
(Dành
cho BS chuyên khoa Thần kinh)
ĐIỀU
TRỊ NGÀY NAY ĐỐI VỚI CÁC BỆNH LƯ THẦN KINH
CƠ
Lisa Kokontis, Ludwig Gutmann: Current
Treatment of Neuromuscular Diseases. Archives of Neurology, Vol 57, July 2000,
p.939-943.
Người dịch: BS. Tạ Vương
Khoa.
SUMMARY: Neuromuscular diseases are a
collection of all disorders of skeletal-striated muscle and peripheral nervous
system. They occupy a large setting and play an important role in neurology.
Research of neuromuscular diseases to find out any effective methods for
treatment is really wonderful and always challenge for medicine. The diseases
are caused from many reasons through various mechanisms, and not all of them are
treatable. This review hasn’t ambitious regarding to current treatment of all
but only some of them which are treatable immune-mediated neuromuscular
diseases.
20 năm qua đă đánh dấu
một bước tiến đáng kể trong việc điều
trị các bệnh lư thần kinh cơ qua trung gian miễn
dịch bởi 2 lư do: (1) các cơ chế bệnh sinh khác
nhau của bệnh đă được hiểu biết
cặn kẽ hơn, và (2) đă tiến hành nghiên cứu
và phát triển phương thức miễn dịch
trị liệu. Bài viết này đặt trọng tâm vào
các bệnh lư thần kinh cơ có thể điều
trị được, bao gồm cả bệnh xơ
cột bên teo cơ (ALS: amyotrophic lateral sclerosis) bởi các
phương pháp điều trị mới có thể làm
thay đổi diễn tiến của bệnh này. Bảng
1 phác thảo những phương thức miễn dịch
trị liệu khác nhau được sử dụng
phổ biến nhất hiện nay trong việc điều
trị các bệnh lư thần kinh cơ qua trung gian miễn
dịch.
Các
bệnh cơ do viêm:
3 bệnh cơ do viêm chính là viêm cơ
da (DM: dermatomyositis), viêm đa cơ (PM: polymyositis) và viêm cơ
thể vùi – chúng có các cơ chế bệnh sinh khác nhau.
Trong DM xảy ra một phản ứng miễn dịch
thể dịch phụ thuộc bổ thể đối
với các kháng nguyên c̣n chưa được xác định
nằm trên tế bào nội mạc. Trong PM, tế bào
nội cơ bị thâm nhiễm bởi vô số các
tế bào lympho T CD8 gây độc tế bào, kèm theo sự
xâm nhập của các tế bào lympho này và các đại
thực bào vào các sợi cơ không bị hoại tử.
Trong viêm cơ thể vùi, các yếu tố miễn
dịch học gây bệnh ít được hiểu
biết một cách cặn kẽ và thể bệnh này không
đáp ứng với miễn dịch trị liệu.
Corticosteroid là tác nhân chủ
lực trong việc điều trị các bệnh cơ do
viêm. Liều khởi đầu là 50-75 mg/ngày (1 mg/kg)
Prednisolone acetate hoặc Prednisone. Liều này có thể
được duy tŕ trong ṿng 4-6 tuần rồi đánh giá
hiệu quả điều trị bằng sức cơ và
mức độ gia tăng men creatine kinase (CK) trong máu.
Việc thử ngưng dùng thuốc nên được
thực hiện một cách từ từ trong thời gian vài
tháng nhằm tránh khả năng tái phát bệnh.
20-30% số bệnh nhân mắc DM
hoặc PM không có sự đáp ứng đầy đủ
với điều trị corticosteroid đơn thuần.
Methotrexate (liều khởi đầu 7.5-10 mg/tuần và tăng
2.5 mg/tuần/tháng đến liều 20 mg/tuần) hoặc
Azathioprine (2-3 mg/kg/ngày) là các tác nhân thường
được lựa chọn thứ hai. Không có dữ
liệu so sánh có giá trị nào chứng minh được
tác nhân nào trong 2 tác nhân trên là tốt hơn. Mỗi 1
trong số 2 tác nhân nói trên có thể được
sử dụng như là các tác nhân "không steroid"
(steroid-sparing) để điều trị cho các bệnh nhân
mà ở họ, nếu như corticosteroid liều cao kéo dài
được sử dụng, th́ có khả năng gây nên
những tác dụng phụ không thể chấp nhận
được. Phối hợp 2 tác nhân nói trên với
corticosteroid làm giảm thiểu những biến chứng do
việc điều trị thuốc lâu ngày khi so sánh
với sử dụng corticosteroid đơn thuần.
