THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

ChinaGBS

Home Up Feedback Contents Search

 

HỘI CHỨNG GUILLAIN BARRE’ Ở TÂY BẮC TRUNG QUỐC

W. Jiang, H.-D. Wang, Y.-G. Huang, Q. Wan, Y. Xu and B. –R. Wu: Guillain-Barré syndrome in northwestern China. Electromyogr. Clin neurophysiol. October-November 2001. 41:378-391.

Người dịch: BS Nguyễn Thị Kim Xuyến

TÓM TẮT:

Chúng tôi hồi cứu 100 bệnh nhân có hội chứng Guillain Barre’ (GBS) trong thời gian từ 1994 đến 2000 ở Tây Bắc Trung Quốc . Chúng tôi khám lâm sàng ,khảo sát các đặc điểm chẩn đoán điện và so sánh với những bệnh nhân ở Châu Aâu , Bắc Mỹ và miền Bắc Trung Quốc . Kết quả cho thấy :trong số 100 bệnh nhân hội chứng GBS th́ thể hủy myelin là 51 bệnh nhân , thể tổn thương  sợi trục 25 bệnh nhân , 8 bệnh nhân không thể khảo sát được , 12 bệnh nhân nghi ngờ, và 4 bệnh nhân b́nh thường . Các đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán điện của các thể GBS khác nhau ở vùng Tây Bắc Trung Quốc dường như có khác biệt so với các nước phương tây và miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên ở Tây Bắc Trung Quốc thể hủy myelin là nhóm chủ yếu trên chẩn đoán điện .

Giới thiệu :

Nguyên nhân phổ biến nhất của hội chứng liệt mềm là hội chứng Guillain Barre’ (GBS). GBS được đặc trưng bằng liệt mềm cấp tính, mất phản xạ, dịch năo tủy có phân ly đạm tế bào. Dựa trên sinh lư điện cơ thể và bệnh học người ta có thể chia GBS thành các nhóm theo kiểu hoặc là hủy myelin chiếm ưu thế hoặc là tổn thương sợi trục chiếm ưu thế . Ơû Mỹ , Châu Aâu và Uùc , GBS chủ yếu là thể hủy myelin. Rất hiếm những bệnh nhân có bằng chứng bệnh học là tổn thương sợi trục có hoặc không có viêm hoặc hủy myelin rất nhẹ đi kèm. Nhưng ở Trung Quốc , có mộât sự khác biệt về sự sắp xếp các thể này . Vài nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy các đặc điểm lâm sàng và điện sinh lư của GBS ở Trung Quốc có khác so với các nước phát triển . Trong nghiên cứu này , chúng tôi cố gắng phát hiện kiểu biểu hiện chủ yếu có thể có ở Tây Bắc Trung Quốc và các đặc điểm chung của các thể sinh lư điện khác nhau.

Phương pháp :

Dân số nghiên cứu gồm tất cả những bệnh nhân đến bệnh viện trong thời gian từ 7/1994  -6/2000 có chẩn đoán điện và lâm sàng là GSB. Chẩn đoán điện được thực hiện ở pḥng xét nghiệm của bệnh viện Xijing thuộc đại học Fourth Military , là bệnh viện lớn nhất Tây Bắc Trung Quốc nhận bệnh nhân ở các lứa tuổi .Chẩn đoán lâm sàng dựa trên những tiêu chuẩn nghiêm ngặt do ASBURY và cộng sự thuộc National Institute Of Neurological And Communicative Disorders And Stroke (NINCDS) đưa ra. Các dữ liệu về lâm sàng và chẩn đoán điện của mỗi bệnh nhân đều được phân tích bởi hai tác giả để thu được những thông tin có giá trị.

Các khảo sát dẫn truyền thần kinh được thực hiện trên máy EMG hiệu DANTEC (Đức) với các điện cực bề mặt. Các thông số sau đây được ghi nhận sau khi kích thích ở phần ngoại vi và trung tâm ở ít nhất 4 thần kinh vận động như: tốc độ dẫn truyền , thời gian tiềm sóng F, thời gian tiềm ngoại vi, điện thế hoạt động cơ toàn phần . giá trị của mỗi biến số được so sánh với giới hạn trên và dưới của chỉ số b́nh thường của pḥng điện cơ của chúng tôi, các chỉ số này đều có hiệu chỉnh theo tuổi. Các tiêu chuẩn chẩn đoán để xếp loại theo t́nh trạng sinh lư điện dựa trên khảo sát dẫn truyền thần kinh (bảng 1).

