vận động , giảm biên độ CMAP , phát tán bất thường, block dẫn truyền, hoặc thời gian tiềm tối thiểu của sóng F kéo dài. Phản xạ H là dấu hiệu bất thường phổ biến nhất sau khi khởi phát triệu chứng. Trong 5 ngày đầu thường không thấy nhóm dấu hiệu cần thiết cho chẩn đoán xác định.

BÀN LUẬN :

Theo hiểu biết của chúng tôi , điện cơ không phải là xét nghiệm duy nhất ở những bệnh nhân mà triệu chứng của họ mới khởi phát dưới một tuần. Mục đích của nghiên cứu này là tìm nhóm dấu hiệu bất thường sớm nhất thường thấy ở bệnh nhân GBS. Chẩn đoán trong tuần đầu rất khó khăn bởi vì dịch não tủy và dẫn truyền thần kinh có thể chưa có thay đổi , nhưng dù sao thì cũng cần chẩn đoán sớm vì người ta nhân thấy rằng điều trị sớm có thể giảm được độ nặng và cải thiện tốt . Chúng tôi nghiên cứu trên 31 bệnh nhân đã được làm điện cơ trong vòng 7 ngày sau khởi phát triệu chứng yếu vận động và sau đó  xác định những thay  đổi sớm nhất trên điện cơ và % bệnh nhân có thể chẩn đoán xác định. Chẩn đoán xác định dựa vào các dấu hiệu bao gồm: tốc độ dẫn truyền chậm, thời gian tiềm kéo dài , đáp ứng dẫn truyền kiểu phát tán và block dẫn truyền, biên độ CMAP ngoại vi thấp , thời gian tiềm tối thiểu sóng F kéo dài. Chúng tôi chọn thời điểm khởi phát bệnh là lúc xuất hiện triệu chứng lâm sàng bởi vì đó là cách dễ nhất. tuy nhiên không phải triệu chứng yếu vận động là dấu hiệu khởi đầu ở tất cả bệnh nhân.

Việc sử dụng các test điện cơ trong chẩn đoán GBS đã được đưa vào ứng dụng gần 50 năm nay. Điều tra bước đầu cho thấy hủy myelin nhiều chổ là môt tình trạng sinh lý bệnh cơ bản thường thấy nhất. Những nghiên cứu lớn gồm những bệnh nhân có triệu chứng dưới một tuần dù có sóng H và dẫn truyền cảm giác bất thường nhưng đã không được bàn đến. Trong báo cáo của ROPPER và cộng sự thì  có 41 bệnh nhân được làm test chẩn đoán điện trong vòng 1 tuần sau khi khởi phát triệu chứng . 16 bệnh nhân trong số này có nhiều bất thường về CMAP như thời gian tiềm kéo dài , biên độ thấp, tốc độ dẫn truyền chậm, block dẫn truyền, hay bất thường sóng F. Tuy nhiên chỉ có 5 bệnh nhân có tốc độ  chậm dưới 80 % giới hạn dưới của chỉ số bình thường ở ít nhất 2 dây thần kinh. 15 bệnh nhân có vài bất thường của sóng F. CLOUSTON và cộng sự đánh giá CMAP của 47 bệnh nhân GBS , trong đó có 20 bệnh nhân được đánh giá trong tuần đầu sau khi khởi phát triệu chứng. 15 bệnh nhân có ít nhất 1 dây thần kinh có CMAP biên độ thấp và trong số này có 10 bệnh nhân có biên độ giảm đi khi kích thích phần trung tâm gợi ý block dẫn truyền. Những bệnh nhân có biên độ thấp có dự hậu xấu .

Một dạng mất sợi trục của GBS đuợc gọi là “bệnh thần kinh vận động thể sợi trục cấp tính“ hay bệnh thần kinh cảm giác thể sợi trục cấp tính chiếm 11% các GBS và có liên quan với sự hồi phục chậm. Tuy nhiên hủy myelin nguyên phát có tổn thương sợi trục thứ phát sẽ giống hệt dạng tổn thương sợi trục của GBS về mặt lâm sàng và sinh lý điện. Mặt khác ở trẻ em Trung Quốc người ta nhận thấy có một hội chứng tiến triển nhanh, nặng nhưng sự yếu cơ có thể hồi phục với biên độ CMAP thấp. Sự giảm biên độ CMAP của một số trẻ em này là biểu hiện của hủy myelin nặng ở ngoại vi và có thể có mất sợi trục . Vì thế giảm nặng biên độ của CMAP sớm trong GBS có thể do hủy myelin phần ngoại vi , mất sợi trục hoặc cả hai  nên nó phản ánh tiên lượng cũng không chính xác. 5 trong số 20 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi với biên độ CMAP thấp có bằng chúng rõ ràng có mất phân bố thần kinh trên điện cơ kim, 3 trong số bệnh nhân này không đi lại được sau đó, còn lại 15 bệnh nhân có giảm biên độ CMAP, có thể có block dẫn truyền ngoại vi dù không có bằng chứng xác định.