Trong trường hợp không có
sự đáp ứng đầy đủ với điều
trị, các tác nhân khác có thể cần được
sử dụng. Một nghiên cứu mở đă cho
thấy rằng Cyclosporine (5 mg/kg/ngày) có hiệu quả tương
đương với Prednisolone và Azathioprine trong việc làm
thuyên giảm triệu chứng một phần hoặc hoàn
toàn. 2 nghiên cứu sử dụng Cyclophosphamide đường
tĩnh mạch th́ cho ra các kết quả trái ngược
nhau. Chlorambucil (4 mg/ngày) có thể có hiệu quả đối
với các trường hợp DM kháng thuốc.
Mức độ đáp ứng
với điều trị bằng Immunoglobulin đường
tĩnh mạch (IVIG) lại khác nhau qua một vài nghiên
cứu. Không có một liều lượng chính xác nào
được qui định nhưng trong thực hành ngày
nay người ta sử dụng liều 400 mg/kg/ngày x 5 ngày,
sau đó là 400 mg/kg/ngày x 3 ngày/tháng x 3-6 tháng. Triệu
chứng sẽ được cải thiện rơ ràng sau
liều thứ 1 hoặc thứ 2. Ngày nay người ta
đă chứng minh rằng thay huyết tương
(plasmapheresis) không phải là phương pháp điều
trị DM hoặc PM.
Không giống như PM và DM, viêm cơ
thể vùi đáp ứng kém hơn nhiều đối
với điều trị ức chế miễn dịch.
Trong một nghiên cứu hồi cứu ở 25 bệnh nhân
bị viêm cơ thể vùi, 40% cho rằng họ có cải
thiện với điều trị bằng Prednisolone và 20%
cho rằng họ có cải thiện với điều
trị bằng Azathioprine hoặc Methotrexate. Uống
corticosteroid đơn thuần hoặc phối hợp
corticosteroid với một tác nhân "không steroid" trong
2-6 tháng có thể là cách điều trị hợp lư.
Các
bệnh lư viêm đa dây thần kinh có hủy myelin do viêm:
Hội chứng Guillain-Barré và viêm
đa dây thần kinh có hủy myelin do viêm mạn tính là các
bệnh lư thần kinh cấp và bán cấp/mạn tính
được đặc trưng bởi sự hủy
myelin qua trung gian miễn dịch. Chúng khác nhau về
thời gian kéo dài triệu chứng và sự đáp
ứng với điều trị. Trong hội chứng
Guillain-Barré, mục tiêu điều trị là sớm làm
giảm phản ứng viêm, giảm tử suất và
cải thiện tiên lượng. Trong viêm đa dây
thần kinh có hủy myelin do viêm mạn tính, mục tiêu
điều trị là ức chế phản ứng miễn
dịch đang lưu hành. Corticosteroid không giúp ngăn
chặn diễn tiến của bệnh hoặc thúc đẩy
quá tŕnh hồi phục, ngoại trừ việc nó làm
giảm triệu chứng đau lưng dữ dội mà
nhiều bệnh nhân mắc phải.
Thay huyết tương trong ṿng 2
tuần đầu tiên của bệnh đă cho thấy có
hiệu quả trong các thử nghiệm ở Bắc
Mỹ và ở Pháp. Thời gian nhờ cậy vào thông khí
cơ học hoặc thời gian trung b́nh để
bệnh nhân có thể tự đi lại được
gia giảm. Tuy nhiên, trong cả 2 thử nghiệm, nhiều
bệnh nhân cần có 1 hoặc nhiều hơn 1 đợt
thay huyết tương đă phải ngưng lại v́
họ mắc phải biến chứng (do thay huyết tương).
