
Tổng
quan
CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ
SINH LƯ BỆNH HỌC CỦA ĐỘNG KINH
GS
Lê Văn Thành, Trường ĐH Y Dược TP Hồ
Chí Minh. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh* Chuyên Đề
Động Kinh - Tập 6 - Phụ Bản Số 3 - 2002
Từ
ngữ EPILEPSIA đă được nói đến cách
đây 2.500 năm và bắt nguồn từ tiếng Hy
Lạp, có nghĩa “nắm lấy hay chộp lấy”.
Tới thế kỷ thứ 5 trước công nguyên,
Hypocrate đặt tên là “bệnh do thần thánh”
v́ thời xưa người ta cho rằng những
bệnh nhân này bị một lực lượng ma
qủy hành tội, bởi vậy họ bị hắt
hủi xa lánh với cộng đồng. Cuối thế
kỷ 20 và cho đến nay, y học ngày càng phát
triển, song song với những hiểu biết về
giải phẫu, sinh lư, sinh học phân tử nơron,
sinh bệnh lư và dược học động kinh, cùng
những phương tiện thăm ḍ hiện đại
đă giúp chúng ta dần dần hiểu biết một cách
tương đối cặn kẽ về các cơn co
giật và bệnh động kinh.
SINH LƯ BỆNH
Khi
một nhóm nơron trong hệ thống thần kinh trung
ương (HTTKTU) hư biến có khuynh hướng gây nên
được sự phóng lực bất chợt và đồng
thời th́ tùy vị trí chức năng của vùng năo có
nhóm nơron bệnh lư đó mà phóng lực sẽ gây nên
những rối loạn chức năng tương
ứng của vùng đó. Tại năo bộ có một
số vùng quan trọng và nhạy cảm với kích thích,
có ngưỡng ức chế thấp đối với kích
thích: vùng vỏ năo
vận động, thùy thái dương và những nhân sâu
của hệ viền, hạnh nhân, hồi hải mă.
Có
nhiều yếu tố nguyên nhân khác nhau của động
kinh như thiếu sót của sự tưới máu,
những biến đổi hóa sinh do thiếu oxy, di
chứng viêm năo, u năo, dị dạng mạch máu năo,
chấn thương sọ năo,v.v…. Trên lâm sàng
được gọi là “động kinh triệu
chứng” hay “động kinh thứ phát”, biểu
hiện lâm sàng rất dễ nhận biết, cơn
cục bộ có thể trở nên toàn thể hóa, nhưng
cũng có trường hợp từ một ổ đông
kinh, do phóng lực quá mạnh và nhanh lôi kéo toàn bộ năo
bộ tham gia gây nên cơn toàn thể làm nhầm với
cơn toàn thể thực thụ (hay cơn toàn thể
nguyên phát).
Một
số cơn co giật gặp ở trẻ nhỏ nhưng
không thực là động kinh v́ năo của chúng chưa
chín muồi, rất dễ nhạy cảm với
những rối loạn chuyển hóa như giảm can xi
huyết, giảm natri huyết, hạ đường
huyết, sốt cao co giật,v.v…
CƠ CHẾ BỆNH SINH
Cơ
chế bệnh sinh của động kinh rất phức
tạp, để hiểu, nên điểm qua về nguyên
lư hoạt động của nơron. Mỗi nơron
gồm hai phần, thân có những đuôi gai và trục
nơron bao quanh bởi một màng, màng đuôi gai có
diện tích lớn hàng ngh́n lần của thân và
trục.
Sinh lư màng nơron
Mỗi nơron
có hai cực gồm có cực tiếp thu các tín hiệu
gồm thân và đuôi gai, một cực ra là sợi
trục hay cực phát. Màng nơron có đặc tính
ưu việt là thẩm thấu chọn lọc các ion
trong và ngoài màng. Ion Na+ và Cl-
tập trung ngoài màng, và
ngược lại là ion K+
ở trong màng.
