
ĐAU
DÂY THẦN KINH TAM THOA
BS
Lê Văn Tuấn, Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh.
GIỚI
THIỆU
Đây
là một trong những loại đau thường gặp
nhất ở vùng mặt-miệng.
Người
đầu tiên mô tả đau dây thần kinh tam thoa là
một thầy thuốc người Arập tên là Jurjani vào
thế kỷ 11. Ông ta đă chú ư sự chèn ép mạch máu
có thể là nguyên nhân đau dây thần kinh tam thoa. Oâng
đă mô tả: có một loại đau mà ảnh hưởng
đến răng ở một bên và toàn bộ hàm cùng
một bên với bên đau. Với cơn đau, có
sự co thắt ở mặt và sự lo âu dữ dội.
Cũng nên biết rằng, đau do thần kinh dính vào
rễ ở răng. Nguyên nhân của co thắt và lo âu là
do động mạch gần với dây thần kinh.
Nicolaus
André là người đầu tiên đă mô tả chi
tiết cơn đau dây thần kinh tam thoa điển h́nh,
và ông đă nhận diện nó như là một bản
chất lâm sàng và gọi là tic douloureux. John Fothergill đă
không biết bài mô tả của André khi ông ta cho xuất
bản một bài báo mà mô tả gần như toàn bộ
đặc điểm lâm sàng được biết ngày
nay của đau dây thần kinh tam thoa. Ông là người
đầu tiên chú ư rằng đau thường ở người
già và phụ nữ, và một sự sờ nhẹ cũng
gây cơn đau, các cơn đau này cần được
phân biệt với đau răng. Vài năm sau đó, Pujol
đă nhấn mạnh trên một đặc điểm là
đau dây thần kinh tam thoa thường bị nhầm
với đau răng và có thể đưa đến
việc nhổ răng vô ích và xui xẻo ở những người
có răng khỏe mạnh. Sau đó, Chapman đă quan sát
rằng đau thường biểu hiện với
những lần tái phát và thoái lui tự phát. Vào năm
1898, Tiffany đă mô tả đau thường liên quan bên
phải và ở nhánh hàm trên và hàm dưới của dây
thần kinh tam thoa. Sự kết hợp giửa xơ
cứng răi rác (SEP) và đau dây thần kinh tam thoa lần
đầu tiên được mô tả bởi Oppenheim vào
năm 1911, và vào năm 1914, Patrick cho rằng thỉnh
thoảng có tỉ lệ gia đ́nh trên rối loạn này.
Harris cũng thêm rằng đau dây thần kinh tam thoa thường
ở bệnh nhân SEP và ở những người có
tiền sử gia đ́nh dương tính. Những quan sát
này đă hoàn thiện sự mô tả cổ điển
đau dây thần kinh tam thoa của
Fothergill.
GIẢI
PHẨU HỌC THẦN KINH TAM THOA
Đây
là thần kinh sọ lớn nhất. Thần kinh tam thoa có
1 nhân vận động, 3 nhân cảm giác kéo dài dọc
suốt thân năo. Nhân cảm giác chính nằm ở mặt
bên cầu năo, nhân gai tam thoa nằm ở hành năo và
tủy cổ cao, nhân trung năo ở phần cầu năo trên
và trung năo. Nhân vận động ở phía trong nhân
cảm giác chính tại cầu năo.
Thần
kinh tam thoa thoát ra ở mặt trước bên của
cầu năo với rễ cảm giác lớn và rễ
vận động nhỏ hơn, sau đó thần kinh băng
qua bể trước cầu năo. Điểm thay đổi
giửa myelin trung ương và ngoại biên của dây
thần kinh tam thoa gọi là vùng vào của rễ thần
kinh tam thoa. Điểm này thường là nơi bị chèn
ép bởi các mạch máu xoắn. Sau khi băng qua bể trước
cầu năo, dây thần kinh tiếp tục đến đỉnh
xương đá. Ơû đây nó băng qua chổ
khuyết màng cứng để vào khoang Meckel, khoang này
chứa nhiều dịch năo tủy và nằm ngay bên xoang
hang. Rồi th́ các thân của sợi thần kinh lan
rộng để tạo thành hạch Gasser và từ đó
xuất phát 3 nhánh thần kinh tam thoa.