IVIG thay thế cho thay huyết tương là cách điều
trị hợp lư, các nghiên cứu đă được
công bố cho thấy rằng hiệu quả của IVIG là
tương đương hoặc tốt hơn cả thay
huyết tương. Bệnh cảnh của nhiều
bệnh nhân sẽ vẫn tiếp tục nặng lên sau khi
đă được điều trị bằng liệu tŕnh
hoàn chỉnh IVIG (18%) hoặc thay huyết tương (17%).
Khoảng 10% bệnh nhân có thể có cải thiện ban
đầu với điều trị bằng IVIG hoặc
thay huyết tương và rồi triệu chứng tồi
tệ đi. Lập lại một liệu tŕnh tương
tự nên được áp dụng trong t́nh huống như
thế. IVIG hoặc thay huyết tương được
áp dụng khi bệnh nhân không tự đi lại
được hoặc khi có suy hô hấp đáng kể.
Hiệu quả của corticosteroid
trong việc điều trị viêm đa dây thần kinh có
hủy myelin do viêm mạn tính đă được minh
chứng rơ ràng, với hiệu quả đạt
được ở 95% bệnh nhân. 70% bệnh nhân tái phát
bệnh sau khi ngưng sử dụng corticosteroid. Liều
khởi đầu thông thường của Prednisone là
0.5-1 mg/kg rồi giảm dần đến liều thấp
nhất có hiệu quả. Giai đoạn giảm liều
Prednisone có thể trở nên dễ dàng hơn khi có sử
dụng Azathioprine (2-3 mg/kg/ngày). Thay huyết tương và
IVIG đă được chứng minh là có lợi ở
80% bệnh nhân, không có một ưu thế rơ ràng nào
giữa phương thức này với phương
thức kia trong 2 phương thức trên. Trở ngại
chính của việc điều trị IVIG và thay huyết
tương là giá thành cao và nguy cơ phát sinh những
biến chứng nghiêm trọng. Corticosteroid th́ không đắc
tiền nhưng gây tác dụng phụ đáng kể khi
sử dụng kéo dài.
Mức độ biểu hiện
triệu chứng ngay tại thời điểm thăm khám
có thể quyết định phương thức điều
trị. Nếu bệnh nhân không thể đi lại
được th́ IVIG sẽ nhanh chóng làm b́nh ổn và
cải thiện triệu chứng, thường là trong ṿng
1 tuần đầu. Tiếp sau đó có thể sử
dụng corticosteroid trong 7 tuần để đạt
được hiệu quả. Khả năng tái phát có
thể xảy ra sau giai đoạn lui bệnh do điều
trị IVIG. Bác sĩ và bệnh nhân phải lựa
chọn giữa việc tiếp tục điều trị
thêm bằng IVIG với việc khởi đầu điều
trị bằng Prednisone. Liều lượng và cách sử
dụng IVIG ở mỗi bệnh nhân mỗi khác nhau, nhưng
liều khởi đầu hợp lư là 400 mg/kg/ngày x 5 ngày.
Khi triệu chứng tái phát, có thể bổ sung bằng
liều 400 mg/kg/2-4 tuần tùy thuộc vào mức độ
tái phát trên lâm sàng. Cyclosporine (3-5 mg/kg/ngày) và gần đây
nhất là Interferon alfa-2a đă được báo cáo là có
hiệu quả điều trị các trường hợp
viêm đa dây thần kinh có hủy myelin do viêm mạn tính
kháng trị đối với các phương pháp điều
trị thông thường.
Viêm dây
thần kinh vận động đa ổ:
Viêm dây thần kinh vận động
đa ổ được đặc trưng bởi t́nh
trạng yếu cơ ngọn chi không đối xứng.
Sự hiện diện của kháng thể kháng GM1 trong
thể bệnh này đă được mô tả rơ ràng và
chính sự hiện diện của kháng thể đó có
thể đă mang đến câu trả lời về cơ
chế miễn dịch trong sinh bệnh học của
bệnh. Bất thường trên điện cơ bao
gồm: block dẫn truyền ở dây thần kinh vận
động, co giật bó cơ (fasciculation) và hiện tượng
phóng điện rung cơ (myokimic discharge).