Kết quả:

Tổng số có 100 bệnh nhân, tuổi từ 3- 65 ( trung b́nh 24) gồm 65 nam , 35 nữ. Bệnh nhân được xếp thành 5 nhóm theo các tiêu chuẩn về dẫn truyền của thần kinh vận động: 51 % là hủy myelin, 25 % tổn thương sợi trục, 8% không đánh giá được, 12 % nghi ngờ, 4% b́nh thường. Phân loại sinh lư điện và thời gian từ lúc có triệu chứng đến lúc khảo sát chẩn đoán điện: Như đă mong đợi , thể hủy myelin chiếm ưu thế ngoại trừ những trường hợp được thực hiện chẩn đoán điện trong 10 ngày đầu kể từ lúc có triệu chứng th́ tỷ lệ của thể hủy myelin và tổn thương sợi trục ngang nhau. (bảng 2)

Phân loại sinh lư điện và tuổi: 70 % bệnh nhân dưới 30 tuổi, những bệnh  nhân già và trung niên có liên quan với t́nh trạng sốt trước đó. Trong tất cả các nhóm tuổi, thể sinh lư điện thường gặp nhất là hủy myelin sau đó là tổn thương sợi trục (bảng 3).

Phân loại sinh lư điện và mùa: Cả hai thể hủymyelin và tổn thương sợi trục đều xảy ra trong suốt cả năm nhưng tập trung cao nhất vào mùa hè (tháng  6-9).

Phân loại sinh lư điện và phân bố vùng: Tất cả bệnh nhân đều đến từ tỉnh Shaanxi và Gansu Tây Bắc Trung Quốc  , phân bố vào 7 thành phố và 22 làng quê. Đối với những bệnh nhân thôn quê có 45.1% là thể hủy myelin, 44% làthể tổn thương sợi trục. Khoảng 1/ 3 số bệnh nhân của cà hai thể này đă đến từ thành thị . Những bệnh nhân khác đến từ các tỉnh nhỏ.

Phân loại sinh lư điện và t́nh trạng nhiễm trùng trước đó: Trong số những bệnh nhân có nhiễm trùng hô hấp trên trong khoảng 4 tuần trước khi có triệu chứng có 27.5 % là thể hủy myelin, 36% là thể tổn thương sợi trục. Trong khi đó , nhiễm trùng dạ dày ruột có 15.7% là thể hủy myelin và 24 % là thể tổn thương sợi trục. Các t́nh trạng này đều đă biến mất ở thời điểm xảy ra hội chứng liệt mềm cấp tính.

Thảo luận

Mặc dù GBS đă được xem là có liên quan đến các t́nh trạng nhiễm trùng trước và tự miễn, nhưng chẩn đoán điện cũng đóng một vai tṛ quan trọng trong việc t́m hiểu thêm về sinh bệnh học và đánh giá tiên lượng . Dù không có một tiêu chuẩn nào về chẩn đoán điện để xác định các thể được chấp nhận một cách rộng răi , nhưng ở các nước phát triển có 56-87% bệnh nhân GBS là viêm đa rễ và dây thần kinh có hủy myelin cấp tính (AIDP). Tuy nhiên ở Trung Quốc vẫn c̣n tranh căi nhiều về các thể chủ yếu của GBS .Tháng  8 /1994 MCKHAAN và cộng sự đă tập hợp 37 bệnh nhân có chẩn đoán GBS có tính chu kỳ được nhập viện Bejing và Viện trường  thuộc đại học y khoa Hebei. Những bệnh nhân này được khảo sát về chẩn đoán điện và trong số đó có 22 bệnh nhân có những bằng chứng của bệnh neuron vận động nặng với mức độ tổn thương cảm giác nhẹ . Lúc ấy họ cho rằng có lẽ những bệnh nhân này bị một hội chứng liệt đặctrưng riêng của người Trung Quốc mà nó khác với GBS, về sau các thầy thuốc Trung Quốc và Mỹ đă thực hiện một nghiên cứu  khảo sát về sinh lư điện và bệnh học của các thể GBS chiếm ưu thế ở Trung Quốc. MC KHAAN , HO và CORNBLATH cùng cộng sự của họ cho rằng thể tổn thương sợi trục là thể chủ yếu ở miền Bắctrung Quốc nhưng TANG và GUO vẫn nghĩ ø hủy myelin là một sang thương bệnh học thường gặp của GSB. Ngày nay , các tranh căi vẫn tiếp tục diễn ra, chứng tỏ rằng cần có nhiều nghiên cứu điều tra hơn nữa về GBS tại Trung Quốc.