Thần
kinh tam thoa được bao quanh bởi nhiều mạch máu.
Trong 60% trường hợp, các mạch máu tạo thành ṿng
mạch máu bao quanh ít nhất một nửa rể thần
kinh tam thoa và vùng vào của rể thần kinh.
H́nh
1: vùng vào của rễ thần kinh tam thoa. Chú ư ở
đầu mũi tên là một mạch máu ngay dưới
vùng vào TK tam thoa.
DỊCH
TỂ HỌC
Tỉ
lệ ở nam là 2,7/100.000 dân/năm và ở nữ là
5/100.000 dân/năm.
Tuổi
thường gặp là 50-70. Tuổi khởi phát bệnh thường
là 60 tuổi, tưổi có nhiều bn nhất là 75. Ít hơn
10% bn dưới 40 tuổi. Tuy nhiên, đau có thể
bắt đầu ở mọi lứa tuổi.
BIỂU
HIỆN LÂM SÀNG
Đây
là những cơn đau dữ dội mà bệnh nhân (bn) mô
tả như: dao đâm, như cắt, sốc điện,
nóng bỏng, đau nhói. Cơn đau kéo dài vài giây và không
quá vài phút.
Bn
không đau giửa các cơn. Tuy nhiên trong những trường
hợp nặng, cơn đau có thể xảy ra từng
cụm trên giai đoạn vài giờ. Trong thời gian này,
bn gần như bị đau liên tục. Cơn thường
được kích thích do chạm vào những vùng ở
mặt. Các vùng này gọi là vùng c̣ súng (trigger zone) và cùng
bên với bên đau. Đa số vùng c̣ súng là ở
phần trung tâm của mặt, quanh mũi và miệng.
Sờ nhẹ và những kích thích rung gần như là
những kích thích hiệu quả nhất. Những kích thích
đau hay nhiệt không tạo ra cơn đau.V́ vậy,
rửa mặt, cạo râu, hay tiếp xúc với gió có
thể thúc đẩy cơn, mặc dù bóp hay ép vùng c̣ súng
thường không gây ra như vậy. Các cơn đau cũng
có thể bị gây ra bởi nói chuyện, nhai, hay ăn, và
bệnh nhân có thể suy kiệt và mất nước do các
cơn xảy ra khi bệnh nhân cố uống hay ăn.
Cần có tổng xung động theo thời gian và không
gian để gây ra cơn đau và được theo sau
bởi giai đoạn trơ trong 2-3 phút. Điều này
gợi ư cơ chế đau kịch phát liên quan đến
nhân gai thần kinh tam thoa. Bệnh nhân có thể c̣n
cảm giác rát, đau sau cơn.
Phân
bố cơn đau theo nhánh dây thần kinh tam thoa: theo nghiên
cứu ở Minnesota năm 1945-1984:
Đau
chỉ ở vùng V2 chiếm tỉ lệ 35%.
Đau
chỉ ở vùng V3 chiếm tỉ lệ 29%.
Đau
chỉ ở vùng V1 chiếm tỉ lệ 4%.
Đau
chỉ ở vùng V2 và V3 chiếm tỉ lệ 19%.
Đau
ở cả V1, V2 và V3 là 1%.
Theo
Broggi và cs trong 250 trường hợp được
mổ v́ đau thần kinh tam thoa:
Đau
chỉ ở vùng V2 chiếm tỉ lệ 17%.
Đau
chỉ ở vùng V3 chiếm tỉ lệ 21,4%.
