|

CHẨN
ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CHÓNG MẶT
TS
Vũ Anh Nhị (Trường Đại học Y Dược TP HCM)
Chóng
mặt báo hiệu sự rối loạn chức năng
của bộ phận ngoại vi hay bộ phận trung tâm
của hệ tiền đ́nh. Chóng mặt bộ phận
trung tâm do các rối loạn ở thân năo hoặc các
đường tiền đ́nh tiểu năo. Chóng mặt
ngoại vi do các rối loạn liên quan đến bộ
phận tận tiền đ́nh( các ống bán khuyên)
hoặc các neuron ngoại vi của chúng (đoạn
tiền đ́nh dây thần kinh sọ số VIII).
Chóng
mặt (vertigo) là cảm giác của vận động quay
hay cảm giác di chuyển hay quay tṛn của bản thân
hoặc của đồ vật quay xung quanh, mà người
bệnh nhân thấy khi ở trạng thái tĩnh hay
trạng thái động mà b́nh thường không có.
Rối loạn thăng bằng (dysequilibrium) là t́nh
trạng bất thường về vận động khi
đi lại hoặc thay đổi tư thế. Trong
thực hành lâm sàng, chóng mặt và rối loạn thăng
bằng thường phối hợp với nhau liên quan
tổn thương tiền đ́nh. Trong phần này chúng tôi
chủ yếu nhắc đến một số dạng lâm
sàng liên quan đến chóng mặt và rối loạn thăng
bằng do 2 nhóm nguyên nhân thường gặp và có
thể điều trị được:
Chóng
mặt trung tâm ( central vertigo) là triệu chứng thường
gặp của các rối loạn tuần hoàn sau như
nhồi máu – chảy máu của tiểu năo hoặc thân năo,
cơn thiếu máu thoáng qua. Trong bối cảnh bệnh
mạch máu, chóng mặt hầu như bao giờ cũng
kết hợp các triệu chứng của thân năo,
tiểu năo. Chóng mặt trung tâm cũng có thể gây ra
bởi các u hố sau, bệnh mất myelin, di dạng
mạch máu, viêm thân năo, do một vài loại thuốc
giảm đau - an thần gây ra.
Chóng
mặt ngoại vi, gây nên bởi các rối loạn
chức năng mê đạo một bên hay hai bên, viêm
neuron tiền đ́nh, các tổn thương góc cầu
tiểu năo ảnh hưởng đến dây thần kinh
số VIII, bệnh Meniere, hoặc chóng mặt tư thế
lành tính.
Phân
loại chóng mặt
1.
Chóng mặt ngoại vi
2.
Chóng mặt trung tâm
3.
Chóng mặt do nguyên nhân tâm thần
4.
Chóng mặt không rơ nguồn gốc

CHÓNG
MẶT DO BỆNH TAI
Bảng
2 liệt kê các nguyên nhân của chóng mặt liên quan đến
bệnh lư của tai (bệnh tai trong). Đó là những
nguyên nhân thường gặp và điều trị.
CHÓNG
MẶT TƯ THÊ KỊCH PHÁT LÀNH TÍNH
Chóng
mặt tư thế kịch phát lành tính là một
loại thường gặp của các loại chóng
mặt, và chiếm khoảng gần 50% trường
hợp chóng mặt do tai. Lâm sàng chủ yếu là khai thác
bệnh sử chóng mặt khi thay đổi tư thế
kết hợp rung giật nhăn cầu (Nystagmus) hướng
ngang hay xoay để làm
thử nghiệm tiền đ́nh tư thế. Nguyên nhân
của chóng mặt tư thế kịch phát lành tính là do
chấn thương, nhiễm trùng và thoái hóa tiển
đ́nh,
Bảng
1: Các đặc trưng phân biệt chóng mặt ngoại
vi và trung tâm
|
Đặc trưng
|
Chóng
mặt ngoại vi
|
Chóng
mặt trung tâm
|
|
Lâm
sàng
Khởi phát
Kiểu
Tính dữ
dội
Ù tai
Ngă trong test
Romberg
Kích
thích nhiệt
Nystagmus
Tự phát
Loại
Hướng nhanh
|
Đột
ngột
Kịch
phát
Cực
kỳ
Hay
gặp
Về
phía tổn thương, đối bên pha nhanh của
nystagmus.