Tín
hiệu thần kinh
Một
nơron bao giờ cũng có một điện thế màng,
lúc nghỉ ngơi không hoạt động, bên ngoài màng
luôn luôn dương so với bên trong âm, tạo nên điện
thế là 70mV, như vậy nơron đang ở
trạng thái cực hóa. Một tín hiệu bất kỳ
nào đó có khả năng làm giảm điện
thế xuống 10mV lập tức ở đó tạo nên
một kênh để ion Na+ đi vào trong và ion K+ đi ra
ngoài, màng lúc này bị khử cực và xuất hiện
một ḍng điện tại chỗ. Khi sự khử
cực của màng đuôi gai và thân nơron tới
chỗ tiếp nối
với sợi trục sẽ có hai khả năng xảy
ra : sự khử cực chỉ đến đó rồi
ngưng, tín hiệu coi như không truyền nổi; ngược
lại, nếu sự khử cực vượt qua
được để đi vào chỗ bắt đầu
của sợi trục để rồi tới đoạn
cuối của sợi trục sự truyền tín
hiệu đă được thực hiện.
Sự
dẫn truyền các tín hiệu thực hiện tại
sinap thần kinh
Sinap
gồm màng của túi tận cùng của sợi trục,
c̣n gọi là màng tiền sinap, trong chứa nhiều
bọng, trong đó là những chất dẫn truyền
thần kinh khác nhau. Khe sinap là một khe khoảng
trống nhỏ, tiếp đến là màng của đuôi
gai và thân nơron thứ hai c̣n gọi là màng hậu
sinap. Khi sự khử cực xảy ra tại màng
tiền sinap giải phóng các chất dẫn truyền
thần kinh vào khe sinap chúng đi về phía màng hậu
sinap, kích thích màng và màng bị khử cực, như
vậy tín hiệu đă được thực hiện
trót lọt từ nơron thứ nhất sang nơron
thứ hai.
Hưng
phấn và ức chế
Khi
màng của nơron tiếp thu đang ở trạng thái
khử cực nhẹ th́ chỉ một tín hiệu
yếu từ một nơron đang hoạt động
truyền đến cũng đủ gây nên sự
khử cực của màng nơron tiếp thu, như
vậy màng ở trạng thái hưng phấn.
Ngược
lại một tín hiệu đi đến màng hậu
sinap, trong khi màng này ở trạng thái quá cực hóa, nó
không gây nổi sự biến đổi của màng, có
nghĩa nơron đang ở trạng thái ức chế.
Cơ chế gây động kinh
Động
kinh là hậu quả của một sự phóng lực
mạnh và đồng thời của một nhóm lớn
những nơron bệnh lư. Chiều hướng nghiên
cứu sinh bệnh lư động kinh hiện thời
tập trung vào cơ chế của sự cân bằng và
mất cân bằng của quá tŕnh kích thích và ức
chế của nơron (h́nh 1a + 1b). Người ta có
thể phân biệt chủ yếu hai loại dẫn
truyền thần kinh : glutamate và acide gamma – amino butyrique
(GABA). Glutamate là chấtdẫn truyền
thần kinh (DTTK) kích thích, khi gắn lên những thụ
thể glutamate lực th́ gây nên một sự khử
cực của tế bào đích. Ngược lại
sự gắn của GABA, một chất DTTK ức
chế, trên những thụ thể
GABA lực gây nên một sự quá cực hóa
của màng.
GABA
là một chất DTTK ức chế chủ yếu của
hệ thần kinh trung ương, khi nó được
giải phóng vào khe sinap sẽ đi về hướng màng
hậu sinap và gắn trên hai thụ thể GABA gồm
thụ thể GABA loại B và thụ thể GABA loại
A. Thụ thể GABA loại B
thuộc họ các thụ thể
chuyển hóa dinh dưỡng (metabotrope), có
cấu trúc gần giống với cấu trúc
của thụ thể chuyển hóa glutamate. Thụ thể
GABA loại B khu trú
tại tiền sinap và hậu sinap, và có tác dụng gây nên
một đáp ứng ức chế chậm bằng cách tăng
độ dẫn điện của những kênh ion K+.