Tiêu chuẩn chẩn đoán sớm GBS khi những thay đổi về điện học chưa đầy đủ đã được đề nghị từ lâu nhưng đều tập trung vào dấu hiệu của khảo sát dẫn truyền vận động và không đề cập đến phản xạ H hoặc so sánh kết quả khác nhau của đo dẫn truyền cảm giác. Phản xạ H là test rất nhạy trong việc phát hiện bất thường rễ s1 ở mức độ tinh tế và bệnh đa dây thần kinh sớm. Trong khi nếu dựa  vào đánh giá phản xạ gân Achilles thì có giá trị cao nhưng không hoàn toàn tuyệt đối vì nó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của người khám. Những dữ liệu của chúng tôi cho thấy rằng phản H là test nhạy nhất trong GBS sớm. Phản xạ H mất hoặc bất thường trong tất cả bệnh nhân của chúng tôi sau khi khởi phát triệu chứng (bảng 2) gồm 21 bệnh nhân trẻ hơn 60 tuổi. Nó bất thường sớm và thường sớm hơn khi làm những xét nghiệm khác mà những bất thừơng ít khi xuất hiện trong 5 ngày đầu của bệnh và trong nhiên cứu của chúng tôi đó là bất thường đơn độc thấy ở 5 bệnh nhân trong số 31 bệnh nhân (16%). Tuy nhiên, những dấâu hiệu này không phải là quan trọng  ở bệnh nhân có hội chứng Miller- Fisher. Trong trường hợp  này, phản xạ H là test nhạy cảm hơn phản xạ F. 18 bệnh nhân (58%) có ít nhất một test đánh giá sóng F bình thường  và thường là nhiều dây thần kinh được kiểm tra sóng F để tìm các bất thường . Theo kinh nghiệm, chúng tôi thấy rằng nên đưa việc đánh giá phản xạ H vào chương trình tiêu chuẩn trong chẩn đoán sớm GBS. Tuy nhiên sóng F cũng như sóng H không phải là quan trọng nhất , nó không đặc hiệu cho chẩn đoán bởi vì nó không phải là bằng chứng thuyết phục của hủy myelin .

Trong GBS sớm, SNAP cũng thường có bất thường. Có vài trường hợp có những triệu chứng về cảm giác mơ hồ trước khi có yếu vận động khoảng vài giờ đến vài tuần. Chúng tội nhận thấy có sự kết hợp bất thường của SNAP bình thường ở chi dưới (thường là thấn kinh hiển) và SNAP biên độ thấp hoặc mất của SNAP chi trên gặp trong gần phân nữa số bệnh nhân của chúng tôi. và chiếm 2/3 số bệnh nhân trẻ hơn 60 tuổi , và số bệnh nhân mà SNAP thần kinh hiển của họ bình thường. Mặc dù không có gì bất thường trong dẫn truyền vận động của thần kinh hiển và cũng không thể có chẩn đoán gì với một biên độ SNAP của thần kinh chi trên thấp  nhưng nếu chúng kết hợp nhau thì nên quan tâm đến khả năng có hủy myelin mắc phải , đặc biệt khi có mất phản xạ H đi kèm vì những dấu hiệu này chưa bao giờ thấy đi cùng với nhau trong các bệnh viêm đa dây thần kinh khác ngoại trừ  CIDP (bệnh viêm đa dây thần kinh mãn có hủy myelin) hay những bệnh khác gống hệt GBS.

Sau cùng, những dữ liệu của chúng tôi cho thấy rằng những dấu hiệu  đủ giúp cho chẩn đoán thường xuất hiện sau 4 ngày kể từ lúc khởi phát triệu chứng ( bảng 3) không gợi ý một cách tất yếu cho sự hủy myelin ngoại trừ chúng kết hợp nhau và theo những nghiên cứu khác đã báo cáo thì có lẽ sẽ dễ khám phá hơn nếu có nhiều dây thần kinh được khảo sát .Trong khi nghiên cứu này lại cho các dấu hiệu khác phản xạ H như sóng F (26 bệnh nhân {84%})biên độ CMAP, (22bệnh nhân {71%}) thời gian tiềm ngoại vi (20 bệnh nhân {65%}), tốc độ dẫn truyền vận động (16 bệnh nhân {52%}), hay các dạng sóng (18 bệnh nhân {58%}) thì thường kém và không phồ biến trong 5 ngày đầu. Những bất thường này không có xu hướng xuất hiện trên những thần kinh đặc trưng riêng biệt nào. khác với sóng H, nhiều thần kinh đuợc khảo sát để tìm một bất thường đơn độc và nhất là những bệnh nhân có một hay nhiều sóng F bất thường . Chỉ có 5 bệnh nhân có chậm dẫn truyền so với các giới hạn của phòng điện cơ chúng tôi và đuợc xem là có hủy myein. Vì thế nếu có thấy chậm dẫn truyền vận động trong tuần đầu thì thường là nhẹ , cần nhấn mạnh điều này vì  khi có chậm dẫn truyền vận động đáng kể đó là dấu hiệu quan trọng cho chẩn đoán GBS sớm. Chẩn đoán điện được thực hiện sớm trong tuần đầu có thể không chẩn đoán được . Những bệnh nhân khi làm chẩn đoán điện không chẩn đoán đuợc thì có thể là do nó đuợc thực hiện trước 4 ngày đầu, các dấu hiệu này thường không đặc hiệu và cũng không gợi ý cho sự hủy myelin một cách rõ ràng thậm chí khi chúng xuất hiện kết hợp với nhau.

