
CHẢY MÁU TRONG NÃO ĐA
Ổ CÙNG LÚC
Biểu hiện lâm sàng và tiên
lượng
Jorge
M; Gustavo S; Sandra L; Raul C; Roberto E: Multiple Simultaneous Intracerebral
Hemorrhages. Arch Neurol. Apr 2001; 58: 629-631
Người
dịch: Bác sĩ Bùi văn Tố
Mở đầu: Chảy máu trong não ở
khu vực nuôi dưỡng bởi những động
mạch khác nhau cùng một lúc là một tình huống ít
gặp trong lâm sàng. Cơ chế sinh bệnh học và
những yếu tố nguyên nhân đã không được
xác định rõ dàng.
Mục đích: Để phân tích tần
số, những yếu tố nguy cơ, những biểu
hiện lâm sàng, biểu hiện về hình ảnh học
thần kinlh và tiên lượng của chảy máu trong não
đa ổ cùng lúc ((simultaneous intracerebral hemorrhages (SIHs)).
Đối
tượng và phương pháp: Chúng
tôi nghiên cứu tất cả các bệnh nhân bị đột
quỵ cấp đã nằm điều trị tại
bệnh viện của chúng tôi từ 18 tháng 7 năm 1997
đến 18 tháng 12 năm 1999. Chảy máu trong não đa
ổ cùng lúc được định nghĩa là
sự hiện diện của 2 hay nhiều hơn
ổ xuất huyết trong sọ có liên quan đến
những khu vực chi phối của những động
mạch khác nhau biểu hiện bằng hình ảnh tăng
đậm độ trên phim chụp cắt
lớp.Những bệnh nhân có bệnh sử tổn thương
não do chấn thương đã được loại
khỏi nghiên cứu này. Quá trình chẩn đoán bao
gồm xét nghiệm máu, và nước tiểu thường
qui, nghiên cứu yếu tố đông máu, Xquang ngực,
điện tim, siêu âm tim 2 chiều qua đường
lồng ngực và chụp cắt lớp điện toán
không tiêm thuốc cản quang. Sự tàn phế chức năng
được đánh giá bằnh thang điểm NIHSS và
thang điểm MRS.
Kết quả: Trong
số 142 bệnh nhân chảy máu não, chúng tôi tìm thấy
4 bệnh nhân (2,8%) bị chảy máu trong não đa ổ cùng
lúc. Cả 4 bệnh nhân này có tiền sử cao huyết
áp không được theo dõi. Chúng tôi đãõ loại
trừ những nguyên nhân tiềm tàng khác của chảy
máu trong não đa ổ cùng lúc bằng dùng những test
chẩn đoán thích hợp. Biểu hiện lâm sàng chung
nhất là đau đầu và liệt. Vùng có khối máu
tụ nằm trên lều, loại trừ 1 trường
hợp có chảy máu cả trên và dưới lều.
Điểm NIHSS trung bình lúc thăm khám là 15 và điểm
MRS lớn hơn 4 tại thời điểm 3 tháng.
Kết
luận: Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất
cả các bệnh nhân bị chảy máu trong não đa
ổ cùng lúc có cao huyết áp và 1 tiên lượng nghèo nàn.
Những nghiên cứu phân tích sâu hơn nữa, bao
gồm những kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh
mới, giúp cho chúng ta làm sáng tỏ mối liên quan
giữa cao huyết áp và chảy máu trong não đa ổ cùng
lúc, những yếu tố nguy cơ, và cơ chế cơ
bản của tình trạng lâm sàng này.