Chúng tôi xếp các GBS ở Trung Quốc thành nhiều nhóm khác nhau theo tiêu chuẩn về sinh lư điện học của Hadden và Ho, và chúng tôi nhận thấy có 51 % bệnh nhân là GBS với h́nh ảnh trên chẩn đoán điện là hủy myelin, 25% bệnh nhân là tổn thương sợi trục. Hơn nữa thể hủy myelin không chỉ chiếm ưu thế ở các nhóm tuổi khác nhau mà c̣n ưu thế ở mọi thời điểm khảo sát chẩn đoán điện sau khi có triệu chứng lâm sàng . Thể tổn thương sợi trục trong giai đoạn sớm  có tỷ lệ phần trăm tương đương với dạng hủy myeln (trong 10 ngày đầu kể từ lúc có triệu chứng ) (42.9%) . Điều này chứng tỏ rằng dạng chủ yếu của GBS ở Tây Bắc Trung Quốc là dạng hủy myelin c̣n tổn thương sợi trục có lẽ là cùng tồn tại song song , nhưng không phải thứ phát từ hủy myelin và tần suất bệnh có lẽ cao hơn ở Châu Aâu  và Bắc Mỹ.

Ở Châu Âu và Bắc Mỹ GBS không phải là một bệnh có tính chu kỳ và cũng không phụ thuộc theo mùa , có ở mọi nhóm tuổi, chủ yếu ở người trưởng thành, c̣n trẻ em th́ rất hiếm. Nhưng ở  Bắc Trung Quốc, một vài khảo sát của Mc Khaan, Ho và cộng sự cho rằng hủy myelin ảnh hưởng trên mọi nhóm tuổi , mặc nó dù hiện diện trong suốt năm nhưng tập trung nhiều nhất vào mùa hè (tháng 6-9), dạng tổn thương sợi trục t́m thấy chủ yếu ở trẻ em và người trẻ với sự xuất hiện theo mùa một cách rơ ràng. Hầu hết bệnh nhân đến từ các vùng nông thôn .Tại Tây Bắc Trung Quốc , nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy có một sự nổi bật về tần suất bệnh vào mùa hè nhưng cần phải t́m hiểu thêm về vấn đề này, có một sự khác biệt rất rơ của những bệnh nhân của chúng tôi và các bệnh nhân GBS trong các nghiên cứu ở Bắc Mỹ Và Châu Aâu là các case trong nghiên cứu của chúng tôi GBS chủ yếu xảy ra ở trẻ em và người trẻ, rất hiếm ở tuổi trung niên và già, gần một nữa số bệnh nhân đến từ các vùng nông thôn.

T́nh trạng nhiễm trùng trước đă được xem là có liên quan đến sinh bệnh học của GBS. Một nhóm nghiên cứu về GBS của ITALIA đă thực hiện một nghiên cứu và kết luận: có 297 bệnh nhân (60.9%) có một t́nh trạng bệnh đi trước GBS và phổ biến nhất là cảm cúm (26.3%), sau đến là nhiễm trùng hô hấp trên 15.2%, và viêm dạ dày ruột là 8.8%. Theo Visser và các cộng sự của ông th́ nhiễm trùng dạ dày ruột trước GBS ở 13 % trong số 120 trường hợp của ông. Ở miền Bắc Trung Quốc Ho và cộng sự đă nghiên cứu trên 38 bệnh nhân và kết luận rằng t́nh trạng cảm cúm trước khi có triệu chứng xảy ra ở 43% trong số 21 bệnh nhân GBS thể tổn thương sợi trục vận động cấp tính (AMAN) và 42 % trong số 12 bệnh nhân thể AIDP . Trong khi đó,  đau bụng và tiêu chảy xảy ra 38 % thể AMAN, và 25 % thể AIDP . Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi th́ tần suất chung của các bệnh lư có trước GSB tương tự các nước phát triển nhưng tỷ lệ của nhiễm trùng dạ dày ruột cao hơn các nước phát triển và thấp hơn ở miền Bắc Trung Quốc . Dường như t́nh trạng nhiễm trùng trước cũng giữ một vai tṛ quan trọng trong sinh lư bệnh của GSB ở Tây Bắc Trung Quốc.

Những bệnh nhân được xem là không thể đánh giá thể nào trong chẩn đoán điện , có thể có môt bệnh lư sợi trục hay hủy myelin nặng với block dẫn truyền ở ngoại vi mà không thể phân biệt đuợc về mặt sinh lư điện. Tuy nhiên người ta cũng đă có khảo sát về bệnh học ,ví dụ , Massaro thực hiện sinh thiết thần kinh trên 2 trẻ GBS không đánh giá được thần kinh vận động và kết quả là có hủy myelin liên quan đến đại thực bào và thoái hóa sợi trục với độ nặng khác nhau giữa sợi cảm giác và vận động. Có 4 bệnh nhân xếp vào nhóm b́nh thường trong nghiên cứu của chúng tôi, một người trong số họ được nhận ra trong ṿng 10 ngày đầu kể từ lúc có triệu chứng, số c̣n lại được phát hiện sau 20 ngày .Điều này cho thấy rằng nhóm b́nh thường về mặt sinh lư điện co ùlẽ cũng không đồng nhất. Nhóm nghi ngờ gồm những bệnh nhân có những bất thường rất nhẹ ở các thần kinh loại hỗn hợp. Chúng tôi không có cách nào phát hiện bệnh lư sợi trục đi kèm trong những bệnh nhân có đặc điểm xác định của hủy myelin nhưng ngoại trừ một vài bệnh nhân có bệnh học trùng lắp.

