
TRẠNG
THÁI ĐỘNG KINH
Tiến
sỹ Vũ Anh Nhị, Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
Abstract
Status
epilepticus is a medical emergency that requires prompt diagnosis and treatment.
Effective therapi should be
initiated as soon as the diagnosis is made, and the possible etiologies should
be evaluated and treatment. Generalized convulsive status includes tonic-clonic
seizures (gran mal) with either a partial or generalized onset.
Treatment
Sequence:
1.Diagnose
status epilepticus .2. Monitor & assure adequate vital functions, 3.Insert
IV catheter; draw blood for lab. Tests; KVO with normal saline,4. Give vitamine
B1 & glucose,
5.Administer
IV lorazepam or diazepam, 6. Give IV phenyltoin, 7 If status persists, intubate
& give IV phenobarbital , .
Tóm
tắt:
Trạng
thái động kinh một t́nh trang cấp cứu cần
thiết phải có chẩn đoán sớm và điều
trị tích cực. Kết quả điều trị
phụ thuộc vào chẩn
đoán đầu tiên, cơ chế sinh bệnh để
lượng giá và điều trị. Thể lâm sàng thường
gặp trong trạng thái động kinh là co giật toàn
thể từ t́nh trạng động kinh cục bộ hay
động kinh toàn thể.
Những
tŕnh tự các bước điều trị:
1.Chẩn
đoán trạng thái động kinh, 2 .Theo dỏi và đánh
giác chức năng sinh tồnm 3. Đặt đường
tĩnh mạch, lấy máu xét nghiệm và truyền normal
saline,4. Cho vitamine B1 & glucose, 5.Truyền TM lorazepam, diazepam,
6.Truyền phenytoin, 7.Nếu co giật c̣n kéo dài thí dùng
phenobarbital TM
*
* * * *
Trạng
thái động kinh là một t́nh trạng cấp cứu mà
ở đó cần phải tiến hành khẩn cấp
những kỹ thuật nhằm đưa bệnh nhân ra
khỏi t́nh trạng co giật và mất ư thức.
Thuật
ngữ trạng thái động kinh (statuts epilepticus) chỉ
tất cả các cơn động kinh tồn tại
thời gian dài hoặc lặp lại có khoảng cách
gần nhau giữa các cơn, đều tạo ra t́nh
huống động kinh mạnh và kéo dài. Giữa các cơn
có thể duy tŕ các trạng thái khác nhau như mất ư
thức, hôn mê trong các cơn động kinh toàn thể kéo
dài trên 30 phút đến 1 giờ , khiếm khuyết
về thần kinh trong các cơn động kinh cục
bộ.
Khái
niệm “Cơn liên tiếp” ( các cơn lấn vào nhau,
cơn này tiếp cơn khác trong đó cơn sau bắt
đầu trước khi cơn trước kết thúc hoán
toán. Trong lâm sàng th́ cơn liên tiếp đồng nghĩa
với trạng thái động kinh (P.Thomas, P. Genton)
Thuật
ngữ “cơn hàng loạt” , là t́nh trạng các cơn
tiếp diễn, cơn này tiếp cơn khác với
trạng thái tĩnh b́nh thường giữa các cơn.