Thụ thể GABA loại A liên quan nhiều đến cơ
chế cơ bản của động kinh, là đích
nghiên cứu quan trọng của nhiều loại
chống động kinh , và thuộc họ những
thụ thể ion dinh dưỡng (iontropes) vốn có
một phần vai tṛ trong việc sát nhập các protêin.
Khi
GABA gắn trên vị trí màng làm tăng tính thẩm
thấu với ion Clo, ion này làm ổn định điện
thế nghỉ, điều này giải thích tác dụng
ức chế. Nhiều hợp chất có hiệu lực
trên hệ thần kinh trung ương như benzodiazepine,
barbiturat, nhưng steroid làm tăng tiềm lực tác
dụng của GABA bằng cách thay đổi tần
số thời gian mở của kênh.
HAI THỤ
THỂ KÍCH THÍCH - THỤ THỂ AMPA VÀ THỤ THỂ NMDA
Glutamate là
chất dẫn truyền thần kinh có khắp nơi
trong hệ thống thần kinh trung ương, và có
đặc điểm là tự gắn trên nhiều
loại thụ thể của các kênh khác nhau. Có hai
thụ thể chính là acide
alpha-amino-3-hydro-5-methyl-4-isoxazoleproionique (AMPA) và N-méthyl-D-aspartate
(NMDA). AMPA và NMDA là những phân tử đồng vận
đặc biệt của hai thụ thể này. Khi
glutamate gắn vào thụ thể AMPA kênh sẽ mở ion
Na+ đi vào bên trong và gây nên sự khử cực màng nơron
gây nên một ḍng điện rất ngắn. Cách
hoạt động của thụ thể NMDA phức
tạp hơn, khi glutamate gắn trên thụ thể này kênh
chỉ mở nếu màng của nơron đă khử
cực một cách đầy đủ. Cụ thể là
khi màng có điện thế nghỉ làm cản trở
sự lưu thông của các ion. Nếu glutamate gắn lên
thụ thể và gây nên được một sự
khử cực đầy đủ th́ ion Mg+, Ca++ đi vào
và tạo nên một ḍng điện có thời gian dài hơn
so với ḍng của sự hoạt hóa các thụ thể
AMPA nói trên. Nguyên tắc chung là sự dẫn truyền
glutamate lực có nhiệm vụ chủ yếu là
hoạt hóa nhưng thụ thể AMPA trong tổ chức
của hăi mă (hippocampe).
Những
thụ thể NMDA chỉ can thiệp trong những điều
kiện rất đặc biệt. Trong hiện tượng
uyển chuyển (plasticité) của sinap, nó đóng vai tṛ
quan trọng trong trí nhớ, và học tập. Khi
những kích thích lập đi lập lại được
thực hiện, màng nơron bị khử một cách
đầy đủ để phá đi sự phong
tỏa của ion Mg+. Khi Ca++ vào được trong nơron
th́ ion này sẽ gây nên một loạt những biến
cố dẫn đến biến đổi sự đáp
ứng của những thụ thể AMPA và NMDA. Nguyên
tắc chung là sự uyển chuyển của sinap là
những thụ thể AMPA phụ thuộc vào sự
hoạt động của những thụ thể NMDA, và
thụ thể NMDA th́ đóng vai tṛ trội trong các nhu mô
động kinh, dĩ nhiên kể cả vai tṛ quan
trọng trong bệnh lư động kinh và thiếu máu năo
cục bộ. Sự không có oxy (anoxie) trong một
khoảng thời gian gây nên một tiềm lực quan
trọng của các thụ thể NMDA. Trong động
kinh thái dương thụ thể NMDA tham gia một cách
trực tiếp vào việc dẫn truyền sinap và
việc kiểm soát sự phóng lực động kinh (h́nh
2).