Chảy máu trong não
xảy ra cùng một lúc ở những vùng nuôi dưỡng
bởi những động mạch khác nhau rất ít
xảy ra. Những yếu tố bệnh học nguyên nhân
và những cơ chế tiềm ẩn liên quan đến
tình huống lâm sàng này chưa được xác định
một cách rõ ràng. Về mặt lịch sử, chảy máu
trong chất não đa ổ cùng lúc có liên quan đến
những bệnh lý huyết học, viêm mạch máu, điều
trị các thuốc chống đông, dùng thuốc cấm
(illicit), bệnh mạch máu thoái hóa tinh bột ở não,
hoặc bệnh nhồi máu
đa ổ có xuất
huyết. Năm 1981, Weisberg đã mô tả 12 bệnh nhân
bị chảy máu trong chất não đa ổ cùng lúc mà không
tìm thấy bất cứ nguyên nhân rõ ràng nào. Về sau,
Seijo và cộng sự đã báo cáo 7 trường hợp
khác bị chảy máu trong chất não đa ổ cùng lúc,
trong đó có 3 trường hợp đã có liên quan
tới bệnh lý huyết học. Theo chúng tôi được
biết có 2 chuỗi báo cáo lớn nhất đã
mô tả chảy máu trong chất não đa ổ cùng
lúc. Nghiên cứu này phân tích tần suất, những
yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng, triệu
chứng hình ảnh học thần kinh, tiên lượng
của chảy máu não đa ổ cùng lúc.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP.
Chúng tôi nghiên
cứu tiền cứu tất cả các bệnh nhân bị
đột quỵ cấp đã được điều
trị tại bệnh viện của chúng tôi từ 18 tháng
7 nắm 1997 đến 18 tháng 12 năm 1999. Những bênh nhân
bị chấn thương sọ não đã bị loại
khỏi nghiên cứu này. Quá trình chẩn đoán bao
gồm các bước sau: xét nghiệm máu và nước
tiểu thường qui, xét nghiệm đông máu, Xquang
ngực, điện tim, siêu âm tim 2 chiều đường
qua lồng ngực và chụp cắt lớp không
tiêm thuốc cản quang. Cộng hưởng từ, siêu
âm tim qua đường thực quản, và cộng hưởng
từ mạch máu được
tiến hành khi cần thiết. Tất cả các bệnh
nhân được đánh giá bởi ít nhất hai bác sĩ
thần kinh (J.M và G.S), một trong số họ đặc
biệt chuyên khoa về bệnh mạch máu não. Dữ
liệu thu thập được từ các bệnh nhân
được ghi vào mẫu, mẫu đó bao gồm
những mục sau: Ngày giờ nhập viện, những
yếu tố nguy cơ, triệu chứng khởi phát,
triệu chứng thần kinh thăm khám được,
điểm đột quỵ NIHSS vị trí tổn thương
não căn cứ theo sơ đồ mẫu của Damasio.
Kết quả tại thời điểm 3 tháng được
đánh giá bằng thang điểm MRS (>4).
Các yếu tố
nguy cơ đã được xác định như sau:
Cao huyết áp, huyết áp tâm thu lớn hơn 160 mmHg và
(hoặc ) huyết áp tâm trương lớn hơn 90 mmHg
ít nhất qua 2 lần đo, có dùng thuốc hạ
huyết áp, có tiền
sử cao huyết áp đã được chẩn đoán,
hoặc bất cứ một sự phối hợp nào
giữa các yếu tố trên với nhau; hút thuốc lá, hàng
ngày hút trên 10 điếu suốt
thời gian 6 tháng trước khi nhập viện;
tiểu đường, đường máu lúc đói cao
hơn 6.7mmol/L (>120mg/dL) tại thời điểm nghiên
cứu; tăng cholesterol máu xét nghiệm cholesterol lúc đói
lớn hơn 5.69 mmol/L (220mg/dL); và uống rượu,
uống nhiều hơn 100g mỗi ngày trong suốt 2 tháng
trước khi nhập viện. Đột quỵ chảy
máu não được định nghĩa làmột sự
xuất hiện đột ngột các khiếm khuyết
thần kinh cùng với hình ảnh xuất huyết nhu mô não
hoặc xuất huyết dưới nhện trên chụp
cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ.
