|
|
TỔN
THƯƠNG ĐÁM RỐI CÁNH TAY
Lê
Tự Quốc Tuấn, Bs
ThS, Khoa Thăm Ḍ Chức Năng, Bv Chợ Rẫy
Hầu hết các bác sĩ chuyên khoa thần kinh đều gặp bệnh nhân bị tổn thương đám rối cánh tay,phản ánh tính nhạy cảm của cấu trúc này đối với chấn thương và các bệnh lư khác. Tính dễ bị chấn thương chủ yếu là do vị trí của nó nằm giữa 2 cấu trúc di động là cổ và vai(ví dụ chấn thương do kéo). ĐRCT cũng là nguy cơ bị tổn thương của những bệnh lư ảnh hưởng đến các cấu trúc lân cận như: hạch lympho, phổi, mạch máu lớn. Để chẩn đoán chính xác được tổn thương ĐRCT cần phải có: 1- Sự hiểu biết về giải phẫu ĐRCT 2- Sinh lư bệnh khác nhau của tổn thương sợi thần kinh 3- Sự biểu hiện của chẩn đoán điện của những t́nh trạng sinh lư bệnh tổn thương thần kinh. I.TÓM
TẮT GIẢI PHẪU ĐÁM RỐI CÁNH TAY VÀ MỘT
SỐ BẤT THƯỜNG GIẢI PHẪU
H́nh 1. Đám rối cánh tay Rễ Các rễ con(rootlets) lưng và rễ bụng xuất phát ở mặt trước và mặt sau mỗi khoanh tuỷ hợp nhất để tạo thành rễ bụng nguyên phát và rễ lưng nguyên phát (primary dorsal and ventral roots).Thân tế bào của các rễ con lưng hợp thành hạch gai. Các rễ bụng nguyên phát hợp nhất với các rễ lưng nguyên phát- ngay sau khi tạo thành hạch gai-tạo thành thần kinh gai sống.Các phần nằm trong ống sống của rễ con và rễ nguyên phát không liên kết mật thiết với các mô nâng đỡ (màng cứng và màng nhện) do vậy chúng ít có khả năng bảo vệ trước các lực kéo. Ngay lúc vừa ra khỏi lỗ liên hợp các thần kinh gai ở vùng cổ nhận một nhánh thông xám từ các hạch giao cảm cổ; các nhánh thông xám chứa các sợi sau hạch không có myêlin trở lại thần kinh gai, mượn đường thần kinh gai để đến tạng.4 thần kinh gai đầu tiên nhận nhánh thông xám từ hạch giao cảm cổ trên,thần kinh gai C5 và C6 nhận nhánh thông xám từ hạch giao cảm cổ giữa , thần kinh gai C7 và C8 nhận nhánh thông xám từ hạch giao cảm cổ dưới.Các nhánh thông trắng(được gọi tên như vậy bởi vì chúng có màu trắng do các sơi có myêlin mà chúng chứa đựng) là các sợi giao cảm tiền hạch xuất phát từ cột nhân trung gian bên T1-L2 mượn đường thần kinh gai đi đến chuỗi hạch giao cảm cạnh sống. Toàn bộ các nhánh giao cảm chi phối vùng đầu và cổ đều phát xuất từ cột nhân trung gian bên T1.Thần kinh gai sống là thần kinh hỗn hợp(chứa các sợi vận động và cảm giác)ngay sau khi nhận nhánh thông xám, phân chia thành nhánh sau nguyên phát(posterior primary ramus=PPR)- đi ra phía sau và chi phối các cơ cạnh sống- và nhánh trước nguyên phát(anterior primary ramus=APR). Các nhà giải phẫu học xem rễ của ĐRCT đồng nghĩa với nhánh trước nguyên phát, ngược lại các nhà phẫu thuật mà quan tâm nhiều đến tổn thương ĐRCT lại xác định rễ của ĐRCT bao gồm: nhánh nguyên phát, thần kinh gai sống, các rễ nguyên phát và các rễ con. Trong suốt bài này sử dụng định nghĩa của các nhà ngọai khoa.Các rễ C4 và T2 không thường xuyên tham gia tạo thành ĐRCT. Khi đó nếu sự chi phối của rễ C4 là lớn và rễ T1 là nhỏ th́ ĐRCT gọi là tiền lập(prefixed), nếu sự chi phối của rễ C4 là nhỏ,của T2 là lớn th́ gọi là hậu lập (postfixed).Có 62 %trường hợp rễ C4 hợp với nhánh trước nguyên