|
|
ĐIỀU
TRỊ ĐAU DÂY THẦN KINH SỐ V VÔ CĂN
BẰNG
PHƯƠNG PHÁP NHIỆT ĐÔNG TẠI HẠCH GASSER QUA DA
TS
Vơ Văn Nho, Khoa Phẫu thuật Thần kinh. Tŕnh bày trong Hội nghị khoa học lần IV của Hội Thần Kinh học Việt Nam. Vơ Văn Nho: Điều trị đau dây thần kinh số V vô căn bằng phương pháp nhiệt đông tại hạch Gasser qua da. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, Phụ bản của số 4 - năm 2003. Trang 121-130. Vo Van Nho: percutaneous controlled
radiofrequency trigeminal rhizotomy in the treatment of idiopathic trigeminal
neuralgia. Y hoc tp. Ho Chi Minh, special issue of neurology, vol. 7, supplement
of no 4. 2003: 121 - 124 Mục
tiêu: Đánh giá kết quả của phương pháp
nhiệt đông dây V tai hạch Gasser qua da . Với
410 bệnh nhân đau dây V vô căn đă được
phân tích và theo dơi trong thời gian từ 2 đến 27 tháng
.Phương pháp: Với 410 bệnh nhân đau dây
thần kinh vô căn được thực hiện 462
lần nhiệt đông dây V từ tháng 5 . 2001 đền
tháng 8 . 2003 . Có hai trường hợp đau dây V hai bên .
Phương pháp này được thực hiện cho
mọi lứa tuổi , tất cả đều được
kiểm tra tim mạch qua ECG hoặc siêu âm tim và kiểm
tra huyết áp trước khi thực hiện thủ
thuật này . Phương pháp được thực
hiện qua da đi vào lổ bầu dục để
thực hiện nhiệt đông tại hạch Gasser qua
tần số sóng radio của máy Radionics . Tất cả
bệnh nhân được làm CE CTScan đầu trước
khi làm thủ thuật . Kết quả : Thời gian
theo dơi từ 2 đến 27 tháng . Giảm đau ngay sau khi
đốt điện là 98% . Hết đau hoàn toàn trên 2
năm là 70% với đa số đốt điện 1
lần . 20,9% đạt kết quả tốt , 5,8% giảm
đau trên 50% và 3,2% đau lại như cũ . Đa
số các trường hợp tái phát được đốt
lại và có kết quả tốt . Vị trí đau bên
phải nhiều hơn bên trái . Đa số là đau dây
V3 hoặc dây V2 . Biến chứng thường gặp trong
phương pháp này là tê nhẹ nửa mặt , giảm
phản xạ giác mạc , yếu cơ nhai. Kết
luận: Phương pháp nhiệt đông dây V sử
dụng tần số sóng radio là một phương pháp
đơn giản , ít có biến chứng nguy hiểm , không
cần nằm viện và có hiệu quả ca, khi đau tái
phát có thể thực hiện lại phương pháp này
. ĐẶT
VẤN ĐỀ Đau
dây thần kinh số V vô căn là một thể thông thường
nhất của đau dây thần kinh trong sọ . Đau này
thường xuất hiện ở mặt , một cơn
đau kịch phát dữ dội này như là một
sự liên quan đến cảm giác bản thể của
dây V. Nguyên nhân của đau dây V thật ra chưa có
giải thích một cách đầy đủ , mặc dù
trong phẫu thuật giải áp vi mạch, nhiều tác
giả đă nhận thấy dây V đă bị mạch máu
chèn ép như là một nguyên nhân thông thường
nhất trong vùng góc cầu tiểu năo và đau đă dược
giăm sau khi bệnh nhân được giải áp vi
mạch. Điều
trị đau dây thần kinh số V hiện nay vẫn c̣n
tồn tại nhiều phương pháp như nhiệt
đông dây thần kinh số V tại hạch Gasser qua da
hoặc hủy diệt dây thần kinh bằng Glycerol . Các
nhà phẩu thuật thần kinh luôn chọn lựa một
phương pháp tối ưu nhất trong điều
trị đau dây thần kinh số V. Nhóm
nghiên cứu đă thực hiện phương pháp
nhiệt động dây V tại hạch Gasser qua da trên 2 năm
nay trong điều trị đau dây thần kinh số V. ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Giữa