Chảy máu trong não cùng lúc nhiều ổ được
định nghĩa như là sự hiện diện của
2 hay nhiều hơn ổ chảy máu trong nhu mô não có
nguồn nuôi từ những động mạch khác nhau
biểu hiện bằng tăng đậm độ trên
phim cắt lớp. Tất cả các hình ảnh học não
được đánh giá bởi một bác sỹ
chẩn đoán hình ảnh, người này không hề
biết gì về triệu chứng thần kinh học
của bệnh nhân.
KẾT
QUẢ:
Trong 507 bệnh nhân
bị đột quỵ não nằm viện trong thời
gian nghiên cứu của chúng tôi, có 187 bệnh nhân (37%)
bị đột quỵ chảy máu não, 45 bệnh nhân
(24%) có chảy máu dưới nhiện và 142 bệnh nhân
(76%) có chảy máu trong nhu mô. Trong số bệnh nhân
chảy máu trong nhu mô, chúng tôi tìm thấy 4 bệnh nhân
(2.8%) có chảy máu não trong sọ đa ổ cùng lúc (
tuổi trung bình 55; khoảng tuổi từ 40-63). Tất
cả các bệnh nhân bị chảy máu trong sọ đa
ổ cùng lúc đều có tiền sử cao huyết áp.
Chúng tôi loại trừ các nguyên nhân khác của chảy máu
não đa ổ cùng lúc bằng test chẩn đoán thích
hợp. Những yếu tố nguy cơ của những
bệnh nhân chảy máu não đơn ổ và chảy máu
đa ổ được tóm tắt trong bảng 1.
Những triệu chứng thường gặp nhât tại
thời điểm khám là đau đầu và liệt .
Thang điểm NIHSS trung bình khi nhập viện của
những bệnh nhân chảy máu trong nhu mô não và chảy máu
não đa ổ cùng lúc tương ứng là 12 và 15.
Với chảy máu não đa ổ cùng lúc , tất cả các
ổ máu tụ đều ở trên lều, loại
trừ 1 trường hợp (bệnh nhân thứ 2) có1
ổ chảy máu đồi thị phải và 1 ổ
ở tiểu não trái (hình). Thang điểm MRS lớn hơn
4 tại thời điểm 3 tháng. Biểu hiện lâm sàng
của bệnh nhân nhồi máu não đa ổ cùng lúc
được chỉ ra ở bảng 2.
|
Bảng
I. Tần số của các yếu tố nguy cơ
|
|
Yếu
tố nguy cơ
|
Số,
% của bệnh nhân bị chảy máu trong nhu mô não(n=142)
|
Số,
% của bệnh nhân bị chảy máu não đa ổ
cùng lúc (n=142)
|
|
Cao huyết áp
|
110
(77)
|
4 (100)
|
|
Tiểu
đường
|
34
(24)
|
0
|
|
Hút thuốc lá
|
67
(47)
|
1 (25)
|
|
Bệnh động
mạch vành
|
27
(19)
|
0
|
|
Nghiện rượu
|
51
(36)
|
0
|
|
Tăng cholesterol
|
47
(33)
|
0
|
|
Bảng
2. Đặc điểm của bệnh nhân chảy máu
não đa ổ cùng lúc
|
|
BN:
STT,
Giới,Tuổi
|
Triệu
chứng lúc thăm khám
|
Huyết
áp lúc nhập viện
|
Vùng
chảy máu não, bên (kích cỡ, cm3)
|
Thang
điểm
MRS
|
|
1/nữ/59
|
Đau đầu
và bại ½ người P
|
220/120
|
Đồi
thị bên T, nhân vỏ hến F
|
4
|
|
2/nam/58
|
Ý thức lơ
mơ và bại ½ người T
|
240/130
|
Đồi
thị bên P, tiểu não bên T
|
5
|
|
3/nam/63
|
Đau đầu,
bại ½ người P và rối loạn ngôn ngử
|
190/130
|
Thùy TD bên T,
đồi thị bên T
|
4
|
|
4/nữ/40
|
Đau đầu,
ý thức lơ mơ, bại ½ người T
|
205/120
|
Nhân vỏ
hến 2 bên
|
5
|
Trở về đầu trang
BÀN
LUẬN:
Trong đột
quỵ chảy máu não chỉ thu được 2-3%
chảy máu não đa ổ cùng lúc. Không có sự phù
hợp giữa các tác giả khác nhau về các yếu
tố nguyên nhân và cơ chế gây bệnh. Mc Cormick và
Rosenfield mô tả 16 bệnh nhân bị chảy máu não đa
ổ cùng lúc có: 9 bệnh nhân bị bệnh bạch
cầu, 3 bệnh nhân khác có
bệnh lý về bệnh ưa chảy máu, 2 bệnh nhân
bị ung thư và 2 người bị bênh viêm mạch máu.