Đau
chỉ ở vùng V1 chiếm tỉ lệ 0,6%.
Đau
chỉ ở vùng V2 và V3 chiếm tỉ lệ 29,5%.
Đau
chỉ ở vùng V1 và V2 chiếm tỉ lệ 20,5%.
Đau
ở cả V1, V2 và V3 là 11%.
95%
trường hợp đau chỉ ở một bên.
H́nh
2: vị trí của vùng c̣ súng ở mặt và lợi.
Triệu
chứng có khuynh hướng nặng lên theo thời gian,
tuy nhiên triệu chứng thường thoái lui trong quá tŕnh
sớm của bệnh; một số bn không có triệu
chứng trong giai đoạn vài tháng hay vài năm. Với
thời gian, các cơn thường xuất hiện hơn
và cường độ nặng hơn; cuối cùng, bn có
thể có nhiều cơn mỗi ngày.
Khám
thần kinh thông thường không phát hiện bất
cứ các thiếu sót cảm giác ở những bn với
đau thần kinh tam thoa điển h́nh, tuy nhiên các
khảo sát định lượng chuyên sâu hơn cho
thấy có sự suy giảm nhẹ cảm giác ở
nhiều bn. Một số bệnh nhân có giảm nhẹ
cảm giác sờ và nhiệt nhưng không thay đổi
cảm giác đau. Các phản xạ thần kinh tam thoa thường
b́nh thường ở dạng vô căn và bất thường
ở dạng không điển h́nh.
Tiêu
chuẩn chẩn đoán đau dây thần kinh tam thoa (theo
Hiệp Hội Đau Đầu Quốc Tế, 1988)
- Là
các cơn đau mặt và trán kịch phát mà kéo dài vài
giây và dưới hai phút.
- Đau
có ít nhất bốn trong các đặc điểm sau:
- Đau
đột ngột, dữ dội, nhói, nông, như
đâm hay nóng bỏng.
- Phân
bố dọc theo một hay nhiều nhánh dây thần
kinh tam thoa.
- Cường
độ nặng.
- Được
kích thích bởi các vùng c̣ súng, hay bởi các hoạt
động hàng ngày, chẳng hạn như ăn, nói,
rửa mặt, hay đánh răng.
- Giửa
các cơn bn hoàn toàn không có triệu chứng.
C.
Không có thiếu sót thần kinh.
D.
Các cơn được lập lại ở mỗi
bn riêng biệt.
- Loại
trừ các nguyên nhân đau mặt khác từ bệnh
sử, khám thực thể, và cận lâm sàng đặc
biệt.
Đau
nhiều quá và bệnh nhân nhăn mặt tự phát nên
gọi là tic (chứng máy cơ).
Cơn
đau tái phát thường xuyên, cả ngày và đêm, kéo
dài trong vài tuần ở một thời điểm.
Đau
không điển h́nh khi: đau kéo dài, đau không có vùng
c̣ súng, không theo sự phân bố thần kinh tam thoa, đau
có tính chất âm ỉ. Nguyên nhân của những trường
hợp đau không điển h́nh có thể do SEP, U, ph́nh
động mạch hay do dị dạng động-tĩnh
mạch.
Chẩn
đoán đau dây thần kinh tam thoa vô căn dựa trên
bệnh sử, cơn đau dữ dội, kịch phát
điển h́nh ở một bên, vùng c̣ súng, có giai đoạn
trơ, khám thần kinh b́nh thường, thường
đáp ứng với carbamazepine. Đau dây thần kinh tam
thoa cần được chẩn đoán phân biệt
với các hội chứng đau mặt miệng khác
chẳng hạn như đau thần kinh sau nhiễm herpes,
viêm động mạch thái dương, đau đầu
cụm, đau đầu migrain như ice pick (ŕu phá băng),
migrain vùng măït, đau răng, rối loạn chức năng
khớp thái dương-hàm, đau cân cơ, đau răng
không điển h́nh, đau thần kinh mặt không điển
h́nh, hội chứng SUNCT.