Bởi v́ cơ chế của viêm
dây thần kinh vận động đa ổ dường
như là qua trung gian miễn dịch nên một vài phương
pháp điều trị hướng đến việc
điều chỉnh đáp ứng miễn dịch đă
được thử áp dụng. Hầu hết các nghiên
cứu chỉ tiến hành trên mẫu nhỏ bệnh nhân
và không có sự kiểm chứng trên placebo. Thay huyết tương
và điều trị bằng corticosteroid dường như
không hiệu quả và sau này c̣n có thể làm cho bệnh
trở nặng nhanh hơn.
3 thử nghiệm sử dụng
IVIG cho thấy hiệu quả chỉ là nhất thời.
Hầu hết bệnh nhân được nghiên cứu
đều không cho thấy có sự cải thiện về
chuẩn độ kháng thể GM1 và chỉ có một vài
bệnh nhân có cải thiện trên kết quả điện
cơ.
Cyclophosphamide là phép điều
trị được chọn lựa trong các trường
hợp thất bại với IVIG hoặc để hạn
chế bớt việc sử dụng IVIG. Sự dung nạp
Cyclophosphamide tương đối lành tính ở nhiều
bệnh nhân đă cho phép tŕ hoăn sử dụng IVIG trong
một thời gian dài cho đến khi bệnh cảnh
trở nặng trên lâm sàng đ̣i hỏi phải sử
dụng đến nó.
Các
bệnh lư neuron vận động:
Các bệnh lư neuron vận động
bao gồm: liệt hành tủy tiến triển, teo cơ
tủy sống tiến triển, ALS, bệnh neuron vận
động hành năo-tủy sống (hội chứng Kennedy)
và xơ cột bên nguyên phát. Các thử nghiệm điều
trị qui mô lớn hướng vào ALS.
Không có cách điều trị
hữu hiệu đối với ALS. Riluzole liều 50 mg x 2
lần/ngày là thứ thuốc đầu tiên được
ghi nhận dùng để trị bệnh. Cơ chế
hoạt động của thuốc có liên quan đến
block không cạnh tranh với các thụ thể N-methyl
D-aspartate, ức chế phóng thích glutamate, bất hoạt các
kênh sodium phụ thuộc điện thế tại các
đầu tận thần kinh glutaminergic. Có sự cải
thiện có ư nghĩa thống kê về tỉ lệ
sống sót ở những bệnh nhân được điều
trị bằng Riluzole so với nhóm placebo, trong đó
sự cải thiện đáng kể nhất xảy ra
ở những bệnh nhân khởi phát triệu chứng
tại hành năo. Trong t́nh huống khả quan nhất,
tỉ lệsống sót tăng thêm khoảng vài tháng. Các
thuốc khác gồm Gabapentin, Ascorbic acid, vitamin E vàbeta
Carotene không được chứng minh là có hiệu
quả.
Các yếu tố tăng trưởng
neuron vận động tiềm ẩn khả năng làm
gia tăng sự sống sót của neuron vận động
trên các súc vật thực nghiệm trong suốt thời
kỳ tăng trưởng và trưởng thành ban đầu.
Có 4 loại yếu tố tăng trưởng đă
được nhận dạng là: các neurotrophin (yếu
tố tăng trưởng nguồn gốc từ năo,
neurotrophin 3, neurotrophin 4), các cytokine (yếu tố dinh dưỡng
tế bào thần kinh ở thể mi, yếu tố ức
chế leukemia, cardiotrophin-1), yếu tố tăng trưởng
biến đổi (yếu tố dinh dưỡng tế bào
thần kinh nguồn gốc tế bào đệm và
neuroturin), các yếu tố tăng trưởng giống
insulin I và II (bảng 2). 2 thử nghiệm về tác
dụng của yếu tố dinh dưỡng tế bào
thần kinh ở thể mi người sau khi đă
được tái tổ hợp có kiểm chứng trên
placebo không cho thấy bất kỳ một hiệu quả
nào. Một yếu tố tăng trưởng neuron vận
động thứ hai là yếu tố tăng trưởng
giống insulin ở người sau khi đă được
tái tổ hợp khi dùng liều cao có tác dụng làm
chậm tốc độ diễn tiến của bệnh nhưng
hiện nay nó vẫn c̣n đang ở trong ṿng nghiên
cứu.