2001 và 2003 , 410 trường hợp đă được
thực hiện 462 phương pháp nhiệt đông dây
thần kinh số V tại hạch Gasser qua da với máy
Radionics tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện
Chợ Rẫy. Tổng số 410 trường hợp đau
dây V vô căn , tất cả đă được điều
trị nội khoa với carbamazepin trong một thời gian
dài và có một số trường hợp có phối
hợp thuốc Diphenylhydantoin, châm cứu, cắt dây
thần kinh ngoại biên. Trong nghiên cứu này, carbamazepin là
loại thuốc đặc trị trong điều trị
đau dây thần kinh số V trước khi điều
trị phẫu thuậ . Trong số 410 bệnh nhân này, có
405 trường hợp dùng carbamazephin để kiểm soát
đau trong một thời gian và có đáp ứng tốt
trong giai đoạn đầu, sau đó thuốc này không
c̣n dung nạp nữa. Tất
cả 410 bệnh nhân này đă được làm CT Scan
đầu có cản quang hoặc cộng hưởng
từ để loại trừ bất cứ một thương
tổn nào trong vùng góc cầu tiểu năo, ở đỉnh
xương đá, xoang hang hoặc sàn so . Đa số các
bệnh nhân đau dây thần kinh số V đă được
làm chẩn đoán không phát hiện dâùu hiệu thần
kinh bất thường khác có liên quan đến dây V.
Điện tim và X-quang ngực được làm đầy
đủ để đánh giá trước khi phẫu
thuật. Phương
pháp này được áp dụng cho tất cả các
bệnh nhân lớn tuổi, không muốn thực hiện
giải phẫu vi mạch và cả những bệnh nhân có
t́nh trạng sức khỏe kém. Tất cả bệnh nhân
sau khi điều trị đốt điện tại
hạch Gasser qua da đă được theo dơi với
những câu hỏi để có những thông tin về
mức độ và khoăng thời gian hết đau
hoặc giảm đau và nhu cầu có thể điều
trị thêm hoặc những thông tin di chứng ngoại
khoa của phương pháp này. Người bệnh có
thể qua những câu hỏi đặt ra cho biết
sự cải thiện về t́nh trạng bệnh của
họ là hết đau hoàn toàn, giảm đau một
phần, giảm đau quá ít , không thay đổi hoặc
xấu hơn. KẾT
QUẢ Với
462 phương pháp nhiệt đông dây V tai hạch Gasser
qua da với 361 trường hợp ( 88,04%) đă được
điều trị một lần với phương pháp này
và 49 bệnh được điều trị nhiều
lần với phương pháp này . Có 42 trong số 49
bệnh nhân phải được thực hiện lần
2 ; cósáu bệnh nhân phải thực hiện ba lần và 4
lần cho một bệnh nhân. Giảm
đau ngay sau khi đốt điện là 98 % ,kết
quả nầy là một thành công bước đầu
của phương pháp. Đau tái phát sớm nhất là 2
tháng với 16 trường hợp, chậm hơn trên 6 tháng
với 46 trường hợp. Như vậy , đau tái phát
tổng cộng 52 trường hợp chiếm 12,68% mà
thời gian theo dơi trung b́nh là 8ø tháng. Trong
thời gian theo dơi lâu nhất là 27 tháng và ngắn
nhất 2 tháng, hết đau hoàn toàn sau phương pháp này
là 287 trường hợp ( 70% ), với 21% đă hết
đau nhưng thỉnh thoảng tái phát trong khoảng
thời gian rất ngắn nên chỉ cần dùng thuốc
với liều thấp không liên tục trong thời gian
theo dơi . Sau
khi thực hiện nhiệt động dây V tại
hạch Gasser qua da trong điều trị đau dây V,
phản xạ giác mạc giảm hoặc bị mất
chiếm tỉ lệ 4,1% với 17 bệnh nhân, trong số
này không có bệnh nhân nào bị viêm giác mạc. Bảng
1. Kết quả của 410 bệnh nhân được
thực hiện phương pháp nhiệt đông dây V
tại hạch Gasser qua da
Rối
