THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

DaiHoi

Home Up Feedback Contents Search

 

ĐẠI HỘI THẦN KINH CHÂU Á – CHÂU ĐẠI DƯƠNG LẦN 11

Đại hội thần kinh khu vực châu Á và châu Đại dương lần thứ 11 (11th Asian and Oceanic Congress of Neurology, viết tắt 11 AOCN) diễn ra tại Singapore trong thời gian 3 ngày: 26 + 27 + 28 tháng 11. Trước đó, trong các ngày 24 và 25 tháng 11 diễn ra các hội thảo chuyên đề về dùng immunoglobulin tĩnh mạch trong một số bệnh thần kinh, hội thảo về sinh lư thần kinh lâm sàng, khóa huấn luyện về điện năo đồ...

Tham dự Đại hội gồm đại biểu từ các nước châu Á và Úc, Châu Âu và Mỹ. Tổng số báo cáo là 363 bài. Trong đó:

bullet

Báo cáo phiên toàn thể (Plenary session): 21 (Việt nam không có báo cáo nào)

bullet

Báo cáo phiên chuyên đề (symposium): 63 (Việt nam không có báo cáo nào).

bullet

Báo cáo diễn đàn (Platform): 46 (Việt nam có 1 báo cáo của TS Nguyễn Hữu Công).

bulletBáo cáo dán tường (Poster): 233 (Việt nam có 3: 1 của BS Phan Lạc Phương Đông BV Bưu Điện II TP HCM, 2 của GS TS Ninh Thi Ứng BV Nhi Trung ương Hà Nội).

Sau đây là tóm lược một vài nội dung chính của đại hội:

Dùng immunoglobulin tĩnh mẠch (IVIG) trong các bỆnh thẦn kinh

IVIG có rất ít chống chỉ định: IgA thấp, dị ứng. Nhược điểm lớn nhất là đắt tiền.

Liều lượng thông thường là 0.4g/kg/ngày x 5 ngày; hoặc gần đây nhiều tác giả khuyến cáo dùng liều cao hơn trong thời gian ngắn hơn là 1 g/kg/ngày x 2 ngày.

bullet

Guillain – Barré syndrome: chỉ định trong t́nh trạng nặng (liệt tứ chi, thở máy) trong 2 tuần đầu. Dùng sau khởi phát 2 tuần nếu bệnh mức độ trung b́nh hay nhẹ nhưng nay xấu đi nhiều. Tác dụng của IVIG trong thời gian sau khởi phát Guillain-Barre 4 tuần th́ không rơ ràng . Ưu điểm nữa của IVIG là dùng được cho trẻ em.

bullet

CIDP: tác dụng tốt nhưng chỉ kéo dài 3-4 tuần

bullet

Multifocal motor neuropathy: IVIG là lựa chọn hàng đầu trong điều trị.

bullet

Bệnh nhược cơ: dùng cho các cơn nhược cơ nặng (suy hô hấp), và dạng bệnh nặng mà điều trị bằng corticoids hoặc thay huyết tương (Plasmapheresis) không tác dụng. Người ta khuyên nên dùng liều 1g/kg/ngày x 1 ngày để chữa cơn nhược cơ nặng.

bullet

Lambert-Eaton syndrome: IVIG là thuốc hàng hai, tác dụng tạm thờI.

bullet

Stiff-person syndrome: IVIG thuốc hàng đầu.

bullet

Viêm đa cơ: IVIG chỉ là liệu pháp bổ xung cho corticoides và thuốc ức chế miễn dịch.

bulletĐộng kinh: dành cho động kinh kháng trị, đặc biệt West syndrome, Lennox-Gastaut syndrome, viêm năo Ramussen. Là phương pháp điều trị đứng hàng 2-3

ĐỘT QUỴ

bullet

Dự pḥng đột quỵ thứ phát: nhiều bài báo cáo về việc dùng clopidogrel hoặc phối hợp  aspirin+dipyridamol. Riêng trong hẹp động mạch cảnh các tác giả khuyên dự pḥng bằng mổ cắt bỏ áo trong động mạch, mổ càng sớm càng tốt sớm, và nhiều tác giả tŕnh bày về phương pháp đặt stent. Có 1 báo cáo về dự pḥng đột quỵ khi có rung nhĩ bằng ximelagatran, đây là thuốc có tác dụng tương đương wafarin, nhưng an toàn hơn và không cần theo dơi các chức năng đông máu (?!).