phát C5 Các nhánh xuất phát từ nhánh trước nguyên phát bao gồm:các nhánh vô danh đến cơ dài cổ và cơ bậc thang(từ C5 đến C8 APR), thần kinh ngực dài(từ C5 đến C7 APR) chi phối cơ răng trước,một phần của thần kinh ḥanh(qua C5 APR)chi phối cơ ḥanh, và một phần của thần kinh vai lưng(thần kinh trên vai)(qua C5 APR)chi phối các cơ trên vai, trám lớn.trám nhỏ.Do vị trí gần gốc các thần kinh này không thể tiếp cận bằng kích thích điện xuyên da Thân -Thân trên: 90% được tạo thành do hợp nhất nhánh nguyên phát trước của C5 và C6, 2% có thêm nhánh nguyên phát trước của C7, 8% không có thân trên và các nhánh nguyên phát trước của C5 và C6 chia trực tiếp thành ngành trước và sau.Có 2 nhánh thần kinh vận động xuất phát từ phần gốc của thân trên: thần kinh cho cơ ngực dài và thần kinh trên vai -Thân giữa được tạo thành do sự liên tục của nhánh nguyên phát trước C7.Có 3 % trường hợp thân giữa chia thành 2 ngành trước và 1 ngành sau. -Thân dưới: 95% được tạo thành do nhánh nguyên phát trước của C8 và T1 hợp thành. Ngành Mỗi thân đều chia ra 2 ngành trước và sau; các ngànhnày đều nằm sau xương đ̣n khi cơ thể ở tư thế giải phẫu. Các nhánh thần kinh không xuất phát từ các ngành.Tổn thương ở vị trí các ngành hiếm khi đơn độc. Điều này là cơ sở cho việc phân chia trên lâm sàng: phần trên xương đ̣n(rễ và thân),phần sau xương đ̣n (ngành) và phần dưới đ̣n(bó và các dây thần kinh) của ĐRCT. Bó
Bó ngoài được tạo thành do sự hợp nhất giữa ngành trước của thân trên và thân giữa, chứa các sợi thần kinh phát xuất từ rễ C5 đ ến C7 Bó trong là sự tiếp tục của ngành trước của thân dưới, v à chứa các sợi thần kinh xuất phát từ C8 đến T1 Bó sau được tạo thành do sự hợp nhất của 3 ngành sau và chứa các sợi thần kinh phát xuất từ C5 đến C8.Trong 14-64% trường hợp có thành phần T1 tham gia bó sau Thần
kinh ngực ngoài và ngực trong xuất phát từ bó ngoài
và bó trong ngay sau các bó được thành lập, v́
vậy nên sự có hay không tổn thương
của chúng có thể giúp chẩn đoán phân biệt là
tổn thương trên đ̣n hoặc dưới đ̣n. Dây
thần kinh Tùy theo quan điểm của từng tác giả các nhánh tận của ĐRCT là 3(giữa,trụ,quay) hay là 5(cộng thêm cơ b́ và nách). Cấu phần của thần kinh cơ b́ chủ yếu là C5 và C6, có 1/2-2/3 trường hợp có sự tham gia của C7 Cấu phần của thần kinh trụ là C8 và T1,nhưng trong 43-92% trường hợp thần kinh trụ nhận thêm 1 nhánh nhỏ C7 xuất phát từ bó ngoài gọi là rễ ngoài của thần kinh trụ Cấu phần của thần kinh giữa là C6-T1,trong đó các nhánh vận động xuất phát từ C6-T1 nhưng các sợi cảm giác xuất phát chủ yếu từ C6 và C7 Cấu phần của thần kinh nách là C5 và C6, đôi khi chỉ có đơn độc C5 Cấu phần của thần kinh quay là C5-T1, nhưng cấu phần T1 chiếm tỉ lệ rất nhỏ Bảng
1Vài khác biệt trong danh pháp đám rối cánh tay
II.Phân loại tổn thương đám rối cánh tay Tổn
thương ĐRCT được chia thành bệnh lư
đám rối trên đ̣n và dưới đ̣n bởi v́: 1-
Các sợi vận động nằm trong các cấu
phần ĐRCT trên đ̣n chi phối cả cơ gấp và
cơ duỗi, trong khi đó các sợi vận động
nằm trong các cấu phần ĐRCT dưới đ̣n
chỉ chi phối hoặc là cơ gấp hoặc là cơ