MRI
cũng có thể chẩn đoán chèn ép do mạch máu vào
dây và rễ thần kinh tam thoa, mặc dầu độ
tin cậy của kỹ thuật này c̣n nhiều bàn căi.
Nhiều kỹ thuật đăïc biệt hơn có
thể làm tăng độ nhạy cảm của MRI để
khám phá sự chèn ép mạch máu thần kinh.
NGUYÊN
NHÂN
H́nh
3-Các sang thương khác nhau là những nguyên nhân của
đau dây thần kinh tam thoa: 1-Quai động
mạch, 2- Dị dạng mạch máu, 3- Nang epidermoid, 4- SEP,
5- U dây thần kinh thính giác, 6- Bệnh măn tính ở
miệng hay răng.
Như
được chỉ ra trong h́nh 3: chèn ép, lệch hay căng
rễ thần kinh do động mạch, dị dạng
mạch máu, hay u phát triển chậm có thể gây đau
dây thần kinh tam thoa. Chèn ép mạch máu là nguyên nhân thường
nhất. Dandy là người đầu tiên nhận
biết chèn ép bởi mạch máu là nguyên nhân của
đau thần kinh tam thoa. Trong 16% trường hợp chèn
èp bị gây ra do nhiều mạch máu. Chèn ép rễ dây
thần kinh tam thoa kết hợp với những thay đổi
tăng sinh và thoái hóa bao myelin của các sợi trong
hạch dây thần kinh tam thoa. SEP là bệnh của hệ
thần kinh trung ương duy nhất có tỉ lệ tăng
đau dây thần kinh tam thoa. 1% bn SEP có đau thần kinh
tam thoa. Đau thần kinh tam thoa thường gặp ở
bn SEP hơn ở người b́nh thường và thường
là khó điều trị. Khoảng dưới 0,5% bn đau
thần kinh tam thoa bị SEP. Các măng khử myelin được
t́m thấy tại cầu năo ở vùng vào của rễ dây
thần kinh tam thoa trong tất cả bệnh nhân SEP với
đau dây thần kinh tam thoa và có sinh thiết sau mổ hay
tử thiết. V́ vậy sang thương ảnh hưởng
rễ thần kinh hơn là đường thần kinh
trong thân năo ở bn SEP là nguyên nhân gây ra đau dây
thần kinh tam thoa.
Nguyên
nhân khác do thâm nhiễm rễ, hạch, do ung thư hay u, do
amyloid; do nhồi máu nhỏ, u mạch máu ở cầu năo
hay hành năo; đau có thể do viêm màng nhện; một
số trường hợp không rơ nguyên nhân.
Một
số trường hợp đau có tính chất gia đ́nh
Bệnh
Charcot-Marie-Tooth.
Đau
thần kinh và cao huyết áp và dị tật tay chân
ngắn với tổn thương nhiễm sắc thể
12p. Cao huyết áp kèm với bất thường mạch máu
thần kinh bao gồm các quai động mạch tiểu năo
sau dưới hay động mạch đốt sống chèn
ép mặt bụng bên của hành năo.
Duff
và cs mô tả một trường hợp đau thần
kinh tam thoa có tính gia đ́nh, xảy ra ở người
mẹ, 6 người con trong 10 người con và một cháu
trai.
(a)
(b)
H́nh
4-Chèn ép mạch máu thần kinh và đau thần kinh tam
thoa. (a) 3D-FISP sequence trên MRI tái tạo theo mặt phẳng
dọc cho thấy thần kinh tam thoa bên phải, có hai
mạch máu tiếp xúc ở mặt trên và dưới
của dây thần kinh (mũi tên); (b) mạch máu tiếp xúc
với thần kinh tam thoa phải ở h́nh cắt ngang.