Vào thời điểm này, vấn
đề quan trọng nhất trong săn sóc bệnh nhân
ALS là điều trị nâng đỡ. Chứng nuốt khó
(dysphagia) đ̣i hỏi phải được bổ sung thêm
chế độ ăn và sau này là nuôi ăn bằng
mở thông dạ dày ra da. Suy hô hấp là nguyên nhân thông
thường gây tử vong.
Bệnh
nhược cơ (MG):
Cơ sở của việc điều
trị bằng ức chế miễn dịch trong MG dựa
trên bằng chứng các kháng thể kháng với thụ
cảm thể acetylcholine là nguyên nhân gây nên khiếm
khuyết dẫn truyền thần kinh cơ trong bệnh.
Điều trị bằng chất ức chế miễn
dịch phối hợp với các phương thức
ở nấc cao hơn gồm thông khí cơ học và kháng
sinh đă làm giảm đáng kể sự tiến
triển của bệnh và tử vong do bệnh gây ra. Các
phương thức điều trị có thể được
phân chia thành 2 nhóm đối nghịch nhau: một nhóm có
hiệu quả tức th́ nhanh nhưng thời gian kéo dài tác
dụng ngắn; c̣n nhóm kia chậm có hiệu quả
tức th́ nhưng thời gian duy tŕ tác dụng lại kéo
dài.
Sử dụng các chất ức
chế men acetylcholinesterase sẽ làm cản trở quá tŕnh
thủy phân acetylcholine tại khớp nối thần kinh cơ,
cho phép có nhiều acetylcholine hơn tiếp xúc với
thụ cảm thể. Chúng làm giảm triệu chứng
ở hầu hết bệnh nhân, đôi khi giảm một
cách đầy ngoạn mục, nhưng hiếm khi chúng duy
tŕ tác dụng trong một thời gian dài. Các chất
ức chế men acetylcholinesterase thường dùng nhất là
Pyridostigmine bromide (15-60 mg/4-6 giờ) và Neostigmine bromide (7.5-15
mg/4-6 giờ). Tác dụng phụ thường gặp
nhất là tăng nhu động ruột và tăng tiết
dịch ở miệng và đường hô hấp.
Một khi các tác dụng phụ này gây nhiều phiền
toái th́ sử dụng Atropine thường sẽ giải
quyết được.
Thay huyết tương khiến
triệu chứng được cải thiện nhanh nhưng
thời gian duy tŕ tác dụng tương đối
ngắn. Sự cải thiện triệu chứng có mối
liên hệ với sự gia giảm chuẩn độ kháng
thể. Phác đồ thường dùng là thay 1 thể tích
huyết tương mỗi ngày hoặc cách ngày x 5
hoặc 6 lần. Hiệu quả có thể thấy
được ngay sau 24 giờ. Hiệu quả điều
trị hiếm khi kéo dài quá 10 tuần trừ khi có
phối hợp thêm với diều trị bằng ức
chế miễn dịch. Những hạn chế chính
của điều trị thay huyết tương bao
gồm hạ huyết áp, giảm các yếu tố đông
máu, khó khăn trong việc t́m đường vào mạch
máu, các biến chứng do sử dụng các phương
tiện gây xâm lấn và chi phí cho điều trị.
Phương thức điều
trị khác có thể áp dụng cho đợt tiến
triển nặng của MG là IVIG. Chỉ định dùng
IVIG tương tự như chỉ định thay
huyết tương. Liều chuẩn của IVIG là 400
mg/kg/ngày x 5 ngày liên tiếp. Một nghiên cứu gần
đây gợi ư rằng hiệu quả IVIG và thay huyết
tương là như nhau. Tuy nhiên đă có các báo cáo
về những bệnh nhân không đáp ứng với
điều trị bằng IVIG nhưng lại đáp
ứng với điều trị bằng thay huyết tương.