Trong thực hành lâm sàng ,sự lặp đi, lặp
lại các cơn có thể báo hiệu trong thời gian
ngắn sẽ h́nh thành trạng thái động kinh( thường
cơn động kinh cục bộ , giật cơ…
Phân
loại triệu chứng học trạng thái động
kinh
Các
trang thái động kinh rất không đồng nhất ví
chúng có rất nhiều biểu hiện khác nhau về
triệu chứng học. Tính chất khởi phát,
triệu chứng khở đầu mà lâm sàng không
diễn tả hết. Để phù hợp phân loại
quốc tế của các cơn động kinh cũng như
tần xuất của các loại triệu chứng. Chúng tôi
đưa ra phân loại trạng thái động kinh
của Thomas, Rutecki (1997)
Điều
tra về các nguyên nhân đối với trạng thái
động kinh nhiều tác giả nhấn mạnh đến
như một tai biến xảy ra trên một người
động kinh đă biết, coi đây là biểu
hiện khác thường cần phải tiến hành t́m
nguyên nhân phát động (nhiễm trùng, hạ đường
huyết, hạ natri huyết, t́nh trạng điều
trị hay ngưng thuốc …). Một vài bệnh nhân có
thể là cơn lần đầu hay không rơ nguyên nhân
(Bảng 1)
Bảng
1 : Phân loại trạng thái động kinh
|
1.Cơn
động kinh toàn thể
-Cơn
co- giật
-Cơn
co cứng
-Co
giật
-Động
kinh tiềm ẩn
|
|
2.Không
co giật
-Mất
ư thức
-Động
kinh cục bộ phức tạp
|
|
3.Động
kinh cục bộ đơn giản
-Động
kinh cục bộ vận động liên tiếp
-Động
kinh đơn thuần cảm giác
-Aphasia
|
Co
giật toàn thể bao gồm co giật (clonic) – co
cứng (tonic), động kinh cơn lớn và động
kinh cục bộ toàn thể hóa. Trạng thái co giật
– co cứng được định nghĩa khi cơn
co giật xảy ra ư thức bệnh nhân không tỉnh
lại giữa các cơn. Sự co giật liên tiếp kéo
dài hơn 30 phút tạo ra trạng thái động kinh, tuy
nhiên khi cơ co giật khoảng 10 phút phải tiến hành
điều trị. Những biểu hiện lâm sàng đôi
khi là co cứng, co giật giật cơ hay dạng
tiềm ẩn chỉ biểu hiện cử động hay
nháy mắt.
Trạng
thái động kinh tiềm ẩn lâm sàng có khi chỉ
biểu hiện cử động, nháy mắt, cơn
thực vật (tăng tiết nước bọt, cơn hô
hấp, nhịp nhanh, mặt đỏ) những bệnh nhân
này chẩn đoán lâm sàng kết hợp với EEG ghi
trong cơn hay theo dơi monitor. T́nh trạng này được
đánh giá ở giai đoạn cuối với thời
gian mất ư thức nếu không được điều
trị th́ tử vong khoảng trên 50% ca.
Trạng
thái giật cơ : Trong trạng thái giật cơ có
thể là triệu chứng của bệnh năo nhiễm
độc, hoặc chuyển hoá xảy ra trong khuôn khổ
môt động kinh tiến triển.
Trạng
thái động kinh không co giật, mà trên thực hành lâm
sàng thường là các cơn động kinh vắng ư
thức và cơn động kinh cục bộ phức
tạp. Cơn vắng ư thức thường gặp
trẻ em, liên quan đến ngủ lịm, chậm
chạp sau cơn, chức năng vỏ năo suy giảm, nháy
mắt liên tục, giật các cơ hàm là triệu
chứng thường thấy, hiếm gặp giật cơ
hay co giật. Trong cơn EEG có các sóng bật thường
với các gai nhọn, sóng chậm đa pha, điều
trị với lorazepam cắt cơn rất hiệu quả.
