
CHẨN
ĐOÁN CHẾT NĂO BẰNG SIÊU ÂM XUYÊN SỌ
VỚI
ĐƯỜNG VÀO QUA HỐC MẮT
Yair
Lamp, Ronit Gilad, Yehiel Eschel, Mona Boaz, Abraham Rapoport, Menachem Sadeh:
Diagnosing brain death using the Transcranial Doppler with a transorbital
approach - Arch Neurol / vol 59, Jan 2002: 58-60.
Người
dịch: BS Nguyễn Thanh Giang, Khoa nộI thần kinh, BV 175.
Mở
đầu:
TCD
là một dụng cụ nhạy cảm để chẩn
đoán chết năo. Nguyên lư để xác định
chết năo bao gồm sự biểu hiện của
những kiểu lưu lượng ḍng máu đặc trưng
trong những hệ thống lưu thông phía trước và
phía sau. Nhược điểm của phương pháp này
là sự thường xuyên phát hiện nhầm không có ḍng
chảy nào, đặc biệt khi tiến hành với
đường vào qua thái dương ở người
phụ nữ lớn tuổi.
Mục
đích:
Để
đánh giá tính hiệu quả của đường vào
qua hốc mắt trong chẩn đoán chết năo bằng
siêu âm xuyên sọ.
Phương
pháp:
Tiến
hành phương pháp nghiên cứu thử nghiệm chẩn
đoán, nghiên cứu tiến cứu có đối
chứng. Những đường vào qua hốc mắt, thái
dương và những lỗ ghép đă được
sử dụng. Khảo sát 57 bệnh nhân (29 nam, 28 nữ,
tuổi trung b́nh: 68,2 ( 12,1) với xác định lâm sàng
chết năo.
Kết
quả:
45
bệnh nhân, lưu lượng ḍng chảy dao động
hoặc những gai nhọn trong thời kỳ tâm thu đă
được t́m thấy ở tất cả các
đường vào. 4 bệnh nhân không phát hiện
được lưu lượng ḍng chảy. 6 bệnh nhân
với lưu lượng ḍng chảy dao động
hoặc những gai nhọn trong thời kỳ tâm thu đă
được t́m thấy ở 2 đường vào
(một đường vào qua hốc mắt). 2 bệnh nhân
nhận thấy rơ ràng chết năo đă được
chứng minh chỉ sử dụng duy nhất đường
vào qua hốc mắt. Khi sử dụng đường vào
qua ổ mắt, tỷ lệ phần trăm việc xác
định chắc chắn với những chẩn đoán
cuối cùng chết năo tăng lên từ 79% đến 88%.
Kết
luận:
Sử
dụng máy TCD với đường vào qua hốc mắt
góp phần hữu ích cho chẩn đoán chết năo.
Trong
xă hội hiện đại, chết
năo đă được chấp nhận như là một
yếu tố chỉ thị khách quan của việc
kết thúc cuộc đời và được định
rơ là sự vắng mặt tất cả các chức năng
của năo.Từ năm 1994 uỷ ban thường trực
của các hội thần kinh khác nhau đă đồng ư
rằng trách nhiệm của việc xác định t́nh
trạng chết năo là sự quyết định của lâm
sàng và định rơ việc sử dụng các khảo sát
thực nghiệm như là những thử nghiệm để
chứng thực. Những kiểu lưu lượng ḍng
chảy đặc trưng thấy được trong
chết năo trong sử dụng TCD đă là sự giúp đỡ
hiệu quả trong chảan đoán chết năo. Tuy nhiên,
tỷ lệ phần trăm cao (10% - 15%) của những t́nh
trạng sai lầm do kỹ thuật trong việc không quan sát
được ḍng máu đă hạn chế việc sử
dụng thử nghiệm này. Không có ḍng chảy của
động mạch năo giữa có thể cho biết sự
ngưng trệ toàn bộ của ḍng máu hoặc có
thể không thấy rơ do độ dày của xương
thái dương. Phù hợp với nhóm nghiên cứu đặc
biệt (Task Force Group) trong chết năo của nhóm nghiên
cứu siêu âm hệ thần kinh thuộc liên đoàn
thế giới về thần kinh học (Neurosonology Research
Group of the World Federation of Neurology), sự vắng mặt
của dấu hiệu tŕnh bày sự hạn chế
của phương pháp trong hầu hết các trường
hợp bệnh. Nhóm nghiên cứu đặc biệt đă
bổ sung định nghĩa những tiêu chuẩn của
chết năo bao gồm: "những gai nhọn trong th́ tâm
thu hoặc lưu lượng ḍng chảy dao động
trong bất kỳ động mạch năo mà có thể
được ghi lại bởi siêu âm xuyên sọ hai bên
của động mạch cảnh trong, động
mạch năo giữa, riêng từng cái và bất cứ nhánh
nào hoặc động mạch khác có thể ghi lại (lưu
thông phía trước và phía sau). Tuy vậy đường
vào qua hốc mắt có thể được sử
dụng cho việc xác định kiểu ḍng chảy
mẫu rơ ràng trong các động mạch lưu thông phía
trước chỉ được chấp nhận một
cách rời rạc mục đích chết năo. Mục đích
của nghiên cứu là để đánh giá liệu
sử dụng đường vào qua hốc mắt
cộng thêm thủ tục trong tất cả bệnh nhân
nghi ngờ chết năo sau khi trải qua TCD có thể gia tăng
hiệu quả của khảo sát và giảm thiểu
những kết luận bỏ lửng hay thường
xảy ra.