Chính v́ lư do này mà thay huyết tương có thể là
sự lựa chọn khởi đầu tốt nhất
trong trường hợp có cơn nhược cơ
(crisis), c̣n IVIG dành cho những trường hợp không
dung nạp với thay huyết tương.
Những thứ thuốc được
sử dụng ngày nay để điều trị dài
hạn MG bao gồm corticosteroid, Azathioprine, Cyclophosphamide và
Cyclosporine. Corticosteroid là thứ thuốc điều trị
chủ lực. Đáp ứng điều trị thường
bắt đầu trong ṿng 2-3 tuần ở ít nhất 70%
bệnh nhân. Bệnh nhân vẫn c̣n biểu hiện
triệu chứng dù đang sử dụng chất ức
chế men cholinesterase là những người đ̣i
hỏi phải được điều trị bằng
corticosteroid. Cần phải thận trọng trong khi điều
trị bằng corticosteroid bởi v́ đă có bằng
chứng rơ ràng về sự nặng lên của bệnh
suốt 5-7 ngày đầu khi dùng corticosteroid liều cao.
Trong một cố gắng để tránh mắc phải
hiện tượng nặng lên thoáng qua này, người
ta có thể khởi đầu với liều 20-25 mg
Prednisone mỗi ngày hoặc cách ngày và tăng 5.0-12.5 mg
mỗi 2-5 ngày.
Azathioprine 2-3 mg/kg/ngày là tác nhân không
phải steroid cho phép giai đoạn giảm dần
liều corticosteroid diễn ra nhanh hơn và nó hữu ích
trong các trường hợp đáp ứng không đầy
đủ với điều trị bằng corticosteroid và
cắt tuyến ức hay không hội đủ tiêu
chuẩn để áp dụng các phương pháp điều
trị này. Tác dụng phụ của nó th́ nhẹ, bao
gồm cả tác dụng làm tăng men gan và ức chế
tủy xương là các tác dụng phụ đ̣i hỏi
phải được theo dơi định kỳ. Cải
thiện trên lâm sàng thường bắt đầu
được nhận thấy trung b́nh là sau 6 tháng, c̣n
hiệu quả tối đa đạt được sau
12-36 tháng. Khả năng sinh con quái thai đă làm hạn
chế việc sử dụng Azathioprine ở những
phụ nữ đang mong muốn có con.
Cyclosporine được sử
dụng cho những bệnh nhân đáp ứng kém với các
phương pháp điều trị khác. Liều thông thường
(3-6 mg/kg/ngày chia làm 2 lần) sẽ đạt được
nồng độ thuốc trong máu là 100-150 m g/L. Triệu
chứng bắt đầu cải thiện sau 2 tuần,
đạt đến hiệu quả tối đa trung b́nh
là sau 3-4 tháng. Lợi thế của việc điều
trị bằng Azathioprine là hiệu quả lâm sàng đạt
được sau một thời gian ngắn hơn so
với các phương pháp điều trị khác. Tác
dụng phụ đáng kể của Cyclosporine bao gồm
đau đầu, nhiễm độc thận, tăng
huyết áp. Cyclosporine là một trong những thuốc
ức chếmiễn dịch đắc tiền nhất.
Cyclophosphamide là một lựa
chọn điều trị có hiệu quả khác với
cải thiện lâm sàng bắt đầu đạt
được trong ṿng 1 tháng. Liều thông thường là
3-5 mg/kg/ngày bằng đường uống, có thể
khởi đầu trước đó bằng liều 200
mg/ngày x 5 ngày dùng đường tĩnh mạch.
Mối liên quan giữa u tuyến
ức và tăng sản tuyến ức với MG đă
dẫn đến việc sử dụng phương pháp
cắt tuyến ức trong điều trị MG và bệnh
nhân có thể có cải thiện đáng kể hoặc lui
bệnh hoàn toàn sau khi cắt tuyến ức. Kỹ
thuật tốt nhất là dùng đường mổ qua xương
ức, cắt bỏ toàn bộ mô tuyến ức.