SINH
LƯ BỆNH
Mặc
dù đa số giải phẩu bệnh cho thấy vị trí
tổn thương là ngoại biên nhưng đau dây
thần kinh tam thoa có nhiều đặc điểm lâm sàng
gợi ư đến cơ chế trung ương chịu trách
nhiệm cho những cơn đau kịch phát: (1) có
thời gian tiềm ẩn có thể đo được
từ sự khởi phát kích thích điểm c̣ súng và
sự khởi phát cơn đau, (2) các cơn tự duy tŕ
khi chúng đă xuất hiện, (3) cơn được
theo sau bởi giai đoạn trơ trong đó không thể
khởi phát cơn đau khác, hay nếu khi cơn
được khởi đầu th́ thật sự nó
yếu hơn cơn thông thường, (4) các cơn
được kích thích gần như thật sự
bởi các đường hướng tâm thụ thể cơ
học ngưỡng thấp. B́nh thường kích thích các
đường hướng tâm này không tạo ra cơn
đau và thật sự có thể đưa đến
ức chế sự cảm nhận đau, (5) đau lan ra
ngoài vùng kích thích, và trong một số trường
hợp, cơn đau kịch phát được cảm
nhận trong toàn bộ các nhánh khác nhau của thần kinh
hơn là ở điểm c̣ súng.
Các
dữ liệu thực nghiệm gợi ư rằng cơ
chế trung ương liên quan đến bệnh sinh
của đau dây thần kinh tam thoa bởi v́ dùng các tác
nhân gây động kinh đối với nhân dây thần
kinh tam thoa (nhưng không trong bó gai tam thoa, rễ tam thoa, hay
hạch tam thoa) làm cho động vật phản ứng quá
mức với kích thích sờ ở mặt cùng bên, tuy nhiên
các con vật này có khuynh hướng cào một bên
mặt của chúng dữ dội thay v́ tránh bất cứ
sự tiếp xúc với mặt của chúng, như ở
những bệnh nhân đau dây thần kinh tam thoa thường
làm. Cắt đứt một phần đường hướng
tâm của nhân dây thần kinh tam thoa bằng cách phá
hủy một phần mầm răng hàm trên và hàm dưới
làm tăng tạm thời có ư nghĩa thống kê tỉ
lệ hoạt động tự phát của các neuron
thụ thể cơ học ngưỡng thấp trong nucleus
oralis của nhân gai dây thần kinh tam thoa. Tuy nhiên, không có
những thay đổi hành vi nào xảy ra. Những quan sát
này cho thấy rối loạn chức năng dây thần
kinh tam thoa phụ thuộc trên độ nặng của
sự phá hủy. Những tổn thương tạm
thời nhẹ đưa đến những thay đổi
tạm thời hoạt động neuron và không có bất
cứ những thay đổi hành vi nào. Mặt khác, sang thương
lớn gây động kinh ở nhân thần kinh tam thoa gây
ra tăng hoạt động đáng kể neuron với
sự cọ sát và cào nhiều lần tương tự vô
cảm đau được gây ra bởi sang thương
lan rộng của rễ và hạch dây thần kinh tam thoa.