duỗi nhưng không bao giờ là cả hai.Sự khác
biệt này phản ánh sự sắp xếp lại ở
vị trí các ngành.Do vậy tổn
thương của các nhánh nguyên thủy trước và các
thân có biểu hiện tương tự nhau, các tổn thương
của các bó và các dây thần kinh có biểu hiện tương
tự nhau và chúng khác với tổn thương các thân và
nhánh nguyên thuỷ trước. 2- Hai nhóm tổn thương này khác nhau về tỉ lệ mắc bệnh, mức độ trầm trọng và tiên lượng.Tổn thương đám rối trên đ̣n thường gặp hơn và v́ về bản chất thường là trầm trọng hơn, v́ thế chúng thường có tiên lượng xấu hơn. Tổn thương đám
rối trên đ̣n c̣n được chia nhỏ ra thành các
loại:
-tổn thương đám
rối trên(thân trên và rễ C5,C6)
-tổn thương đám
rối giữa(thân giữa và rễ C7)
-tổn thương đám
rối dưới(thân dưới và rễ C8,T1) Tổn thương đám rối trên thường có tiên lượng tốt hơn tổn thương đám rối dưới bởi v́:
a+sinh lư bệnh thường
là bloc dẫn truyền hủy myelin(nghĩa là sự
hồi phục thường hoàn toàn hơn
là thoái hóa sợi trục)
b+vị trí của chúng thường
gần với các cơ mà chúng chi phối(nghĩa là
sự tái phân bố do tái sinh sợi trục theo kiểu
gốc ngọn(proximodistal
axon regeneration ) là rất có
thể xảy ra)
c+chúng thường ở
ngoài lỗ liên hợp(có thể phẫu thuật hơn) V́
các lư do trên mà tổn thương
đám rối trên thường có thể hồi phục
hoàn toàn hơn tổn thương
đám rối dưới mặc dù tổn thương
ban đầu của cả hai đều trầm trọng
như nhau.Và v́ vậy nên một tổn thương
hủy sợi trục ban đầu của đám rối
trên đ̣n ảnh hưởng
đến cấu phần của cả 3 thân như
nhau có thể biểu hiện sau vài năm như là
tổn thương của thân dưới.
3-
Tổn thương đám rối trên đ̣n và dưới
đ̣n cũng khác nhau về nguyên nhân: +Bệnh
lư đám rối trên đ̣n thường do các tổn thương
co kéo mạnh(tai nạn xe gắn máy, liệt trong sản
khoa, tư thế bất
thường trên bàn mổ(liệt sau mổ); ung thư(đặc
biệt là ung thư phổi và ung thư vú),… +Ngược
lại bệnh lư đám rối dưới đ̣n thường
liên quan đến chấn thương(chiếu xạ,
vết thương do đạn bắn hoặc do dao đâm),
găy đầu trên xương cánh tay, găy ở giữa xương
đ̣n, trật khớp vai; sử dụng nạng, … III.CHẨN
ĐOÁN TỔN THƯƠNG ĐÁM RỐI CÁNH TAY: 1.
Bệnh sử: Cần hỏi bệnh sử kỹ để xác định cơ chế tổn thương, thời gian tổn thương và sự tiến triển của các khiếm khuyết thần kinh về vận động và cảm giác trong các khoảng thời gian kế tiếp sau đó.Chấn thương trong tai nạn giao thông do di chuyển với tốc độ cao, ngă từ trên cao,…thường gây tổn thương trầm trọng do kéo căng hoặc gây giựt đứt các rễ hơn là tổn thương ĐRCT ở các phần thấp như trong: chấn thương do tai nạn thể thao,trật khớp vai,chấn thương trong sản khoa. Sự hồi phục sớm chức năng thần kinh gợi ư một tổn thương ít trầm trọng . 2.
Khám lâm sàng: Cần
phải khám riêng rẽ và tỉ mỉ các dây thần kinh
và các cơ do chúng chi phối.Ng̣ai ra cần
phải khám cột sống cổ, tủy sống, khớp
vai và các dây thần kinh sọ có liên quan. Sự liệt cơ nâng vai và các cơ trám gợi ư quan trọng sự giựt đứt rễ C5. Khi
phát hiện hội chứng Horner th́ tổn thương thường
hay nằm ở đọan gốc của nhánh nguyên phát thần
kinh gai sống C8 và T1(có chứa các sợi giao
cảm tiền hạch ). 3.