Lựa chọn phép điều
trị nào đối với MG nên dựa trên từng
bệnh nhân cụ thể, bao gồm triệu chứng mà
họ than phiền, mức độ yếu cơ, tuổi
tác, các bệnh lư phối hợp. Nói chung, nhược cơ
ổ mắt đơn thuần nên được khởi
đầu điều trị bằng các thuốc ức
chế men cholinesterase, triệu chứng đă được
cải thiện ở nhiều bệnh nhân. Nếu vẫn
c̣n triệu chứng th́ có thể phải cần đến
các thuốc ức chế miễn dịch như
corticosteroid hay Azathioprine hay cả 2. Sử dụng thuốc
ức chế men cholinesterase có thể đem lại một
số kết quả trong nhược cơ toàn thể, nhưng
sự tiến triển nặng lên của triệu
chứng hoặc cơn nhược cơ có thể
xuất hiện nếu như phản ứng miễn
dịch không được khống chế. Cắt
tuyến ức cần được xét đến ở
tất cả bệnh nhân bị nhược cơ toàn
thể, chỉ định tốt nhất là ở bệnh
nhân trẻ tuổi, khỏe mạnh, mới được
chẩn đoán gần đây (<2 năm). Nói chung,
bệnh nhân cũng được khởi đầu
bằng Prednisone (60-80 mg/ngày). Bổ sung bằng Azathioprine
cho phép việc ngưng corticosteroid được sớm hơn.
Những bệnh nhân có chức năng hô hấp hạn
chế nên được khởi đầu điều
trị corticosteroid trong môi trường nội trú bệnh
viện và cân nhắc xem xét sử dụng thay huyết tương
hoặc IVIG trước khi điều trị corticosteroid.
Hội
chứng nhược cơ Lambert-Eaton:
Hội chứng nhược cơ
Lambert-Eaton thường có liên hệ với ung thư
biểu mô tế bào yến mạch (oat cell carcinoma)
hoặc với các bệnh lư tự miễn mà trong đó
các kháng thể hoạt động hướng vào các kênh
calcium nhậy cảm với ḍng điện.
Điều trị phải dựa
trên đặc thù của từng bệnh nhân cụ
thể, bao gồm mức độ nghiêm trọng của
triệu chứng, triển vọng kéo dài thêm tuổi
thọ và những bệnh lư phối hợp khác. Một
khi chẩn đoán đă được củng cố
bằng điện cơ th́ phải tiến hành khám xét
toàn diện để phát hiện bệnh lư ác tính
tiềm ẩn là nguyên nhân gây bệnh. Nếu lúc đầu
không t́m được khối ung thư th́ một đợt
tiến hành theo dơi khác trong 3-6 tháng đảm bảo
sẽ t́m ra. Điều trị khởi đầu nên hướng
đến việc điều trị bệnh lư ác tính gây
bệnh bởi v́ yếu cơ thường được
cải thiện khi khối ung thư được điều
trị hiệu quả.
Sử dụng thuốc ức
chế men cholinesterase, liều lượng giống như
trong MG, có thể có hiệu quả trong hội chứng nhược
cơ Eaton-Lambert, cho dù nó không được ngoạn
mục như trong MG. Chất 3,4-Diaminopyridine làm tăng phóng
thích acetylcholine và có thể làm cải thiện đáng
kể triệu chứng ở liều 5-25 mg x 3-4 lần/ngày.
Hiệu quả điều trị của 3,4-Diaminopyridine
được tăng lên khi có phối hợp với
Pyridostigmine. Tác dụng phụ của nó không đáng
kể, bao gồm dị cảm đầu chi và quanh
miệng, đau thượng vị, mất ngủ. Vài
bệnh nhân có tác dụng phụ động kinh và có
thể được khống chế bằng cách giảm
liều thuốc hoặc dùng thuốc chống co giật.
Đối với những bệnh
nhân bị nhược cơ nặng, Prednisone (60-80 mg/ngày)
và Azathioprine (2-3 mg/kg/ngày) là những thuốc ức
chế miễn dịch thường dùng nhất, có
thể dùng đơn độc hoặc phối hợp.