Một sang thương với độ nặng ở
một nơi nào đó giửa hai thái cực này có
thể làm bùng phát từng hồi sự tăng hoạt
động của neuron và đặc điểm hành vi
của đau dây thần kinh tam thoa. Hiệu quả này cũng
nên tính đến đối với quan sát lâm sàng mà gây
tổn thương dây hay rễ hay hạch dây thần kinh
tam thoa sẽ làm ngưng cơn đau, tuy nhiên nó có
thể đưa đến vô cảm đau. Các thuốc
điều trị đau dây thần kinh tam thoa ức
chế sự kích thích và tạo thuận lợi ức
chế theo khoanh hay đường hướng tâm của
các neuron thụ thể cơ học ngưỡng thấp
trong nhân gai thần kinh tam thoa ở các con vật thí
nghiệm. Hiệu quả này gợi ư rằng kết
hợp của sự kích thích tăng và suy giảm ức
chế theo khoanh liên quan đến các neuron này được
chỉ ra trong cơ chế bệnh sinh đau dây thần
kinh tam thoa. Giả định này phù hợp với các
biểu hiện mà tổn thương hay kích thích thần
kinh ngoại biên gây ra sự tạo thành các ổ phóng
điện lạc chổ, sự thoái hóa các neuron trung gian
ức chế giả định và sự suy giảm cơ
chế ức chế trước và sau xi náp. Đau dây
thần kinh tam thoa dường như có bệnh căn
ngoại biên và bệnh sinh trung ương. Đau dây
thần kinh tam thoa xảy ra khi có sự chèn ép rễ
thần kinh bởi mạch máu hay u nhỏ đưa đến
những ổ phát điện lạc chổ cũng như
rối loạn sự ức chế theo khoanh mà b́nh thường
điều ḥa mức độ hoạt động
của neuron trong nhân gai dây thần kinh tam thoa. Hậu
quả của sự kết hợp xung hướng tâm tăng
và ức chế theo khoanh giảm như vậy là sự kích
thích xúc giác ở mặt làm tăng hoạt động
neuron cảm nhận cơ học ngưỡng thấp
ở nhân dây thần kinh tam thoa và cuối cùng, sự phóng
điện kịch phát của neuron này. Các cơn đau
xảy ra khi hoạt động kịch phát này lan vào
neuron mức độ động học rộng trong nhân
dây thần kinh tam thoa và làm cho chúng phóng điện ở
tần số được gây ra do các kích thích có
hại.
ĐIỀU
TRỊ
Nếu
không được điều trị, cơn đau
sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày
của bệnh nhân.
Điều
trị nội khoa
Điều
trị được bắt đầu bằng nội
khoa. Trong 70% các trường hợp, điều trị
nội khoa thường hiệu quả.
Có
nhiều thuốc có thể sử dụng riêng lẻ hay
phối hợp với nhau.
Carbamazepine
là thuốc chọn lựa đầu tiên, với liều
dùng bắt đầu là 100-200mg/ngày, tăng dần
mỗi 200mg cho đến khi có tác dụng hay tác dụng
phụ xảy ra, liều trung b́nh hiệu quả là 600-1200
mg/ngày, cơ chế là ức chế các neurone bị kích
thích bằng cách ngăn cản kênh Na+ ở màng tế bào,
do đó làm giảm sự phóng điện lạc chổ.
Carbamazepine dùng để điều trị cũng như có
thể được dùng để trợ giúp chẩn
đoán. Thuốc chống động kinh khác có thể dùng
là phenytoin 300-400 mg/ngày, valproate, pimozide,
clonazepam.
Có
thể dùng baclofen trong trường hợp không dung nạp
với carbamazepine. Baclofen là thuốc chọn lựa hàng
đầu khi phối hợp với carbamazepine. Baclofen
được sử dụng với liều khởi đầu
là 5-10mg ba lần mổi ngày, sau đó tăng liều 10mg
mổi hai ngày cho đến khi bn không đau hay đến
khi tác dụng phụ xuất hiện. Liều hiệu
quả thông thường là 50-60mg mổi ngày. Đối
với những trường hợp đau nhiều, baclofen
nên được dùng mổi 3-4 giờ do thời gian bán
hủy ngắn.
Zvartau
nhận thấy trong 7 bn SEP và đau thần kinh tam thoa kháng
trị nội khoa thông thường th́ 5 bn đáp ứng
tốt với topiramate, một thuốc chống động
kinh mới. Tác giả bắt đầu với liều
25mg hai lần một ngày, sau đó tăng liều 50mg
mổi tuần đến liều tối đa là 200mg hai
lần mổi ngày. Đa số có hiệu quả ở
liều 100mg hai lần mổi ngày.