loạn cơ nhai có 12 trường hợp trong tổng
số 410 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 2,9%, những
trường hợp này xảy ra ngay sau khi thực hiện
phương pháp và được cải thiện dần
sau một thời gian theo dơi. Có một bệnh nhân
liệt dây thần kinh số VI tạm thời. Không có
bệnh nhân nào bị ḍ dịch năo tủy hoặc bị
viêm màng
năo trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi. Một
số bệnh nhân có huyết áp tăng trong lúc thực
hiện phương pháp này, chiếm tỉ lệ 8%(32
bệnh nhân ). Không có trường hợp nào tử vong
trong 410 bệnh nhân. Biến chứng có liên quan đến
462 lần thực hiện phương pháp nhiệt đông
dây thần kinh số V tại hạch Gasser cho 410 bệnh
nhân. Bảng
2. Biến chứng liên quan đến phương
pháp nhiệt đông dây V tại hạch Gasser qua da trong 410
trường hợp
BÀN
LUẬN Đau
dây thần kinh số V thường xảy ra ở các
lỉnh vực đau sọ mặt. Những nhà lâm sàng thường
chẩn đoán phân biệt khi bệnh nhân có những cơn
đau buốt và thoáng qua , thông thường xảy ra
ở một hoặc hai nhánh của dây thần kinh số
V, hiếm khi đau cả 3 nhánh. Đau nầy xuất
hiện ở vùng nhỏ của nhánh dây thần kinh
số V chi phối. Đặc trưng của đau dây
thần kinh số V là xuất hiện đột ngột
khi đánh răng, trong khi ăn uống hoặc có
luồng gió thổi vào mặt, có khi xuất hiện lúc nói
chuyện, một cơn đau dữ dội như có
một điểm xuất phát (trigger zone), cơn thoáng qua
trong 10 giây cho đến một phutù, sau đó trở
lại hoàn toàn b́nh thường. Đau này được
Dandy quan sát đầu tiên là do nguyên nhân cấu trúc
mạch máu chèn khu vực rễ vào của dây V. Khi điều
trị đau dây thần kinh số V với các loại
thuốc Carbamazepin, Diphenylhydantoin … không kiểm soát
được đau, từ dó nhiều phương pháp
được đưa ra để cố gắng làm
giảm đau dây V như nhiệt động dây V tại
hạch Gasser qua da, giải áp vi mạch, dùng glycerol để
hủy dây V, sử dụng bong bóng để làm một chèn
ép nhỏ dây V, bởi v́ chèn ép vi mạch củng là
một nguyên nhân của đau dây V vô căn, do đó
giải áp vi mạch được xem là một phương
pháp điều trị thích hợp nhất mà nhiều tác
giả đă áp dụng. Trong
nhóm nghiên cứu của chúng tôi, đa số đau dây V
xuất hiện bên phải với 291 trường hợp,
chiếm 70,9%, dây V3 chiếm một tỉ lệ 30,7% và dây
V2V3 với 34,8% như nhận xét của nhiếu tác
giả. Trong giải áp vi mạch các báo cáo đă đề
cập đến tổn thương tiểu năo, mất
thính lực, ḍ dịch năo tủy như là một
biến chứng quan trọng trong một nhóm tác giă
với 4400 bệnh nhân. Trong nhóm nghiên cứu lớn khác cũng
đă đề cập đến nhồi máu tiểu năo,
ḍ dịch năo tủy và các biến chứng phổi sau
thực hiện giải áp vi mạch với tỉ lệ dưới
1%. Nhóm nghiên cứu với 410 trường hợp
nhiệt đông dây số V không có trường hợp nào
ḍ dịch và viêm màng năo. Nhiệt
đông dây số V là một phương pháp cho phép các
nhà phẩu thuật kiểm soát được khi đốt
và đốt có chọn lọc với nhiệt độ
từ 55-77 độä C qua tần số sóng radio. Một
trong những bước quan trọng của phương pháp
này là đưa kim xuyên qua lỗ bầu dục, vào vùng
sau giữa của lỗ bầu dục là lư tưởng
nhất. Phải sử dụng điện cực
đưa đến điểm cuối cùng để gây
thương tổn chọn lọc một cách dể dàng hơn.