Nói chung, các đặc điểm lâm sàng và sinh lư điện của các thể GBS khác nhau ở Tây Bắc Trung Quốc dường như có có một vài khác biệt so với các bệnh nhân ở các nước phương Tây và miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên ở Tây Bắc Trung Quốc, hủy myelin là thể chủ yếu . 

Bảng 1: tiêu chuẩn xếp loại về sinh lư điện

1. B́nh thường
(sau khi tất cả các thần kinh được đánh giá )
DML  100% ULN
Thời gian tiềm sóng F < (hoặc =) 100% ULN
MCV  100% LLN
dCAMP > hoặc = 100% LLN
pCAMP > hoặc = 100% LLN
Tỉ số p CMAP/dCMAP > 0.5

2. Hủy myelin
(ít nhất một bất thường cho mỗi thần kinh và phải khảo sát ít nhất  hai dây thần kinh hoặc hai bất thường trên một dây thần kinh nếu những dây khác không đánh giá được và dCMAP ( 10 % LLN)
MCV <  90% LLN (85% nếu d CMAP< 50% LLN)
DML  >   110% ULN (120% nếu d CMAP < 100% LLN)
Tỉ số p CMAP/ dCMAP< 0.5 và dCMAP > hoặc = 20% LLN
Thời gian tiềm sóng F >120% ULN

3. Thể sợi trục
không có một đặc điểm nào của hủy myelin ở trên , trong bất kỳ một thần kinh nào  ( ngọai trừ một đặc điểm của hủy myelin cho phép trong một thần kinh nếu dCMAP< 10% LLN )
và dCMAP <  80%LLN ở ít nhất 2 dây thần kinh

4. Không đánh giá được
mất dCMAP trong tất cả các thần kinh (hay hiện diện chỉ  ở một thần kinh với dCMAP<10%LLN )

5. Nghi ngờ
không thuộc chính xác tiêu chuẩn của nhóm nào

Chú thích:

DML : thời gian tiềm vận động ngoại vi
ULN  : giới hạn trên của chỉ số b́nh thường
MCV : tốc độ dẫn truyền vận động
LLN  : giới hạn dưới của chỉ số b́nh thường

dCMAP  : biên độ điện thế hoạt động cơ toàn phần sau khi kích thích ngoại vi
pCMAP  : biên độ điện thế hoạt động cơ toàn phần sau khi kích thích trung tâm

Bảng 2 : xếp loại các thể ở các thời điểm khác nhau kể từ lúc có triệu chứng

Thời gian

 (ngày)

bệnh nhân

hủy myelin

sợi trục

không thể đánh giá

nghi  ngờ

B́nh thường

 

0-10

14

6 (42.9%)

6(42.9%)

0

1(7.1%)

1(7.1%)

11-20

37

17(45.9%)

9(24.3%)

3(8.1%)

5(13.5%)

3(8.1%)

21-30

14

10(71.4%)

2(14.4%)

1(7.1%)

1(7.1%)

0

31-90

25

12(48.0%)

7(28.0%)

3(12%)

3(12.0%)

0

91- 

10

6(60.0%)

1(10.0%)

1(10.0%)

2(20.0%)

0

Bảng 3 : phân bố tuổi ở các thể GBS khác nhau. 

Tuổi

Bệnh nhân

Thể hủy myelin

Thể sợi trục

Không thể đánh giá

Nghi ngờ

 B́nh thường

0-10

11-20

21-30

31-40

41-50

51-  

23

27

20

13

7

10

12(52.2%)

14(51.9%)

10(50.0%)

7(53.8%)

4(57.1%)

4(40.0%)

5(217%)

7(259%)

4(20.0%)

4(30.8%)

1(14.0%)

4(40.0%)

2(87%)

3(11.1%)

3(15.0%)

0

0

0

3(13.1%))

3(11.1%)

2(10.0%)

2(15.4%)

1(14.3%)

1(10.0%)

1(4.3%)

0

1(5.0%)

0

1(14.3%)

1(10.0%)