H́nh
ảnh học: 3.1
X quang qui ước:
Chụp X quang cột
sống cổ, vùng vai khi
có các dấu hiệu chấn thương ở các vùng này.
Chụp X quang lồng
ngực gíup phát hiện găy xương sườn 1 và phát
hiện liệt cơ ḥanh (giúp chẩn đóan giựt
đứt rễ C5 cũng như rễ C3 và C4) cũng như
phát hiện xương sườn cổ 3.2
MRI: Để
thấy được h́nh ảnh ĐRCT ngườI ta dùng: +
trường nh́n rộng(bao gồm cả 2 vai) và chụp
mặt cắt đứng ngang T1(Ti weighted
coronal), mặt cắt ngang T1 và T2. +trường
nh́n hẹp và chụp mặt cắt đứng dọc T1
ĐRCT mỗi bên. +Sau
khi tiêm cản từ: chụp lại mặt cắt đứng
ngang T1(Ti weighted coronal),
mặt cắt ngang T1 .NgườI ta khuyên nên dùng kỹ
thuật xóa mỡ cho h́nh ảnh T1 sau khi tiêm cản
từ khi khảo sát các khốI chóang chỗ như : u
mỡ trong vùng lân cận của ĐRCT
3.3 CT scan: Ct scan kèm chụp tủy tủy sống
cản quang(cervical myelography combined with CT scanning)giúp phát
hiện tổn thương giựt đứt rễ. Các
mặt cắt CT phải đủ độ nét để
nh́n rơ từng rễ. 4
Chẩn đóan điện: Chẩn đóan điện rất quan trọng trong việc đánh giá ban đầu và theo dơi về sau tổn thương ĐRCT. 4.1Các
biểu hiện của chẩn đoán điện của
các phân nhóm sinh lư bệnh khác nhau Mặc
dù các sợi thần kinh riêng rẽ tạo thành ĐRCT có
thể bị tổn thương do vô số cơ chế
khác nhau, nhưng các biểu hiện bệnh học và sinh
lư bệnh của chúng th́ giới hạn. Khi
tổn thương gây hư hại sợi thần kinh
trầm trọng: tính toàn vẹn sợi trục bị
mất và gây thoái hoá Wallerian (thường bắt đầu
2-3 ngày sau khi tổn thương thần kinh). Các
tổn thương ít trầm trọng hơn có thể gây
hủy myelin đơn độc hoặc ưu thế. Khi
đó đáp ứng sinh lư bệnh của các sợi
mất myelin tùy thuộc vào hoặc mất khả năng
dẫn truyền xung thần kinh(bloc dẫn truyền do
hủy myelin) hoặc vẫn c̣n nhưng tốc độ
dẫn truyền chậm hơn (chậm dẫn truyền do
hủy myelin) 4.1.1Tổn
thương hủy sợi trục Bệnh
lư đám rối hủy sợi trục là kiểu thường
gặp nhất trong chẩn đoán điện cơ.