Tương
tự Khan nhận thấy trong 7 bn SEP và đau thần kinh
tam thoa kháng trị nội khoa thông thường th́ 6 bn
đáp ứng hoàn toàn với gabapentin, cũng là một
thuốc chống động kinh mới. Liều khởi
đầu là 300mg một ngày, sau đó tăng đến
liều 900-2400mg/ngày. Thường có hiệu quả sau 3-4
ngày điều trị và hiệu quả nhất sau 2
tuần. Cơ chế tác dụng có thể liên quan đến
điều ḥa dẫn truyền thần kinh trung tâm.
Lamotrigine,
một thuốc chống động kinh, cũng được
dùng thành công trong một số trường hợp. Lunardi
và cs đă dùng lamotrigine để điều trị đau
thần kinh tam thoa kháng trị với các thuốc thông thường
cho 15 bn đau vô căn và 5 bn SEP. kết quả là 11 trong
15 bn vô căn giảm đau hoàn toàn và toàn bộ 5 bn SEP
giảm đau hoàn toàn.
Một
số thuốc khác có thể dùng như misoprostol, prednisone,
amitriptyline, kháng viêm không steroid. Tuy nhiên hiệu quả
của chúng chưa được biết rơ.
30%
không thể điều trị nội khoa do không hiệu
quả hay do tác dụng
phụ của thuốc. Ngoài ra, 50% bệnh nhân lúc đầu
đáp ứng với điều trị nội về sau
điều trị nội không c̣n hiệu quả.
Những trường hợp này cần được
điều trị ngoại khoa.
Điều
trị ngoại khoa
Điều
trị làm đông: tỉ lệ tái phát cao.
Tiêm
alcohol hay phenol nơi thần kinh bị ảnh hưởng
tại lổ tṛn và lổ bầu dục hay nơi
đoạn giửa rễ hạch tam thoa và thân năo: tác
dụng phụ nhiều.
Cắt
bỏ nhánh thần kinh tam thoa ngoại biên: tái phát cao.
Ba
phương pháp trên hiện nay ít được sử
dụng.
Phá
hủy hạch thần kinh tam thoa bằng phương pháp
xuyên qua da: xuyên kim qua lổ
bầu dục. Có ba kỹ thuật: ép vi thể bằng bóng,
gây tổn thương bằng tần số sóng radio, tiêm
glycerol.
Phẩu
thuật mở: giảm ép vi mạch máu ở rễ
thần kinh tam thoa, cắt bỏ rễ thần kinh hậu
hạch Gasser. Phương pháp giảm ép vi mạch máu làm
giảm đau vĩnh viễn trong 70% các trường
hợp, và tái phát nhẹ trong 20% trường hợp. Phương
pháp cắt bỏ rễ thần kinh hậu hạch Gasser ít
được dùng do chi phí cao và có nhiều nguy cơ.
Tỉ
lệ tái phát của điều trị giải ép vi
mạch máu và gây tổn thương bằng tần
số sóng radio th́ như nhau.
Phẩu
thuật giải ép vi mạch máu
Năm
1934 Dandy là người đầu tiên nhận biết
đau do chèn bởi mạch máu. Jannetta là người
đă mô tả đầy đủ và phổ biến hóa
phương pháp điều trị trong trường
hợp kháng trị nội khoa. Phẩu thuật này
được làm nhiều trong ṿng 30 năm qua.
Broggi
và cs đă mổ trên 250 bn và nhận thấy:
Không
có trường hợp tử vong.
Tái phát 15,3%.
85% giảm đau ngay.
Thêm 7,5% khác giảm đau trong 2 tuần.
7,5% trường hợp không có hiệu quả.
Và
trong 10 bn SEP được mổ th́ 9 bn giảm đau ngay
và 1 bn không cải thiện triệu chứng.