Cyclosporine (5-6 mg/kg/ngày chia làm 2 lần) có thể sử
dụng điều trị cho những trường hợp
không đáp ứng với Azathioprine, khi sử dụng
cần phải thường xuyên kiểm tra nồng độ
thuốc trong máu (mục tiêu là đạt được
nồng độ 100-150 mg/L) và định lượng Urea
nitrogen, Creatinin trong máu.
Cũng đă có báo cáo về
sự cải thiện triệu chứng khi điều
trị bằng thay huyết tương và IVIG, nhưng
hiệu quả của chúng th́ chỉ ngắn hạn
trừ khi có sử dụng các thuốc ức chế
miễn dịch, và việc điều trị bổ sung như
vậy thường là cần thiết để duy tŕ
hiệu quả. Giai đoạn cải thiện triệu
chứng có thể kéo dài lâu và lâu hơn nữa sau
mỗi đợt điều trị.
Bảng 1: Các liệu pháp
miễn dịch thường sử dụng nhất trong
điều trị các bệnh thần kinh cơ qua trung
gian miễn dịch
|
Thuốc
|
Hoạt
tính
|
Tác
dụng phụ
|
Theo
dơi
|
|
Corticosteroid
|
Phạm
vi ảnh hưởng rộng lên cả tế bào T và
B
|
Tăng
huyết áp, tiểu đường, béo ph́, loăng xương,
đục thủy tinh thể
|
Huyết
áp, Glucose, máu, cân nặng |
|
Azathioprine
|
Tương
tự Purine ức chế DNA và RNA
|
Nhiễm
độc gan, ức chế tủy xương, có
khả năng gây bệnh lư ác tínhmuộn |
LTF và
CBC |
|
Cyclosporine
|
Ức
chế sản sinh và phóngthích Interleukin 2; block hoạt
tính của tế bào T giai đoạn sớm
|
Nhiễm
độc gan, tăng huyết áp, đau đầu
|
Huyết
áp, Creatinin, Urea nitrogen, LTF, CSA |
|
Cyclophosphamide
|
Tác nhân
alkyl hóa tác động lên sự tăng trưởng
của tế bào T nguyên phát
|
Viêm bàng
quang xuất huyết, ức chế tủy xương,
vô sinh, gây bệnh lư ác tính muộn
|
CBC và
liều thuốc tích lũy
|
|
Chlorambucil
|
Tác nhân
alkyl hóa
|
Ức
chế tủy xương và vô sinh
|
CBC |
|
Methotrexate
|
Chất
chống chuyển hóa
|
Ức
chế tủy xương và nhiễm độc gan |
CBC và
LTF
|
|
IVIG
|
Điều
biến các Cytokines và ức chế phóng thích sản phảm trước
phản ứgn viêm của tương tác bổ thể - kháng thể chuyên
biệt
|
Đau
đầu, ớn lạnh, sốt, suy giảm
chức năng thận, có thể gây tăng đông máu,
giảm bạch cầu thoáng qua, viêm màng năo vô
khuẩn, sốc phản vệ nếu
khiếm khuyết IgA
|
IgA và
Creatinin lúc khởi đầu điều trị
|
|
Thay huyết
tương
|
Loại
bỏ các kháng thể và các phức hợp miễn
dịch
|
Hạ
huyết áp, giảm yếu tố đông máu, giảm
albumin trong máu,hạ calci máu, hư hại mạch máu
|
HA,
fibrinogene, PT và PTT
|
|
Neurotrophins*
|
|
|
|
LTF: liver function test (xét nghiệm
chức năng gan); CBC: complete blood cell count (công thức máu);
CSA: Cyclosporine blood levels (nồng độ Cyclosporine trong máu);
PT: prothrombin time (thời gian prothrombin); PTT: partial thromboplastin
time (thời gian thromboplastin từng phần); * xem ở
bảng 2.
Bảng 2: Các loại yếu
tố tăng trưởng neuron vận động (Motor
Neuron Growth Factor)