Hiếm khi có hủy myelin hiện diện đồng
thời(bệnh lư đám rối do chiếu xạ). -Trên
điện cơ kim điện thế tự phát và
sự mất MUAP được ghi nhận khi hủy
sợi trục.Mặc dù sự mất MUAP xuất hiện
ngay từ lúc sợi thần kinh bị gián đoạn, thường
nó không được đánh giá chính xác khi cơ
được khảo sát bị mất phân bố từ
nhẹ đến vừa. Bởi
v́ hầu hết các cơ đều có tỉ lệ phân
bố(nghĩa là số lượng trung b́nh các sợi cơ
được phân bố bởi mỗi sợi thần
kinh vận động); có hàng trăm hoặc hơnđiện
thế tự phát xuất hiện khi sợi thần kinh
bị gián đoạn. Nh́n chung điện thế
tự phát xuất hiện khoảng 3 tuần sau khi
sợi thần kinh bị tổn thương và bởi do
tỉ lệ phân bố, có thể khá ưu thế ngay
cả khi tổn thương là tối thiểu. -Các
biểu hiện của chẩn đoán điện thay
đổi bởi v́ sự tổn thương hủy
sợi trục của ĐRCT là liên tục từ tối
thiểu đến cực kỳ trầm trọng. +Trong
những trường hợp tổn thương tối
thiểu ảnh hưởng cả phần cảm giác và
vận động chỉ có điện thế rung tơ cơ
là được ghi nhận c̣n SNAP và CMAP c̣n nguyên
vẹn.Trong những trường hợp tổn thương
nặng hơn th́ biên độ SNAP giảm. +Khi
tổn thương khá nặng th́ biên độ CMAP
giảm(thường khoảng 50% sợi trục bị
mất trước khi CMAP giảm biên độ đáng
kể) và đồng thời giảm MUAP,c̣n biên độ
SNAP th́ khá thấp hoặc không
có.Trong những trường hợp tổn thương
trầm trọng hơn th́ biên độ CMAP giảm
mạnh và MUAP không có. Biên
độ CMAP là hữu ích nhất trong việc đánh giá
số lượng sợi trục bị huỷ của
một dây thần kinh.Ví dụ như: biên độ CMAP
của dây thần kinh khảo sát bên bệnh là 5mV,trong khi
đó biên độ của cùng dây thần kinh bên lành là
10mV th́ có khoảng 50%sợi trục vận động
nằm trong các cấu phần bị ảnh hưởng Thời
gian khảo sát chẩn đoán điện cũng rất là
quan trọng. Mặc dù MUAP mất ngay ,nó không thể
được đánh giá đúng trừ khi tổn thương
ở ít nhất là mức độ trung b́nh trở lên. Bảng
3. Các thay đổi của chẩn đoán điện
trong tổn thương sợi trục
Sau
một thời gian một vài sợi cơ tổn thương
được tái phân bố thần kinh: hoặc là các
sợi vận động bị ảnh hưởng
mọc dài đến các sợi cơ bị mất chi
phối (sự tái sinh theo chiều gốc ngọn) hoặc
là qua các chồi bên của các sợi vận động
không bị ảnh hưởng.H́nh ảnh chẩn đoán
điện của tái phân bố xuất hiện với
biểu hiện của MUAP: thời khoảng rộng, đa
pha và thỉnh thoảng biên độ cao. 4.1.2Tổn
thương hủy myelin Tổn
thương hủy myelin trong tổn thương ĐRCT là
cục bộ. Không như tổn thương gây hủy
sợi trục , các tổn thương hủy myelin không làm
thay đổi sợi thần kinh từ gốc hoặc
ngọn chi đến tổn thương khu trú.Do vậy
sự nhận ra trực tiếp chúng tùy thuộc vào
vị trí kích thích, chúng dễ dàng nhận thấy khi
tổn thương nằm giữa vị trí đặt
điện cực kích thích và điện cực ghi. Có
2 h́nh thái sinh lư bệnh của hủy myelin:blốc
dẫn truyền và chậm tốc độ dẫn
truyền. +Với
chậm tốc độ dẫn truyền hủy myelin,
tất cả các xung đi qua vị trí tổn thương
mặc dủ chậm hơn tốc độ b́nh thường.Do
cuối cùng chúng cơ bản đều đến
được cơ quan đích
nên không có sự yếu cơ và mất cảm giác
điển h́nh.V́ lư do đó, các bệnh nhân tổn thương
ĐRCT liên quan với h́nh thái sinh lư bệnh này là không có
triệu chứng liên quan với các hiện tượng âm
tính (như: tê ,yếu) và do vậy
ít khi đến pḥng chẩn đoán điện.V́
vậy kiểu tổn thương sinh lư bệnh này
sẽ không bàn luận nhiều hơn. +C̣n
bloc dẫn truyền hủy myelin sẽ ngừng lan
truyền các xung thần kinh tại vị trí tổn thương
do vậy ngăn cản chúng đến các cơ quan đích.V́