Trong 600 bệnh nhân bị chảy máu não, Weisberg tìm
thấy 12 (2%) bị chảy máu đa ổ cùng lúc.
Chảy máu não ở những vùng như sau: ở thùy 8
bệnh nhân, ở thùy và nhân vỏ hến 2 bệnh nhân,
đồi thị và tiểu não 1 bệnh nhân, ở
tiểu não chỉ có 1 bệnh nhân. Có 2 bệnh nhân có
tiền sử cao huyết áp, những bệnh nhân khác không
xác định được các yếu tố nguy cơ.
Trong 297 bệnh nhân bị chảy máu não Seijo và cộng
sự tìm thấy 7 (2.3%) bệnh nhân bị chảy máu
đa ổ cùng lúc. Trong tất cả các trường
hợp ổ chảy máu nằm ở trên lều. Có 3
bệnh nhân bị bệnh lý huyết học và 3 trường
hợp khác bị cao huyết áp. Bệnh mạch máu thoái
hóa dạng tinh bột ở não cũng có liên quan với
chảy máu não đa ổ cùng lúc mặc dù nó thường
xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi không có
cao huyết áp, ổ máu tụ thường không ở
hạch nền và tiểu não. Như đã xác định
trong y văn, cao huyết áp là nguyên nhân chính ngây ra
chảy máu não đơn ở. Hiếm khi cao huyết áp có
liên quan với chảy máu não đa ở cùng lúc. Nó phù
hợp với những báo cáo trước đậy
ở Nhật Bản và các trường hợp có tính
chất gia thoại khác, tất cả các bệnh nhân
của chúng tôi có tiền sử cao huyết áp không
được điều trị. Chỉ có một
bệnh nhân đã và đang được uống
enalapril 10 mg mỗi ngày trước khi vào nhập viện.
3 bệnh nhân còn lại đã không được điều
trị thuốc hạ áp liên tục trong thời gian 3 tháng
trước khi xuất hiện chảy máu não. 2 bệnh nhân
đã được truyền sodium nitroprussid để
điều chỉnh huyết áp lúc vào viện.
Thêm nữa, sơ
đồ định vị của chảy máu não đa
ổ tương tự như sơ đồ thường
dùng cho chảy máu não đơn ổ
do cao huyết áp. Chúng tôi đã không tìm thấy
bất kỳ nguyên nhân tiềm tàng khác của chảy máu
trong nhu mô não như bệnh lý đông máu, chảy máu não
thứ phát sau nhồi máu não đa ổ, viêm mạch máu,
hay dùng thuốc chống đông. Mặc dù bệnh
mạch máu thoái hóa dạng tinh bột cũng có thể là
1 chẩn đoán phân biệt, vị trí của khối máu
tụ khiến cho quan điển này không hợp lý. Do
đó chảy máu não đa ổ cùng lúc ở những
bệnh nhân của chúng tôi có thể có khả năng liên
quan tới cao huyết áp. Cơ chế sinh lý bệnh
học của chảy máu não đa ổ cùng lúc
vẫn còn chưa được biết chắc
chắn. Những nghiên cứu giải phẫu bệnh
học chỉ ra những thay đổ thoái hóa do cao
huyết áp (cụ thể
là thoái hóa lipohyalin và phình mạch Charcot-Bouchard) ở
những động mạch sâu (penetrating). Điều này
dẫn đến thành mạch máu bị tổ thương
này có thể liên quan trực tiếp
tới chảy máu não đa ổ ở nhiều hơn
1 vùng nuôi bởi 1 động mạch. Komiyama và cộng
sự tìm thấy chảy
máu cùng 1 lúc từ nhiều động mạch đậu
vân ở 1 người đàn ông có cao huyết áp và
chảy máu trong não bằng chụp mạch máu não qui ước.