Nếu kim đưa vào không thích hợp sẽ gây ra
biến chứng ḍ động mạch cảnh – xoang hang,
c̣n nếu đưa kim xuyên qua lỗ hốc mắt, đôi
khi gây mù mắt. Trên 2 năm thực hiện phương
pháp này, không có biến chứng xảy ra như đă nêu
trên trong nghiên cứu. Trong 410 bệnh nhân, đa số
gặp ở nữ nhiều hơn nam, bên phải ưu
thế hơn bên trái và dây V2, V3 chiếm đa số .3,7
Thời gian đau lâu nhất là trên 45 năm và ngắn
nhất là hai tháng, tuồi lớn nhất là 92 tuồi và
nhỏ nhất là 28 tuổi. Đa
số bệnh được thực hiện phương
pháp nầy một lần, chỉ có 49 trường
hợp thực hiện trên hai lần, trong số nầy có
ba trường hợp thực hiện ba lần.1,3,6,7 Phương
pháp nầy tuy hiệu quả không cao hơn so với phương
pháp giải áp vi mạch.6 Phương pháp nhiệt đông
dây V tại hạch Gasser được áp dụng cho
mọi lứa tuổi với điều kiện hệ
thống tim mạch không bị ảnh hưởng. Ngược
lại, phương pháp giải áp vi mạch thường
đựơc thực hiện cho những bệnh nhân dưới
60 tuổi nhưng có nhiều biến chứng nguy hiểm
hơn. Biến chứng gặp trong nhiệt đông dây V
qua da là tê nửa mặt, chiếm tỉ lệ 34% với
mức độ tê khác nhau so với nhiều tác giả
khác như Kanpolat,3 Alfelbaum,3 Samii6 cũng không khác biệt
nhiều. Giảm phản xạ giác mạc chiếm tỉ
lệ 2,8% so với Kanpolat chiếm một tỉ lệ 3%
trong 1600 bệnh nhân đă thực hiện 2138 phương
pháp nầy. Sau thực hiện phương pháp nầy,
tỉ lệ yếu cơ nhai là 3,9% so với Kanpolat là 3%,
tuy có yếu cơ nhai nhưng vẫn thực hiện
được chức năng ăn uống và sau sáu tháng
đă hồi phục dần. Một trường hợp
liệt dây VI đă hồi phục sau 8 tháng theo dơi. Trong
410 trường hợp đă thực hiện 462 phương
pháp nầy, chúng tôi không gặp trường hợp nào
viêm màng năo, ḍ dịch năo tuỷ so với Kanpolat3 có
một trường hợp viêm màng năo, hai trường
hợp ḍ dịch năo tủy. Trong nhóm nghiên cứu nầy
có 2 bệnh nhân đau dây V hai bên điều trị có
kết qủa tốt. KẾT
LUẬN Không
có một phương pháp chuẩn hay đơn độc
nào dành cho điều trị đau dây thần kinh V vô căn.
Vấn đề quan trọng nhất là phải chọn phương
pháp điều trị cho phù hợp với t́nh trạng
của bệnh nhân , phù hợp với tuổii tác và
loại đau dây V có thực sự điển h́nh hay không.
Phương pháp nhiệt đông tại hạch Gasser qua da
sử dụng tần số sóng radio là phương pháp ít
khả năng xâm lấn, không cần nằm viện, ít
tốn kém, có hiệu quả cao và phương pháp này có
thể làm lại nhiều lần nếu đau tái phát.
|