vậy h́nh thái sinh lư bệnh này, khi làm ảnh hưởng
một số sợi trục đáng kể, sẽ có
triệu chứng ,và triệu chứng là rơ ràng như khi
tổn thương gây hủy sợi trục(ngoại
trừ các khiếm khuyết cảm giác chỉ liên quan
đến các sợi cản giác lớn).Không giống như
khi tổn thương sợi trục, blốc dẫn
truyền hủy myelin ít
khi được quan sát đơn độc, mà thường
kèm với tổn thương sợi trục. Lư do căn
bản là rất dễ hiểu: bất kỳ tổn thương
khá trầm trọng gây bloc dẫn truyền hủy myelin
dọc theo hầu hết các sợi thần kinh bị
ảnh hưởng nói chung cũng đủ trầm
trọng gây tổn thương hủy sợi trục trong
tối thiểu vài sợi thần kinh. Khi yếu chi
được 7 ngày tổn thương gây blốc
dẫn truyền hủy myelin sẽ được nhận
rơ ràng. Tuy
nhiên về mặt lâm sàng một tổn thương gây
yếu cơ có thể quan sát được mà CMAP b́nh thường
cần phải nghi ngờ có bloc dẫn truyền hủy
myelin.Sự hiện diện của một tổn thương
gần gốc có thể được thừa nhận do
sự mâu thuẫn giữa CMAP ghi từ cơ bị
yếu có biên độ b́nh thường hoặc gần b́nh
thường với
mức độ giảm sút MUAP trên cơ đó.Trong trường
hợp như vậy cần kích thích thần kinh gần
gốc hơn(nách,trên đ̣n) để cố gắng xác
định vị trí tổn thương.Tuy nhiên đối
với các tổn thương nằm gần gốc hơn
vị trí ở giữa của thân ĐRCT sự thuyên
giảm biên độ CMAP sẽ khó quan sát với kích thích
bề mặt.Dù vậy sự hiện diện của bloc
dẫn truyền hủy myelin có thể được suy
luận ra dựa vào mâu thuẫn giữa biên độ
CMAP và điện cơ kim.Khi kích thích ở gần
gốc hơn vị trí tổn thương mức độ
giảm MUAP sẽ phù hợp với sự giảm biên
độ CMAP. Hầu
hết các tổn thương bloc dẫn truyền hủy
myelin phản ảnh chấn thương cấp và có tiên
lượng tốt, ngoại trừ 2 trường hợp
tổn thương ĐRCT có blốc dẫn truyền
hủy myelin kéo dài là:bệnh lư ĐRCT sau xạ trị
(những tổn thương này về sau chuyển sang
hủy sợi trục và không bao giờ điều
trị hết) và bệnh dây thần kinh vận động
đa ổ và các biến thể của nó(các tổn thương
này diễn tiến chậm và có thể không đáp
ứng tốt với điều trị). 5.
Khảo sát ĐRCT bằng chẩn đóan điện Mỗi
cấu phần của ĐRCT đều có vùng cơ riêng
(muscle domain = nghĩa là các cơ được các sợi
vận động có trong mỗi cấu phần chi
phối) cũng như có vùng điện thế cảm giác
riêng(SNAP domain= nghĩa là các sợi cảm giác trong nó chi
phối dẫn truyền cảm giác) và vùng điện
thế vận động riêng (CMAP domain= nghĩa là các sợi vận động trong nó tham gia dẫn truyền vận động). Để dễ hiểu, thuật ngữ vùng điện cơ kim(NEE domain ) sẽ được cho là đồng nghĩa vớI thuật ngữ vùng cơ riêng. Nguồn gốc của vùng SNAP của mỗi cấu phần ĐRCT là phức tạp hơn, tuy nhiên ngườita đă xác định được các vùng này Nếu như biết được các sợi vận động và cảm giác chứa trong 1 cấu phần ĐRCT chúng ta có thể xác định được vùng CMAP và SNAP của nó.Vùng cơ của một cấu phần ĐRCT được xác định nhờ vào các sơ đồ khoanh cơ (myotomal charts). Ví
dụ do cơ nhị đầu có quan hệ với
cả 2 khoanh cơ C5 và C6, nó sẽ nhận sự chi
phối từ các sợi trục vận động
xuất phát từ nơ ron sừng trước của
khoanh tuỷ C5 và C6.Dựa vào kiến thức giải
phẫu, các
sợi trục vận động này
phải đi qua rễ C5 và C6, các thần kinh gai
sống C5 và C6,rễ nguyên phát trước C5 và C6, thân trên,
bó ngoài, và thần kinh cơ b́ để đi đến
cơ nhị đầu.V́ thế mỗi thành phần
của thần kinh ngoại biên này đều bao gồm cơ
nhị đầu trong vùng cơ của nó, và vùng CMAP
của chúng sẽ bao gồm CMAP của thần kinh cơ b́
ghi ở cơ nhị đầu. .