Cơn động kinh cục bộ phức tạp thường
khởi đầu bằng t́nh trạng mất ư thức,
hoặc những cơn động kinh cục bộ liên
tiếp nhanh mà giữa các cơn mất ư thức,
việc chẩn đoán các cơn dựa vào bệnh
sử hoặc điện năo ghi đợc những sóng
bất thường cục bộ, trạng thái động
kinh cục bộ phức tạp sau khi cắt cơn thường
giảm trí nhớ có thể gặp thiếu sót thần
kinh như yếu liệt, aphasia …
Trạng
thái động kinh cục bộ đơn giản, thường
gặp ba thể lâm sàng là động kinh vận động
cục bộ đơn giản, động kinh cảm giác,
aphasia. Sự xuất hiện liên tiếp và kéo dài liên
tục có thể gây nên trạng thái động kinh,
việc xác định chẩn đoán dựa vào tiền
sử, khiếm khuyết thần kinh và EEG
Trạng
thái động kinh cục bộ phức tạp có kènm
theo suy giảm ư thức một cách có chọn lọc dưới
dạng lú lẫn tâm thần, điện năo đồ
cần thiết phân biệt với trạng thaí vắng ư
thức
Môt
thể cục bộ khác mà Gastaut xếp vào trạng thái
động kinh đó là các trạng thái động kinh
một bên xảy ra ở trẻ em. Trạng thái động
kinh này là triệu chứng biểu hiện của t́nh
trạng xâm phạm năo cấp hoặc sốt co giật. Cơn
co giật nửa người kéo dài tồn tại với
một hoạt động kịch phát tổn thương
bán cầu năo đối bên. Đôi khi liệt nửa người
vĩnh viễn sau co giật
Sinh
lư bệnh
Trạng
thái động kinh tạo ra những thay đổi sinh lư
có hệ thống. Hiện tượng toan hóa do co cơ và
liên quan sự gia tăng lactate. Trước tiên là sự tăng
thông khí dẫn đến toan chuyển hóa với pH máu có
thể ( 7 , tăng Kali máu, và hoại tử cơ càng làm
cho toan hóa tăng lên dẫn đến loạn nhịp tim.
Trong
trạng thái động kinh, động kinh liên tục làm
tăng hoạt động cơ thể kết hợp tăng
hoạt động hệ thần kinh tự chủ gây nên
sốt cao gia tăng tiết nước bọt, tăng
tiết mồ hôi đưa đến ất nước và
nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp, phù phổi do
thần kinh có thể xảy ra và làm suy chức năng hô
hấp.
Sốt
cao có thể gây nguy hại cho chức năng hệ
thần kinh, sốt làm tăng tiết mồ hôi, tổn thương
tiết niệu kịch phát có thể gây suy thận.
Nhiều yếu tố trên phối hợp lại càng
làm cho trạng thái động kinh trầm trọng thêm và
có nguy cơ tử vong
Thời
gian cơn co giật trong trạng thái động kinh kéo dài
20 đến 30 phút là thời kỳ c̣n bù nên tổn thương
năo chưa xảy ra, nếu kéo dài 30 đến 60 phút
khả năng hoạt động bù giảm, nếu
thời gian trạng thái động kinh kéo dài trên 60 phút
th́ tổn thương thực sự và mất khả năng
bù.
Trạng
thái động kinh liên quan đến sự gia tăng
lactat tạo ra từ năo làm cho mạch máu năo giăn và
hậu quả làm phù năo – tăng áp lực nội
sọ, v́ thế trạng thái động kinh càng kéo dài
th́ gây hoại tử năo khó phục hồi. Ở giai
đoạn trạng thái động kinh liên tục kéo dài
chụp đện toán cắt lớp, cộng hưởng
từ có thể có sự thay đổi như phù năo
cục bộ hay lan tỏa đặc biệt là vùng
hypocampus.
Tổn
thương thần kinh liên quan đến thời gian kéo
dài co giật là một giả thiết từ một
kết quả kích thích sự dẫn truyền thần kinh
cũng như làm tăng Calci trong tế bào gây nên chết
neuron. Từ cơ sở đó nhiều ư kiến đề
nghị sử dụng thuốc bảo vệ thần kinh như
hạ thân nhiệt, ức chế kênh calci, đối
vận glutamate …
Nguyên
nhân
Một
số yếu tố phát động thường gặp,
bệnh động kinh tự ư ngưng thuốc hay thay
đổi thuốc, nhiều trường hợp sau
một số ngày điều trị các cơn giảm người
bệnh tự ư ngưng thuốc hoặc uống không
đầy đủ nguy cơ làm thay đổi nồng
độ thuốc trong máu dễ gây phát động cơn.