Broderick và cộng sự đã chỉ ra rằng 1 số
bệnh nhân bị chảy máu não có 1 sự tăng
thể tích chảy máu. Phần lớn các bệnh nhân
đã duy trì huyết áp trong
suốt thời gian ban đầu của chảy máu não.
Broderick và cộng sự đã đề nghị rằng
cao huyết áp tái phát có thể là nguyên nhân gây chảy máu
tiếp. Ngày nay với những kỹ thuật mới
của cộng hưởng từ sóng ngược
(gradien-echo) đã chỉ ra nhiều ổ chảy máu
nhỏ không triệu chứng ở những bệnh nhân có
cao huyết áp mạn tính và nhồi màu não đã không phát
hiện được trên chụp cắt lớp. Kva và
cộng sự đã nhân thấy rằng 26% bệnh nhân
bị nhồi máu não cũng có bằng chứng của
sự lắng đọng hemocyderin phối hợp với
những tổn thương chất trắng trên hình
ảnh cộng hưởng từ não.
Chúng tôi cho rằng
cao huyết áp kéo dài trong suốt đột quỵ
chảy máu não có thể làm bùng phát đợt chảy máu
khác do những biến đổi mạch máu cấp ở
những động mạch sâu, những lớp giữa và
lớp nội mạc mạch máu thuộc động
mạch bị tổn thương trước đó.
Khẳng định những nhân xét như vậy có
thể tác động đến việc điều
trị khẩn cấp cao huyết áp sau đột quỵ
chảy máu.
Chúng tôi nhận
thấy rằng nghiên cứu của chúng tôi có 1 vài
hạn chế. Thứ nhất, đây là một nghiên
cứu theo hình thức thu thập một loạt các trường
hợp. Những kiểu nghiên
cứu này có ích cho giả thuyết, nhưng không kiểm
chứng sự hiện diện của những liên quan
về thống kê có hiệu quả. Hạn chế khác
là thiếu nhóm chúng. Vì vậy các yếu tố nguy
cơ và tình trạng gây bệnh, thậm trí theo đề
nghị, có thể đơn giản chỉ
là trùng lặp ngẫu nhiên. Thứ hai, tần số
của chảy máu não đa ổ
cùng lúc trong nghiên cứu này có thể gây thành
kiếm bởi vì tỷ
lệ mắc bệnh cao của chảy máu não trong sọ
trong dân số của chúng tôi. Tuy nhiên, bệnh viện chúng
tôi không phải là 1 trung tâm nghiên cứu. Chúng tôi cho
rằng có 1 vài yếu tố khác có liên quan như là: cao
huyết áp quản lý kém, uống nhiều rượu, hay
sắc tộc (ethnicity).
Nói
tóm lại, chảy máu trong não đa ổ cùng lúc có thể có tỷ lệ cao hơn như
đã báo cáo. Những nghiên cứu phân tích sâu hơn
nữa, bao gồm những kỹ thuật về hình
ảnh mới, là cần thiết để xác định
mối liên quan giữa cao huyết áp và chảy máu não
đa ổ cùng lúc, những yếu tố nguy cơ, và cơ
chế sinh lý bệnh học cơ bản.
Trở
về đầu trang