ĐỐi
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP:
Tất
cả bệnh nhân với xác định lâm sàng chết năo
tại trung tâm y khoa Wolfson, Holon, Israel từ 1/1994 - 12/1999
đă được khảo sát. Việc khảo sát phù
hợp với sự hướng dẫn trong việc xác
định chết năo và tất cả bệnh nhân đáp
ứng tiêu chuẩn xác định chết năo. Sự
khảo sát của TCD đă được thực
hiện thống nhất theo những quy định của
thiết bị trước uỷ ban chết năo của
trung tâm y khoa cho những t́nh trạng này. Xác dịnh
chết đă được đ̣i hỏi trong trường
hợp người ta hiến tặng nội tạng
hoặc những mục đích tương tự khác. Nguyên
nhân của hôn mê sâu đă được thiết
lập và đủ để giải thích cho việc
mất chức năng lâu dài của năo. Bệnh nhân trong
t́nh trạng nhiễm độc, giảm thân nhiệt,
giảm huyết áp (huyết áp tâm thu ( 60 mmHg) đă
được loại trừ. Sử dụng TCD, mỗi
bệnh nhân được khảo sát riêng rẽ 30 phút và
sau đó ngừng 5 phút do hai nhân viên (1 bác sỹ và 1
kỹ thuật viên) thành thạo với phương pháp
đánh giá chết năo. Tốc độ ḍng máu đă
được đo qua đường vào xương thái
dương (động mạch năo giữa với
chiều sâu 50 - 55mm một bên), qua lỗ ghép (động
mạch đốt sống và động mạch thân
nền với độ sâu 60 - 100mm), và qua hốc mắt
(với chiều sâu 55 - 70mm một bên). H́nh ảnh ḍng
chảy bất thường là những ḍng dao động
và những mũi nhọn trong th́ tâm thu (mẫu xác
thực) hoặc không có ḍng. Phép siêu âm được hoàn
chỉnh sử dụng đầu ḍ 2 MHz bộ chuyển
đổi 100% năng lượng. Bởi v́ phép siêu âm
qua hốc mắt đă được sử dụng
với 100% năng lượng nên phải có sự đồng
ư kư tên từ những thành viên trong gia đ́nh bệnh nhân.
Dữ
liệu đă được lữu giữ trong máy tính
bằng tiếng Do thái. Sự phân tích dữ liệu
được tiến hành sử dụng phần mềm có
thể có giá trị trong phương diện thương
mại. Tuổi trung b́nh đă được ghi lại (
SD. Những phép tính tần số cho tất cả các
dữ liệu khác đă thu được. Đường
vào qua hốc mắt được so sánh độc
lập với mỗi đường vào khác sử
dụng test (2 cho tính đồng nhất. Trong những ca
bệnh, với sự mong đợi tần số
thấp, thử nghiệm chính xác Fisher đă được
sử dụng. Sự hoà hợp quan sát tổng thể và
chỉ số K đă được tính toán cho mỗi
thử nghiệm. Tất cả những sự chênh
lệch đă được xem xét một cách có ư nghĩa
với p ( 0,05.
KẾT
QUẢ:
57
bệnh nhân (29 nam và 28 nữ) đă được
khảo sát. Tuổi trung b́nh là 68,2 ( 12,1 (38 -91 tuổi),
nam: 66,2 ( 11,9 (38 - 91) và nữ: 71,1 ( 10,3 (42 - 90). Chỉ
số K đáng tin cậy là 0,91.
Trong
45 bệnh nhân (25 nam và 20 nữ) ḍng dao động
hoặc những mũi nhọn trong th́ tâm thu đă
được t́m thấy trong tất cả các đường
vào. 4 bệnh nhân (2 nam và 2 nữ) không khám phá được
ḍng trong tất cả các thử nghiệm. 5 bệnh nhân
(tất cả là nữ) ḍng dao động hoặc
những mũi nhọn trong th́ tâm thu đă được
t́m thấy chỉ ở đường vào hốc mắt
và qua lỗ ghép. 1 bệnh nhân nữ chỉ t́m thấy
ở đường vào qua hốc mắt và qua xương
thái dương, 2 bệnh nhân (1 nam và 1 nữ) chỉ t́m
thấy ở đường vào qua hốc mắt. Trong
tất cả các đối tượng, chẩn đoán
đă được xác nhận bởi sự ghi lại các
dấu hiệu hai bên qua sọ của tuần hoàn phía trước
và phía sau. Sự hoà hợp quan sát được giữa
đường vào qua hốc mắt và đường vào
qua xương thái dương là 0,96 (p=0,008, K=0,78). Sự
phù hợp quan sát được giữa đường vào
qua hốc mắt với đường vào lỗ ghép là
0,92 (p=0,02, K=0,63).