Những bệnh nhân động kinh uống rượu,
bệnh toàn thân kèm theo như nhiễm trùng, rối
loạn chuyển hóa, thiếu oxy trong các bệnh hô
hấp, hạ đường huyết, sốt cao, kiềm
máu rối loạn nước và điện giải đều
là những yếu tố làm tăng nguy cơ gây trạng
thái động kinh
Trên
nguyên tắc mọi cơn động kinh đều có
thể tạo ra một trạng thái động kinh
nếu một hoặc nhiều yếu tố khởi phát
được tập hợp lại.
Trong
trường hợp trạng thái động kinh là
triệu chứng của sự xâm phạn năo thành ổ
th́ tai biến mạch máu năo lá nguyên nhân thường
gặp ( 15 % case), một động kinh cục bộ
tiến triển, lan toả thường thấy trong
nhiễm trùng hệ thần kinh mà viêm năo là một
bằng chứng
Một
u năo, chấn thương sọ năo củng là nguyên nhân gây
trạng thái động kinh (5-15 % case) lâm sàng thường
là động kinh cục bộ hoặc toàn thể hoá khó
kiểm soát
Khi
trạng thái động kinh là triệu chứng của
rối loạn lan toả trong năo th́ yếu tố nguyên nhân
rất nhiều : trước tiên là t́nh trạng rối
loạn nước điện giả hạ đường
huyết, tăng đường huyế thiếu oxy, suy
thận, suy chức năng gan, ngộ độc, thuốc
chống trầm cảm…
Khoảng
15-20 %case không t́n thấy nguyên nhân, v́ thế việc tiên
lượng trạng thái động kinh phụ thuộc vào
một động kinh tồn tại trước đó
Bảng
2 : Nguyên nhân trạng thái động kinh
|
Nhóm 1 : Nguyên
nhân tĩnh (static)
-T́nh
huống co giật của bệnh động kinh
-Nghiện
rượu và sử dụng các chất nghiện
-Ngưng
thuốc điều trị động kinh
-Sự
hỗn hợp nhiều yếu tố mà không rơ nhóm
nào
|
|
Nhóm 2 : Nguyên
nhân cấp
-Thiếu
oxy năo
-Tai
biến mạch máu năo
-U
hệ thần kinh trung ương
-Chấn
thương sọ năo cấp
-Bệnh
năo do chuyển hóa
-Nhiễm
trùng hệ thần kinh trung ương (viêm năo, viêm
màng năo)
|
Điều
trị
Trạng
thái động kinh là một cấp cứu nội khoa, tiên
lượng sinh mạng bệnh nhân phụ thuộc vào
rối loạn thần kinh tự chủ (hô hấp, tim
mạch) và các tác động sinh hóa của các cơn co
giật (toan chuyển hóa). Trạng thái động kinh càng
kéo dài tổn thương năo càng trầm trọng và không
hồi phục. Trong điều trị việc cắt cơn
phải phối hợp cấp cứu hô hấp, cân
bằng nước điện giải, điều
chỉnh toan chuyển hóa, chống phù năo. Tất cả
trạng thái động kinh dù cơn nguyên phát toàn
thể hay cục bộ đều coi là triệu chứng,
sau công việc điều trị cắt cơn, điều
tra nguyên nhân đối với thể lâm sàng khởi
đầu trạng thái động kinh, những hiểu
biết về một bệnh sử có động kinh và
phát hiện thêm những nguyên nhân phát động
(nhiễm trùng, hạ đường huyết, hạ natri
máu).
Điện
năo đồ (EEG) là một kỹ thuật cận lâm sàng
dễ thực hiện, v́ thế trong cấp cứu
trạng thái động kinh cần kết hợp giữa
lâm sàng và EEG để chẩn đoán và theo dơi điều
trị.
Nguyên
tắc cơ bản hướng dẫn điều
trị:

KHUNG
THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
1.