Chanå đoán GBS sớm trong tuần đầu sau khi có triệu chứng về vận động là rất khó khăn. Trong trường hợp này chẩn đoán điện là có ích nhất khi duy chỉ có mình nó có bất thường. Những dấu hiệu của chẩn đoán điện đặc biệt là phản xạ H , bất thường sóng F, sự kết hợp của SNAP chi trên bất thường và SNAP thần kinh hiển bình thường. Trong khi tự bản thân nó không phải là bằng chứng của hủy myelin nhưng là đặc điểm của bệnh đa rể dây thần kinh có hủy myelin khi chúng đi cùng với nhau. Nhóm các triệu chứng đầy đủ giúp cho chẩn đoán xác định không xuất hiện thường xuyên trong 5 ngày kể thừ lúc có triệu chứng về vận động ,hiện diện ở một nữa số bệnh nhân , và càng dễ phát hiện hơn nếu khảo sát nhiều dây thần kinh ở các chi.

Bảng 1: đặc điểm lâm sàng của 31 bệnh nhân hội chứng Guillain Barre’

CÁC BIẾN SỐ

SỐ BỆNH NHÂN

Nữ/ Nam

20 /11

Tuổi

7- 46

<60 tuổi

21

Yếu vận động

31 (100)

Mất phản xạ

29 (94)

Đánh giá dịch não tủy(n=28)

20 (71)

Phẫu thuật hoặc nhiễm trùng

22 (71)

Mất cảm giác

3 (10)

Mức độ yếu cơ

       Nhẹ

       Trung bình

        Nặng

 

18 (58)

9 (29)

4 (13)

Thở máy

12 (39)

Bảng 2 :Những dấu hiệu chẩn đoán điện của bệnh nhân Hội Chứng Guillain Barre’ trong tuần đầu

CÁC BIẾN SỐ

SỐ BỆNH (%)

Phản xạ H

     Tổng bất thường

     Mất

     < 60 tuổi ( n= 21)

     Biên độ thấp, latency bình thường

 

31 (100)

30 (97)

21 (100)

1 (3)

Sóng F

     Tổng số bất thường *

Chi trên

     Mất

     Latency kéo dài

     Bình thường

Chi dưới

     Mất

     Latency kéo dài

     Bình thường

Bình thường ở chi trên hay chi dưới

Bình thường chi trên và chi dưới

 

26 (84)

 

17 (55)

6 (19)

8 (26)

 

19 (61)

4 (13)

8 (26)

8 (26)

5 (16)

Đáp ứng SNAP

Bất thường ở chi trên *

     Mất ở chi trên

     Bình thường ở chi trên

Mất ở thần kinh hiển

Bình thường ở thần kinh hiển

     <60 tuổi

Bất thường SNAP chi trên/SNAP thần kinh hiển bình thường

     <60 tuổi

 

19 (61)

12 (39)

12 (39)

5 (16)

26 (84)

19/21 (90)

15/31 (48)

14/21 (67)

Đáp Ưng CMAP

Biên độ thấp *

     > 2 thần kinh

Latency ngoại vi kéo dài *

     > 2 thần kinh

 

22 (71)

19 (61)

19 (61)

14 (45)

Tốc Độ Dẫn Truyền

     Chậm

> 2 thần kinh

Chậm <70 % bình thường

 

16 (52)

13 (42)

5 (16)

Block Dẫn Truyền Trung Tâm

4 (13)

Phát Tán

18 (58)

*: một hay nhiều dấu hiệu bất thường
Bảng 3 : đánh giá những biến đổi về dẫn truyền

CÁC BIẾN ĐỔI

NGÀY 1- 4

NGÀY 5 -7

Mất phản xạ H

7 (88)

23 (100)

Dẫn truyền bình thường (trừ phản xạ H)

3 (38)

2 (29)

Sóng F

     Bất thường **

     Mất

     Kéo dài

     Bình thường

 

6 (75)

4 (50)

2 (25)

2 (25)

 

20 (87)

17 (74)

3 (13)

3 (13)

 SNAP

     Bất thường **

     Mất

     Bất thường chi trên/Tk hiển bình thường

     Mất ở chi trên/Tk hiển bình thường

 

2 (26)

1 (13)

2 (25)

1 (13)

 

17 (73)

11 (48)

13 (57)

8 (35)

CMAP

     Biên độ thấp **

     > 2 thần kinh

     Latency kéo dài **

> 2thần kinh

Chậm dẫn truyền **

> 2 thần kinh

Block dẫn truyền trung tâm

Phát tán

 

3 (38)

3 (38)

2 (25)

1 (13)

2 (25)

1 (13)

1 (13)

3 (38)

 

19 (83)

16 (70)

18 (78)

13 (57)

14 (61)

12 (52)

3 (13)

15 (65)

**: một hay nhiều dấu hiệu bất thường