bullet

Stroke genetics: các tác giả thống kê có trên 20 gene có ảnh hưởng tới khả năng bị đột quỵ, trong đó có 1 gene có tác dụng chính.

bullet

Cơ chế thường nhất của đột quỵ nhồi máu năo tại Trung quốc là vữa xơ động mạch trong sọ, lấp mạch từ động mạch sang động mạch. Điều này cũng giống với những nhận xét trước đây tại Nhật Bản và Việt Nam, rất khác với cơ chế đột quỵ ở châu Âu hay Mỹ.

bullet

Thuốc ly giải huyết khối mới là Desmoteplase (chiết xuất từ nước bọt dơi Vampire nam Mỹ) có triển vọng rất hứa hẹn, có thể dùng trong thời gian cửa sổ tới 9 giờ.

bullet

Hemicraniectomy: Một số báo cáo nêu khả năng giảm tử vong trong nhồi máu năo diện rộng bằng mở sọ giải áp, tuy nhiên những người sống sót th́ chịu di chứng chức năng nặng nề. Dù sao các tác giả cũng nêu nhận xét là mổ sớm có thể có ích.

bullet

Hypothermia: người ta làm hạ thân nhiệt và chủ yếu là hạ nhiệt độ năo bằng cách thiết bị khác nhau, nhằm cứu văn các neuron đang bị thiếu máu.

XƠ RẢI RÁC – MULTIPLE SCLEROSIS (MS)

Các báo cáo nhấn mạnh về những khác biệt của MS tại châu Á

bullet

Nữ bị nhiều hơn nam nhiều.

bullet

Thể thông thường tại châu Á là thể tổn thương tủy + dây thị giác.

bullet

Trong khi đó các tổn thương trong năo ít hơn và không phù hợp tiêu chuẩn chẩn đoán của Barkhof.

bullet

Tổn thương ở tủy sống trong bệnh MS ở người châu Á thường dài hơn so với châu Âu (trung b́nh 2,5 chiều cao thân đốt).

bullet

VEP (visual evoked potentials) có vai tṛ trong chẩn đoán MS ở châu Á: nếu có h́nh tổn thương trên MRI ở tủy kết hợp với bất thường VEP, th́ có thể chẩn đoán MS ở người châu Á. (chú thích của TS Công: Bệnh viện Chợ Rẫy là nơi đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam đă thực hiện được kỹ thuật ghi VEP này !).

Tóm tắt báo cáo Platform (oral) presentation của TS Nguyễn Hữu Công: kích thích điện vào dây giữa ở cổ tay, đặt các điện cực ghi ngoài da theo quy ước quốc tế, ghi được các điện thế gợi cảm giác thân (somatosensory evoked potentials - SEPs). Trong đó N20 là điện thế xuất phát từ phóng chiếu đồi thị - vỏ năo cảm giác. Đo chiều cao N20 (biên độ), chia chiều cao bán cầu bên này cho bên kia (phải:trái, và ngược lại), ta có tỷ số biên độ N20. Tỷ số này trên người b́nh thường không bao giờ thấp dưới 0,5. Trên bệnh nhân đột quỵ lần đầu, tổn thương một bên bán cầu (trên lều), ghi SEPs ngay vài ngày sau đột quỵ: tỷ lệ biên độ N20 tương quan chặt chẽ với các thang điểm lâm sàng (thang điểm sức cơ, và Scandinavian stroke scale) ở thời điểm sau 3 tuần, trong khi tương lại với thang điểm lâm sàng ngay tại lúc ghi SEPs (vài ngày sau đột quỵ) là yếu. Do vậy có thể dùng tỷ lệ biên độ N20 vài ngày sau đột quỵ, để tiên lượng t́nh trạng lâm sàng 3 tuần sau đó, bất kể lâm sàng trong vài ngày đầu như thế nào. Nhóm bệnh nhân có tỷ lệ biên độ N20 > 0,5 có tiên lượng tốt hơn nhóm có tỷ lệ biên độ N20 <0,5. Báo cáo được đăng abstract trong: Journal of Clinical Neuroscience, volume 11, supplement 1, Elsevier November 2004: S46.