NHỮNG
VỊ TRÍ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LÀM THAY ĐỔI
SỰ CÂN BẰNG GIỮA ỨC CHẾ VÀ KÍCH THÍCH.
Sự mất cân
bằng giữa hưng phấn và kích thích của mô
động kinh có thể xảy ra ở nhiều nơi.
Một mạch điển h́nh của các nơron
thuộc diện CA1 hoặc CA3 của hải mă bao
gồm một tế bào chính là tế bào tháp mà sợi
trục của nó th́
đi ra từ một vùng nhất định. Chất
dẫn truyền của tế bào tháp này là glutamate
vốn lại kích thích tiếp theo đó là hai nơron
trung gian có chất dẫn truyền thần kinh là GABA
ức chế. Loại nơron
trung gian ức chế 1 có
sợi trục ù chỉ đi đến tế bào tháp,
và thân của nó nhận những tín hiệu kích thích
của tế bào tháp và những nơi khác.
Loại nơron ức chế 2 có sợi trục
chỉ đi đến nơron trung gian ức chế 1,
không trực tiếp với tế bào tháp, do đó mà
tín hiệu ức chế của nơron ức
chế 2 chỉ được thực hiện qua trung
gian của nơron ức chế 1. Do đặc điểm
trên mà nơron ức chế 2 được gọi là
“nơron trung gian chuyên biệt của những nơron
trung gian”. Từ sơ đồ này
có thể xác định những điểm gây cơn
với ư định giải thích sư sinh động
kinh (h́nh 3).
Nhưng
điều ǵ, yếu tố nào dẫn đến sự
mất đi hoặc suy yếu sự ức chế như
thoái hoá các nơron trung gian, hoặc sự thay đổi
tính trội của sinap ức chế theo chiều hướng
làm giảm tính hiệu lực, một hậu quả gây
nên là mất cân bằng quả quá tŕnh cân bằng hưng
phấn – kích thích. (H́nh 3)
NHỮNG
SINAP KÍCH THÍCH TRÊN NHỮNG TẾ BÀO CHÍNH
Những
sinap này tăng sự
hoạt động kích thích trên những tế bào tháp
chính làm cho các nơron này
đến gần ngưỡng sinh ra động kinh,
sự gia tăng này gồm có :
Số
lượng sinap kích thích gia tăng. Nhiều công tŕnh
thử nghiệm thấy rơ những sinap mới (tăng
tiềm lực kích thích) h́nh thành nhiều trong mô động
kinh ở người cũng như vật thí nghiệm.
Những sợi rêu là những trục của những
tế bào hạt của hồi răng và trong Stratum Oriens
của điện CA 3.
Tăng
tiềm lực lâu dài của những sinap kích thích.
Sự tăng tiềm lực lâu dài là một hiện
tượng được đặc tính hóa bởi
việc gia tăng chắc chắn của sự đáp
ứng của nơron hậu sinap. Nhưng sinap kích thích
có thể tái tăng tiềm lực ngay sau khi nơron
vừa mới phóng lực động kinh.
Thay
đổi tiền và hậu sinap. Một thay đổi
tiền sinap đưa đến sự phóng các bọng
chứa glutamate vào khe sinap, hoặc số lượng
nhiều hay ít số lượng những bọng
được phóng sẽ gây nên những hậu quả
quan trọng cho những đáp ứng hậu sinap.
Một sự thay đổi sự chuyển dịch
những thụ thể ngoài sinap về hướng
hậu sinap cũng sẽ gây nên hệ quả quan
trọng đối với sự cân bằng giữa kích
thích và ức chế. Những luận chứng này cũng
áp dụng được để giải thích sự
hoạt động của những synapse ức chế
đă nói ở trên.