H́nh 2. Đánh giá các cấu phần của ĐRCT bằng việc khảo sát thần kinh b́ cẳng tay ng̣ai V́ vậy một tổn thương gây hủy sợi trục sẽ gây bất thường chẩn đoán điện: SNAP,CMAP và biến đổi điện cơ kim; sự nhận ra các bất thường này cho phép định vị cấu phần bị tổn thương.Khảo sát chẩn đoán điện ĐRCT một cách đầy đủ đ̣i hỏi đo nhiều dẫn truyền vận động ,cảm giác và thực hiện nhiều điện cơ kim.V́ vậy không có kiểu thức vắn tắt nào phù hợp với chẩn đoán điện cơ . Cả ba thành phần: dẫn truyền vận động,dẫn truyền cảm giác và điện cơ kim đều phải được thực hiện v́ mỗi phương thức đều bổ sung thông tin cho hai phương thức c̣n lại.Việc bỏ qua bất kỳ phương thức nào thường hay làm cho việc khảo sát chẩn đoán điện không hoàn hảo và thường dẫn đến sai lệch. 1.
Dẫn truyền cảm giác cực kỳ hữu ích
trong việc nhận ra và định vị tổn thương
của các cấu phần ĐRCT khác nhau bởi v́ nó là
thành phần duy nhất giúp khảo sát các nơ ron
cảm giác tại hạch, chúng cùng với các sợi
cảm giác hậu hạch rất nhạy cảm với
hủy sợi trục.Hơn nữa dựa trên những
bất thường quan sát được chúng có khả
năng định vị tổn thương chính xác
một cấu phần ĐRCT riêng rẽ ngay cả trước
khi thực hiện đo dẫn truyền vận động
và điện cơ kim.Điều này phản ánh rằng
các sợi cảm giác liên quan trong dẫn truyền cảm
giác đang khảo sát đi qua ĐRCT theo những con
đường đă được biết rơ.Tuy nhiên
khi tổn thương các sợi tiền hạch th́ SNAP
vẫn c̣n mặc dù trên lâm sàng bệnh nhân bị
mất cảm giác ở vùng tương ứng. 2.
Dẫn truyền vận động minh chứng cho
mức độ trầm trọng của tổn thương
sợi trục.Dẫn truyền vận động ít
nhạy đối với hủy sợi trục hơn 2 phương
thức chẩn đoán điện c̣n lại, nhưng biên
độ CMAP thấp thường thường xác định
rằng mức độ hủy sợi trục ít nhất
là trung b́nh hoặc nặng.Trước khi hiện tượng
tái phân bố xảy ra th́ biên độ và vùng âm
của CMAP là những thông số ước lượng
hữu hiệu nhất của tỉ lệ phần trăm
hủy sợi trục khi so sánh với các thông số tương
ứng của tay b́nh thường
đối bên. 3.
Điện cơ kim giúp định vị những
tổn thương gần gốc.Điện cơ kim
của các cơ gần gốc âm tính sẽ có khuynh hướng
định vị sai là tổn thương xảy ra ở
phía ngọn chi hơn là ở gần gốc, thực
tế là do 2 yếu tố: 1.1
tổn thương gần gốc không hoàn toàn tương
tự như tổn thương gần ngọn chi.ví
dụ: tổn thương thân dưới mà rễ C8 c̣n
nguyên vẹn sẽ tương tự như khi tổn thương
ở bó trong. 2.2
sự hồi phục ở các cơ ở gần
gốc thường hoàn toàn hơn ở phần ngọn
chi.Trong trường hợp tổn thương hủy
sợi trục mức độ nhẹ, sự bất thường
ghi nhận được ở các cơ gần gốc thường
là không kéo dài khi các sợi cơ bị mất phân
bố thần kinh được
tái phân bố thần kinh trở lại và như vậy
chỉ những cơ phía ngọn chi là được ghi
nhận bất thường Bảng
4.Tương quan giữa biến đổi điện cơ
và mức độ trầm trọng của tổn thương
H́nh
3 Đánh giá các cấu phần của ĐRCT bằng
việc khảo sát thần kinh
quay
Bảng
5. Các thần kinh và cơ thường dùng để khảo
sát các cấu phần ĐRCT
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||