0-9 phút:
-
Kiểm tra t́nh trạng hô hấp, tuần hoàn;
xử trí ngay
-
Xem xét bệnh sử, khám thần kinh và tổng quát
-
Đặt đường truyền tĩnh mạch,
XN: đường, khí máu, BUN, ion đồ, SGOT, SGPT,
nộng độ thuốc động kinh, chất độc
-
Đặt đường thở và thở oxy
nếu cần thiết
-
Truyền TM dung dịch normal-salin
-
Truyền glucose (25g) và Thiamin B1,100mg
2.
10-30 phút: Nếu vẫn c̣n co giật bắt đầu
truyền tĩnh mạch:
-
Diazepam,
Người
lớn; 10mg, hay 0,2mg/Kg, nếu cần thiết nhắc
lại sau 5 phút có thể cho đến 30mg tấc độ
IV 2mg/1 phút. Trẻ em ;
0,2mg/Kg hay 1mg/tuổi nếu cấn nhắc lại liều
0,2mg/Kg
-
Rectal Diazepam
Là
sự lựa chọn nếu không dùng đường IV:
2-5
tuổi liều - 0,5mg /Kg; 6-11 tuổi liều – 0,3mg/Kg; 12
tuổi trở lên – 0,2 mg/Kg. Nồng độ cao trong máu
khoảng sau 10 phút
-
Lorazepam
Người
lớn: 0,1mg/Kg, tổng liều đến 5mg, tốc độ
1mg/1 phút
Trẻ
em : 0,1mg/Kg, tổng
liều đến 5mg, tốc độ 1-2mg/1 phút
Điều
trị Diazepam hay Clonazepam cho đến khi hết co giật
Nếu
không c̣n co giật :
-
Phenytoin,
liều khởi đầu: 20mg/Kg, tốc độ IV 50mg/1
pphút
-
Theo dơi huyết
áp thường xuyên và EEG
-
Dùng diazepam và
clonazepam kết hợp với phenytoin nếu có co giật
trong lúc điều trị
3.
31-60 phút: Nếu co giật dai dẳng, đặt ống
nội khí quản (intubate)
-
Phenobarbital,
Người lớn 20mg/Kg , IV 50mg/1 phút
Trẻ em, 20mg/Kg , IV 25mg/1 phút
Dùng đường tiêm bắp hay uống tuỳ
thuộc vào t́nh trạng
bệnh và kinh nghiêm
của thày thuốc
4.
Trên 1 giờ :
Nếu
co giật dai dẳng dùng liệu pháp “Barbiturate -Coma”,
đặt nội khí
quản
và ở khoa săn sóc đặc biệt
-
Pentobarbital, liều 5mg/Kg sau đó 1-3mg/giờ có
thể cho trong 4 giờ
-
Phenobarbital
liều cao: 30-120mg / Kg / 24giờ.

Các
thuốc sử dụng điều trị trạng thái
động kinh
Chỉ
định dùng thuốc cắt cơn co giật trạng
thái động kinh dựa vào hiệu lực của
thuốc tác động nhanh vào năo đang hoạt động
co giật, nó không phụ thuộc vào t́nh trạng ư
thức và hô hấp.
Thuốc được chọn đầu tiên là
diazepam (valium, seduxen) có hiệu lực ngắn (15 phút) IV
0,25mg/kg, liều bolus 10mg trong 2 phút liều khởi đầu
khi co giật trong một số trường hợp duy tŕ
thuốc ngủ là không cần thiết, v́ thế diazepam và
lorazepam chỉ dùng khi co giật tái diễn trước khi
dùng phenytoin và kết hợp với phenytoin. Phenytoin một
ḿnh nó cũng có tác dụng cắt cơn co giật.
Diazepam dùng lâu, liều cao làm giảm ư thức và ngưng
hô hấp.