NHỮNG THỤ THỂ NMDA VÀ
ĐỘNG KINH
Những
thụ thể NMDA tham gia trực tiếp vào sự
dẫn truyền sinap trong mô động kinh ở người
và ở vật thí nghiệm, sự hoạt động
của nó phức tạp hơn nhiều so với thụ
thể AMPA v́ nó có mặt tại nhiều vị trí có
chức năng điều ḥa hoạt động trong và
ngoài tế bào, như vị trí glycine, polyamine, Zn++, pH và
oxy hóa khử (redox) có khả năng kiểm soát hiệu
quả và chính xác sự hoạt hóa của thụ
thể NMDA. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác nhân oxy hóa
khử 2-nitrobenzoic acid (DTNB) làm giảm 50% sự đáp
ứng của thụ thể NMDA trong những nơron nuôi
cấy. DTNB không có tác dụng trên các thụ thể AMPA
và GABA lực. Đây là một hướng nghiên cứu
đưa các thuốc này vào điều trị các
bệnh lư thiếu oxy.
KẾT LUẬN
Động
kinh đă trải qua hơn hai thiên niên kỷ, từ quan
niệm thần bí nay đă được khoa học
y học, sinh học phân tử, t́m hiểu một cách
tương đối cặn kẽ, nhờ hiểu
biết chức năng sinh lư của màng nơron,
tiếp đến sinh lư, chức năng của sinap và các
hệ thống lực của các chất dẫn
truyền, người ta đi đến nghiên cứu cơ
chế và bệnh sinh động kinh và đă rút ra
những lư luận cơ bản :
-
Động kinh là hậu quả của sự mất cân
đối giữa hai quá tŕnh ức chế và kích thích
của nơron.
-
Hoạt động ức chế là hậu quả
của sự hoạt động của hệ thống
GABA lực, chất dẫn truyền GABA, và các thụ
thể GABA của màng hậu sinap.
-
Hoạt động kích thích bắt nguồn từ
những hệ thống glutamate lực, chất dẫn
truyền là glutamate, thụ thể tương ứng có
hai loại AMPA và NMDA các thụ thể này xuất
hiện nhiều trong các tổ chức động kinh.
-
Từ những hiểu biết về cơ chế sinh lư
bệnh động kinh, người ta đă t́m ra
những thuốc có tác dụng chọn lọc trên
từng vị trí, trên từng thụ thể ví dụ
một số thuốc chống động kinh chỉ có
tác dụng với ổ động kinh cục bộ, có
tác dụng ngược lại khi dùng cho các động
kinh toàn thể không co giật. Cơ chế động
kinh c̣n nhiều điều phải t́m hiểu hơn
nữa ngơ hầu mới giúp ta quản lư, xử trí
tốt căn bệnh này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Gilbert H. Glaser (1993). Historical perspective and future directions.
In Elaine Wyliie ed the Treatment of Epilepsies: Principles and Practice. Lea
& Febiger, Philadelphia, p 3-9.
2.
Douglas Knowles,Hans O. Luders (1993). Normal Neurophysiology : The
Science of excitable cells. In Elaine Wyliie ed the Treatment of Epilepsies:
Principles and Practice. Lea & Febiger, Philadelphia, p 71-82.
3.
Philip A. Schwartzkroin (1993). Basic mechanisms of epileptogenesis. In
Elaine Wyliie ed the Treatment of Epilepsies: Principles and Practice. Lea
& Febiger, Philadelphia, p 83-98.
4.
Michel V. Johnston (1993). Neurotransmitters and epilepsy. In Elaine
Wyliie ed the Treatment of Epilepsies: Principles and Practice. Lea &
Febiger, Philadelphia, p 111-125.
5.
Lê Văn Thành (1982). Điện năo sinh lư –lâm sàng.
Nhà Xuất Bản Y Học, p 44-56
6.
C. Bernard, J. Hirsch, Y. Ben – Ari (1997). Récepteurs Excitateurs
Glutamatergiques. Rev Neurol (Paris) 1997 : 1S, 14 – 24
7.
M. Bureau, J. Laschet, F. Minier, P. Chauvel (1997). Intervention de la
neurontrasmission GABAergique. Rev
Neurol (Paris) 153 : 46 – 54