Không
đáp ứng
Tự
phát
Giật
ngang+ xoay,
Không
biến đổi cho mọi hướng nh́n
|
Âm
ỉ, ít khi đột ngột
Liên
tục, đôi khi kịch phát
Ít
, thường là nhẹ
Hiếm
gặp
Về
phía tổn thương, cùng phía hướng nhanh
của nystagmus
B́nh
thường
Có
thể có
Ngang,
xoay hoặc dọc
Biến
đổi với hướng nh́n
|
|
Thao
tác Nylen
Thớ gian
tiềm
Yếu
đi do làm liên tiếp
Cố định
thị giác
Hướng
nystagmus
Cường
độ
|
Thời
gian : 3-45 giây
Có
Ức
chế chóng mặt
Cố
định
Chóng
mặt dữ dội, nôn
|
Không
có
Không
Không
thay đổi
Không
phụ thuộc
Chóng
mặt nhẹ hiếm khi nôn
|
·
Thao tác Nylen
(Nylen maneuver) được thực hiện : cho bệnh nhân
nằm xuống nhanh từ tư thế ngồi, đầu
thấp xuống dưới mặt phẳng ngang 30(,
lặp lại nghiệm pháp với đầu quay trái, quay
phải và đầu thẳng, quan sát nhăn cầu và ghi
lại các triệu chứng. ở
đó người ta không t́m thấy những tổn thương
thật sự và đúng hơn là khởi điểm khôngb́nh
thường của sự kích thích vào hệ thống
tiền đ́nh c̣n nguyên vẹn. Những bệnh nhân thường
nói họ có cảm giác tai đung đưa (ear rocks). Chóng
mặt tư thế kịch phát lành tính gia tăng theo
tuổi, trong nhiều trường hợp chóng mặt kèm
theo nôn. Khoảng 1% trường hợp có chỉ định
phẫu thuật nếu chóng mặt kéo dài trên 1 năm,
đa số các trường hợp điều trị
chủ yếu là nội khoa, thuốc được ưa
dùng là các loại thuốc kháng histamine, kháng cholineric,
thuốc chẹn kênh canxi.
VIÊM
THẦN KINH TIỀN Đ̀NH VÀ BỆNH LƯ TIỀN Đ̀NH
MỘT BÊN
Viêm
thần kinh tiền đ́nh, nguyên nhân thuờng gặp và
phần tiền đ́nh của dây thần kinh VIII nhiễm
virus. Lâm sàng biểu hiện chóng mặt, nôn, ataxie và
nystagmus. Nghe không giảm, nếu nghe bị ảnh hưởng
th́ có thể là viêm mê đạo, thông thường
diễn tiến tăng trong một số ngày đầu
sau giảm dần vào tuần thứ hai, thuốc thường
sử dung chữa triệu chứng là chống nôn và
chống chóng mặt như bảng 2 và 3. Khoảng 10-20% trường
hợp kéo dài trên hai tháng những trường hợp này
nên chụp MRI, CT hoặc là electronystagmogam (ENG) để xác
định do nguyên nhân trung ương hay dấu hiệu lâm
sàng của bệnh Ménière.
Nguyên
nhân thường gặp của chóng mặt do bệnh tai
Chóng
mặt tư thế kịch phát lành tính
Liệt
một bên tiền đ́nh hay rối loạn
Labyrinthitis
Viêm thần kinh
tiền đ́nh
Khối
choán chỗ (u Tk VIII)
Bệnh
Ménière
Chèn ép mạch
máu thần kinh
Liệt
tiền đ́nh hai bên
Suy
giảm chức năng tai giữa
Tắc ráy tai
Ṿi eustache không
hoạt động
Viêm tai giữa
Ḍ ngoại
dịch tai trong
Xơ cứng
tai
Bệnh
Ménière, là bệnh liệt tiền đ́nh một bên. Lâm
sàng biểu hiện với 4 triệu chứng
chính:
·
Chóng mặt
từng đợt dữ dội
·
Tiếng ù trong
tai (như xay lúa)
·
Cảm giác
đặc một tai
·
Nghe lúc trầm
lúc bổng
Bệnh
Ménière thông thường chẩn đoán dựa vào
bệnh sử và thăm khám lâm sàng, chú ư t́nh trạng
giảm thính lực một bên. Điều trị cơ
bản bệnh Ménière chủ yếu là pḥng ngừa và
điều trị chóng mặt cấp tính bao gồm:
·
Chế độ
ăn ít muối và kết hợp lợi tiểu như
Dyazide (buổi sáng), Hypothiazide
·
Kết hợp
với verapamil từ 120-240 mg mỗi buổi sáng
·
Điều
trị chóng mặt với antivert, lorazepam (0.5mg ngày hai
lần)
·
Nếu triệu
chứng kèo dài nhiều tháng nên xem xét chỉ định
phẫu thuật và kiểm tra lại chẩn đoán
với viêm thần kinh tiền đ́nh, viêm mê đạo,
và các nguyên nhân do choán chỗ trong thân năo hay u thần
kinh VIII.