Lorazepam có thuận lợi hơn trong điều
trị trạng thái động kinh bởi có tác dụng kéo
dài hơn trên hệ thần kinh trung ương so với
diazepam. So sánh tác dụng của lorazepam và diazepam là 4mg
lorazepam = 10mg diazepam, tương ứng chặn cơn là 76%
và 89%, số bệnh nhân ngưng thở th́ bằng nhau trên
nghiên cứu mù đôi.
Một
so sánh tác dụng của hydantoin và lorazepam th́ lorazepam có tác
dụng tốt hơn trong điều trị trạng thái
động kinh (thuốc sử dụng nhiều Canada và
Mỹ, chúng ta thường dùng valium hay biệt dược
seduxen, ở Châu Aâu thường dùng clorazepam (rivotril)
hiệu lực dài hơn valium nhưng thường suy
giảm hiệu lực)
Phenytoin, thuốc có thuận lợi kiểm soát cơn
co giật do thời gian bàn hủy kéo dài, điều
bất lợi làm ảnh hưởng tim mạch v́ thế
chống chỉ định trong các bệnh tim và huyết
áp thấp. Khi dùng một liều lớn và nhanh là rất
nguy hiểm, nên chỉ tiêm chậm không bao giờ quá
1mg/kg/1 phút
Phenobarbital là thuốc tác dụng cắt cơn
tốt hơn phenytoin, v́ thế trạng thái động
kinh có co giật cục bộ hay toàn thể tác dụng
rất tốt, điều bất lợi là làm giảm ư
thức kéo dài mà mục tiêu của điều trị là
sau hết cơn bệnh nhân càng tỉnh càng tốt
hạn chế tổn thương năo khó hồi phục,
một bất lợi nữa là ức chế hô ấp và
ngưng thở mặc dù trớc khi dùng đă đặt
nội khí quản và hô hấp nhân tạo giúp đỡ.
Pentotal là thuốc tác dụng nhanh, kết quả bao
giờ cũng có mặc dầu liều cắt cơn
thấp hơn liều gây rối loạn ư thức và suy hô
hấp.
Những
điều trị khác
1)
Cấp cứu hô hấp, giải phóng đường
hô hấp trên (đặt nột khí quản, cannule, đè
lưỡi, tư thế nằm (nằm nghiêng) thở oxy
10 lít/phút)
2)
Chức năng tim mạch, trước tiên điều
chỉnh nước và điện giải, đo ECG,
giảm áp lực phổi đánh giá t́nh trạng trụy
mạch thứ phát, phù phổi cấp, loạn nhịp.
Trong thực hành lâm sàng việc kiểm soát được
co giật hạn chế rất nhiều các biện
chứng khác
3)
Hạ thân nhiệt bằng nhiều biện pháp khác
nhau kể cả thuốc hạn chế tổn thương
năo do tăng thân nhiệt.
4)
Điều chỉnh nước và điện
giải, Normal-salin là dung dịch bù nước có hiệu
quả
5)
Chống phù năo được đặt ra khi
trạng thái động kinh kéo dài, t́nh trạng ư
thức suy giảm, kèm những dấu thần kinh cục
bộ, mannitol là thuốc được chọn
Điều
trị nguyên nhân
Ở những bệnh nhân động kinh th́ tiếp
tục thuốc đă điều trị, nếu sau
trạng thái động kinh triệu chứng thiếu sót
thần kinh nhiều hơn làm CTscan, MRI kiểm tra.
Trong cơn sốt co giật trẻ em, sự xuất
hiện trạng thái động kinh là yếu tố
dự đoán có thể mắc bệnh động kinh do
đó tiến hành điều trị ngay với các
loại thuốc chống co giật trong thời gian dài.
Những bệnh nhân có co giật lần đầu
của trạng thái động kinh không t́m được
nguyên nhân hoặc chưa t́m được nguyên nhân ngay
th́ tiến hành điều trị thuốc chống động
kinh ngay, thời gian tùy thuộc vào loại động kinh
và mức độ nặng của bệnh.