Theo
Walchenbech và cs:
Tử vong 0,15%.
Giảm đau nhanh trong 90%.
80% không đau sau một năm.
Tỉ lệ tái phát thấp.
Biến
chứng có thể gặp là: tê, dị cảm, giảm
nhẹ cảm giác, ṛ dịch năo tủy qua mũi,
giảm thính lực, tử vong.
Tóm
lại: đau
thần kinh tam thoa là một t́nh trạng đau dữ
dội, dễ chẩn đoán và có thể quản lư
bằng nội khoa. Chỉ định điều trị
ngoại khoa trong những trường hợp kháng trị
nội khoa và trong đó giải ép vi mạch máu là phương
pháp được chọn lựa hàng đầu, có
hiệu quả cao và ít biến chứng.
THƯ
MỤC
BOERMAN
R.H. ET AL. Trigeminal neuropathy secondary to perineural invasion of head and
neck carcinomas. Neurology
1999, 53(1): 213-216.
BROGGIG
ET AL. Microvascular decompression for trigeminal neuralgia: comments on a
series of 250 cases, including 10 patients with multiple sclerosis. J
Neurol Neurosurg Psychiatry 2000, 68: 59-64.
CANAVERO
S ET AL. Can trauma alone to the trigeminal root relieves trigeminal neuralgia?
The case against the microvascular decompression hypothesis. J Neurol Neurosurg
Psychiatry 1997, 63: 411-412.
DUFF
J.M ET AL. Familial trigeminal neuralgia and contraleteral hemifacial spasm.
Neurology 1999, 53(1): 216-218.
FIELDS
H.L. editorial: treatment of trigeminal neuralgia. New Engl J Med 1996, 334(17):
1125-1126.
FROMM
G.H. The neuralgias. In: Joynt R.J, Griggs R.C. Clinical Neurology Looseleaf.
Lippincott-Raven, 1996; chapter 52. (CD-ROM Edition).
JACKSON
EM, BUSSARD GM ET AL. Trigeminal neuralgia: a diagnostic challenge. American
Journal of Emergency Medicine 11(6): 597-600, 1999.
KIM
JS., KANG J.H., LEE M.C. Trigeminal neuralgia after pontine infarction.
Neurology 1998, 51(5): 1511-1512.
KHAN
O.A. Gabapentin relieves trigeminal neuralgia in multiple sclerosis patients.
Neurology 1998, 51(2): 612-4.
LEANDRI
M., ELDRIDGE P., MILES J. Recovery of nerve conduction following microvascular
decompression for trgeminal neuralgia. Neurology 1998, 51(6): p1641-p1646.
LOVE
S., COAKHAN H.B. Trigeminal neuralgia: phathology and pathogenesis. Brain 2001,
124(12): 2347-2360.
LUNARDI
G ET AL. Clinical effectiveness of lamotrigine and plasma levels in essential
and symptomatic trigeminal neuralgia. Neurology 1997, 48(6): 1714-1717.
MARCHBACH
J.J. Medically unexplained chronic orofacial pain. Temporomandibular pain and
dysfunction syndrome, orofacial phantom pain, burning mouth syndrome, and
trigeminal neuralgia. Medical clinics of North America 1999, 83(3): 691-710.
VICTOR
M., ROPPER A.H. Headache and other craniofacial pains. In: Principles of
Neurology. New York, McGraw-Hill, 7th ed, 2001: 196-198.
WALCHENBECH
R., VOORMOLEN J.H. Editorials: Surgical treatment for trigeminal neuralgia. BMJ
1996, 313: 1027-1028.
WOOLFALL
P., COULTHARD A. Trigeminal nerve anatomy and pathology. BJR 2001, 74:458-467.
ZVARTAU-HIND
ET AL. Topiramate relieves refractory trigeminal neuralgia in multiple sclerosis
patients. Neurology 2000, 55(10): 1587-1588.