BÀN
LUẬN:
TCD
là một phương pháp cộng thêm vào để đánh
giá t́nh trạng chết năo. Trong một bài phát biểu
thống nhất của ḿnh. Học Viện Thần Kinh
Mỹ tuyên bố những hạn chế về hiệu
quả của nó. Các nhà nghiên cứu đă chú ư đến
việc t́m kiếm ḍng máu phù hợp trong sự tuần
hoàn phía trước cho chẩn đoán chết năo nhưng
đă không phát triển được đường hướng
kỹ thuật phù hợp. Hiệu quả của TCD cho
chẩn đoán chết năo c̣n ngờ vực, và kết
quả có thể gây ra tranh luận. Một số tác
giả đă thông báo tính nhậy cảm là 100% và
những cái khác là 90 - 95%. Tuy vậy một số nhà nghiên
cứu khác kết luận rằng sự dụng TCD trong xác
định chết năo chỉ có hiệu lực đáng
ngờ và các phương pháp khác tốt hơn trong
chẩn đoán cuối cùng của chết năo.
TCD
cung cấp độ nhậy cao và độ đặc
hiệu ở những ḍng máu mẫu rơ ràng là ḍng dao
động hoặc những mũi nhọn trong th́ tâm thu.
Tuy nhiên do sự khó khăn trong việc xuyên qua hàng rào xương
thái dương của TCD đă đưa đến
kết quả sai lệch là không có ḍng. Để
giải quyết việc này, khảo sát ngoài sọ (động
mạch cảnh trong) cũng được bao hàm để
chẩn đoán chết năo. Mục đích của nghiên
cứu này nhằm xác định liệu sự kết
hợp với đường vào qua hốc mắt có làm
gia tăng độ nhậy cảm và độ đặc
hiệu của TCD trong xác định chết năo.
Những
kết quả của nghiên cứu đă chứng minh
mẫu xác thực trong tất cả các con đường,
đường vào qua hốc mắt 79%. Tỷ lệ
phần trăm cao không có ḍng trong nghiên cứu của chúng
tôi (5,5% trong mọi đường vào và 15% trong đường
vào qua xương thái dương) có thể được
giải thích bởi bệnh nhân già ( 90 tuổi, bệnh nhân
của chúng tôi ( 20 tuổi so với tuổi trung b́nh
của các nghiên cứu thông báo tính nhậy cảm cao.
Những điều tra trước đây kết luận
rằng mẫu lớn tuổi đưa đến
phần trăm cao hơn cuadr tỷ lệ không có ḍng
đặc biệt là sử dụng đường vào qua
xương thái dương. Trong nghiên cứu của chúng
tôi, chúng tôi cũng nhận thấy tỷ lệ phần
trăm cao hơn của các mẫu chết năo trong hệ
thống tuần hoàn phía trước và phía sau sử
dụng đường vào qua hốc mắt gia tăng
từ 79% (45/57) đến 88% (50/57) phù hợp với định
nghĩa chết năo. So sánh phần trăm của các
mẫu xác thực trong một hệ thống cuối cùng,
phần trăm tăng từ 89% (51/57) đến 93% (53/57).
Những khác biệt có ư nghĩa ở phụ nữ
với đường vào qua hốc mắt so sánh với
đường vào khác là phù hợp với nh́n nhận
chung của tỷ lệ phần trăm cao hơn ở
phụ nữ với việc không phát hiện được
ḍng ở đường vào qua xương thái dương
khoảng từ 10% - 15% phụ thuộc vào tuổi, sự
lựa chọn, dân tộc. Điều này có lẽ
gợi ư tầm quan trọng lớn hơn trong sử
dụng đường vào qua hốc mắt ở phụ
nữ. Thêm vào đó việc thu nhận những bệnh
nhân lớn tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi đáp
ứng với t́m hiểu có liên quan đến câu hỏi
về việc hiến tặng các cơ quan cho ghép
tạng. Y học hiện đại gia tăng sự không
chắc chắn về vai tṛ của nó trong việc kết
thúc cuộc đời. Xác định chết năo sẽ
trở nên xác đáng hơn khi dân số già đi.
Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng
đường vào qua hốc mắt có thể làm gia tăng
hiệu quả của TCD trong chẩn đoán chết năo.
Sự tương quan hệ số qua khảo sát ở
mức cao đă chỉ ra rằng việc khảo sát
bởi hai người quan sát chỉ có thể xác định
chết năo trong trường hợp ḍng máu suy giảm theo
lệ thường ./.