LIỆT
TIỀN Đ̀NH HAI BÊN
Liệt
tiền đ́nh hai bên hầu hết do nhiễm độc
thuốc, thông thường sau 3 tuần hay dài hơn khi dùng
một số thuốc như gentamycine hay nhóm thuốc có
“mycine”, kháng sinh. Lâm sàng biểu hiện chủ yếu
là mất thăng bằng, cảm giác loạng choạng,
giảm thính lực, nh́n dao động, ảo giác và chóng
mặt, thử nghiệm tiền đ́nh cho kết quả
(+). Điều trị bệnh liệt tiền đ́nh do
nhiễm độc thuốc là phát hiện sớm ngưng
thuốc khi có dấu hiệu nhiễm độc thuốc,
kết hợp vật lư liệu pháp cho các triệu
chứng như chóng mặt, mất thăng bằng,
rối loạn nh́n và kết hợp với các thuốc chóng
mặt như bảng 2, 3.
BỆNH
TAI GIỮA
Bệnh
tai giữa cũng là nguyên nhân thường gặp của
chóng mặt, bao gồm những tổn thương gây
tắc nghẽn ống tai như do cục ráy tai hay một
vật từ ngoài vào.
Ṿi
eustach, do tắc nghẽn hoặc mất chức năng không
c̣n thông giữa mũi và tai gây ra
chóng mặt. Điều trị chủ yếu là chống
phù nề, antihistamine và thông ṿi nhĩ bằng corticoide
hoặc bằng đường toàn thân.
Viêm
tai giữa là nguyên nhân gây chóng mặt và mất thăng
bằng thường gặp, ngoài triệu
chứng lâm sàng viêm tai giữa, những biểu hiện
về thần kinh chủ yếu là chóng mặt vừa,
đau đầu, nôn ói th́ hiếm hơn chỉ khi có
biến chứng tăng áp lực nội sọ. Điều
trị cơ bản là nhiễm trùng tai giữa với kháng
sinh, xem xét điều trị phẫu thuật và thuốc
chống chóng mặt nhóm kháng cholineric, thuốc chẹn kênh
canxi.
Xơ
cứng tai (otosclerosis) là nguyên nhân không thường xuyên
gây chóng mặt và giảm
thính lực. Bệnh nhân cầm được các chuyên
gia tai muĩ họng xem xét khả năng phẫu thuật.
Ḍ
ngoại dịch tai trong hiếm gặp hơn so với các
nguyên nhân trên, bệnh thường liên
quan đến chấn thương, bệnh tai giữa.
Điều trị triệu chứng chóng mặt, nôn và tránh
gây chấn thương và những tổn thương lân
cận. Bệnh diễn tiến đến lành bệnh
chậm có khi kéo dài trên 6 tháng. Một vài trường
hợp có chỉ định phẫu thuật khi điều
trị nội khoa không kết quả.
Bảng
3. Thuốc điều trị chóng mặt
| Tên
thuốc
|
Liều
dùng
|
Tác
dụng
|
| Meclizine
(Antivert, Bonne)
|
25-50mg/4-6
/ giờ
(3-4 lần) |
Kháng
histamine, Kháng cholinergic
|
| Flunarizine
(Sibelium)
|
5-10mg/24
giờ
|
Chẹn
kênh canxi
|
| Amitriptyline
(Elavil)
|
10–50mg/24giờ
|
Kháng
histamine ,Kháng cholinergic
|
| Lorazepam
(Ativan)
|
0,5
mg/ tối
|
Benzodiazepine |
| Betahistine
(Merislon)
|
12-36mg/24giờ
|
Hoạt
động giống như histamine
|
Bảng
4. Thuốc chống nôn và chống chóng mặt
|
Tên
thuốc
|
Liều
dùng
|
Tác
dụng
|
|
Cinnarizin
(Stugeron)
Meclizine(Antivert)
Metoclorperamide
(Primperan)
Promethazine
(Phenergan)
|
25-75mg/24
giờ
12,5-25mg/4-6gi
10-30mg/24
giờ
25
mg/6-8 giờ
|
Kháng
histamine
Kháng
histamine
Đồng
vận- Dopamine
Phenothiazine
|
CHÓNG
MẶT DO TRUNG TÂM
Bảng 5, là liệt kê các nguyên nhân của chóng
mặt trung ương. Đột quị và thiếu máu
thoáng qua chiếm 1/3 các trường hợp chóng mặt do
thần kinh trung ương, vertebrobasilar migraine khoảng 15%.
Một số lớn khác do nguyên nhân rối loạn
thần kinh, co giật, xơ cứng rải rác, di tật
Arnol-Chiari.
Bảng
5. Nguyên nhân thông thường của chóng mặt trung tâm
|
Đột
quị và thiếu máu cục bộ thoáng qua
-
Tiểu năo
-
Động mạch tiểu năo dưới trước
(AICA)
-
Động mạch tiểu năo dưới sau
(PICA)
Vertebrobasilar
migraine
-
Thể người lớn
-
Thể trẻ em (chóng mặt kịch phát lành tính
của trẻ )
Co
giật (Thùy thái dương)
Xơ
cứng rải rác
Di
tật Arnol-Chiari
U
dây thần kinh VIII và u thân năo – Tiểu năo
Thoái
hóa tiểu năo
|
ĐAU
ĐẦU VÀ CHÓNG MẶT
Đau
đầu và chóng mặt là hội chứng kết
hợp thường gặp ở phụ nữ trong độ
tuổi 30-40, bệnh được nh́n nhận như
đau đầu migraine thông thường hay migraine
sống nền. Điều trị kết hợp verapamil và
amitriptyline, đôi khi kết hợp với beta-blockers
hoặc thuốc chống chóng mặt (bảng 3) và
chống nôn (bảng 4).
XOAY
NHANH
Người
bệnh có cảm giác chóng mặt xoay tṛn một hay
nhiều ṿng xoay trong một giây, triệu chứng này thường
thấy sau chấn thương đầu, ghi điện năo
có sóng bất thường, một số khác có thể do
dăn động mạch cột sống – thân nền, mà
nguyên nhân gây là triệu chứng do chèn ép vào thần kinh
tiền đ́nh hay rễ thần kinh số VIII trong hành –
cầu năo (neurovascular compression). Carbamazepine (tegretol) có
thể điều trị cho một số trường
hợp với liều 100-200 mg x 2-3 lần trong ngày, kết
hợp với các thuốc chống chóng mặt kết
quả điều trị tốt trong các trường
hợp chóng mặt kéo dài.
TỔN
THƯƠNG CẤU TRÚC THÂN NĂO VÀ TIỂU NĂO
Chóng
mặt và mất thăng bằng cũng là triệu
chứng thường thấy trong các hội chứng
thần kinh của thân năo và tiểu năo, một triệu
chứng phối hợp giữa chức năng thần kinh
như cuống năo, cần năo, hành năo, tiểu năo đều
giúp cho chẩn đoán phân biệt tổn thương
thần kinh trung ương và những rối loạn
tiền đ́nh ngoại biên. Những chỉ địng
chụp cắt lớp điện toán (CT), công hưởng
từ (MRI) cho những trường hợp điều
trị không kết quả và những dấu lâm sàng không
đủ thuyết phục cho chẩn đoán chóng mặt
do tai là cần thiết.
CHÓNG
MẶT KHÔNG BIẾT NGUYÊN NHÂN
Trong
thực hành lâm sàng nhiều trường hợp chóng
mặt và mất thăng bằng không rơ nguyên nhân, có
số ít trường hợp việc chẩn đoán phân
biệt với viêm mê đạo, chóng mặt kịch phát
lành tính, đột quị hay do chèn ép … Những gợi
ư chẩn đoán bệnh nhân chóng mặt không t́m
thấy nguyên nhân:
-
Chóng mặt không rơ nguyên nhân hay chóng mặt không
biểu hiện đặc biệt
-
Chóng mặt sau chấn thương hay mê đạo
đụng giập
-
Hội Chứng tăng không khí
-
Mất thăng bằng người lớn tuổi
Điều
trị chủ yếu là chữa triệu chứng,
thuốc thường dùng như bảng 3 và 4, hiện nay
có nhiều thuốc có tác dụng tương tự.
CHÓNG
MẶT DO TÂM THẦN
Chóng
mặt là triệu chứng thường thấy trong
bệnh tâm thần, bên cạnh những triệu chứng
chủ yếu của loạn tâm thần bệnh nhân than
chóng mặt, đi lảo đảo, trạng thái kích thích
hoảng loạn, chứng sợ khỏang rộng.
Bảng
6. Các loại chóng mặt tâm thần
|
Nguyên nhân
|
|
Trạng thái
lo lắng bồn chồn và hoảng loạn
Trầm
cảm
Chứng
sợ khoảng rộng (agoraphobia)
Malingering
Rối
loạn cảm giác thân thể
|
Điều
trị nguyên nhân tâm thần là chủ yếu, kết
hợp điều trị triệu chứng chóng mặt,
mất thăng bằng như bảng 3 và 4.

|