|
|
ĐIỀU
TRỊ QUÁ MỨC BỆNH ĐỘNG KINH
Lê
Văn Nam, BS CKI, Bộ môn Thần kinh, Đại học Y
Dược Tp Hồ Chí Minh Tóm
tắt Điều
trị quá mức bệnh động kinh (overtreatment) là
một vấn đề thường gặp trong điều
trị chống động kinh, theo định nghĩa th́
điều trị quá mức là:
Việc điều
trị quá mức sẽ làm tăng các nguy cơ tai
biến do độc tính thuốc, tăng chi phí điều
trị và có thể làm bệnh nhân không tuân thủ điều
trị. Mục
tiêu điều trị động kinh là khống chế cơn,
dùng thuốc chống động kinh hợp lư, đa
trị liệu đúng chỉ định, tránh t́nh
trạng điều trị quá mức. SUMMARY:
OVERTREATMENT
IN EPILEPSY Overtreatment
in epilepsy is a common problem and it is defined as:
Overtreatment
will increase risks of complications, expenses of treatment and can results in
uncompliance of treatment. Purposes of treament are seizure control, reasonable
drug use, correct polytherapy, and avoidance of overtreament. ĐẶT
vẤn đỀ
Động
kinh là bệnh thường gặp (0.5-1% dân số).
Thuốc chống động kinh giúp 65% số trường
hợp bệnh nhân có thể có đời sống b́nh thường.
Một vấn đề đặt ra trong khi dùng thuốc
chống động kinh là điều trị quá mức
(overtreatment). Điều trị quá mức bệnh động
kinh là việc sử dụng thuốc chống động
kinh không thích hợp trong đơn và đa trị
liệu. Điều trị quá mức được
Reynolds và Shorvon nêu lên vào thập niên 70, lúc này phương
pháp điều trị chuẩn mực của bệnh
động kinh là đa trị liệu, hai tác giả trên
đă chứng minh:
Thompson
and Trimble đă chứng minh nguy cơ điều trị quá
mức với phương pháp đa trị liệu là :
Sau
các nghiên cứu này th́ đơn trị liệu trở thành
tiêu chuẩn vàng trong điều trị động
kinh, chỉ khi đơn trị liệu không hiệu
quả th́ mới sử dụng đa trị liệu. Các
loẠi điỀu trỊ quá mỨc thưỜng gẶp
Dùng
thuốc khi không có chỉ định
Các
trường hợp có thể không cần dùng thuốc
chống động kinh
Động
kinh với phóng lực trán trung tâm: Đa
số các trường hợp động kinh loại này
không cần điều trị v́ cơn thường
xảy ra vào ban đêm và là cơn cục bộ (mặt,
lưỡi). Một số trường hợp cơn toàn
thể hóa và xảy ra ban ngày th́ có thể phải điều
trị (thời gian dùng thuốc là 6 tháng). Có thể
phải điều trị khi cơn ảnh hưởng
tới tâm lư bệnh nhân hay gia đ́nh bệnh nhân. Tuy nhiên
theo một nghiên cứu tại Phàp có 82% bệnh nhân
được điều trị với 1 hay 2 thuốc Chấn
thương sọ năo và phẫu thuật sọ năo: Điều
trị pḥng ngừa bằng thuốc chống động
kinh sau chấn thương sọ năo hay phẫu thuật u
năo không làm giảm nguy cơ tái phát của bệnh động
kinh. Tại Italia 90% các bác sĩ phẫu thuật thần
kinh dùng thuốc chống động kinh pḥng ngừa trên
bệnh nhân chấn thương sọ năo hay phẫu
thuật u năo mà trước đó bệnh nhân hoàn toàn không
có cơn động kinh. Các
loại động kinh sau chấn thương sọ năo
Tốc
độ tăng liều (titration rate) quá nhanh: Thuốc
chống động kinh chỉ có hiệu quả khi ổn
định nồng độ trong huyết thanh (Steady state).
Sự ổn định này chỉ đạt được
sau một thời gian nhất định, từ 2-28 ngày tùy
theo thuốc. Tăng liều thuốc quá nhanh sẽ làm tăng
các tác dụng phụ về thần kinh và có thể làm
bệnh nhân không tuân thủ điều trị. Một
số thuốc tăng liều nhanh làm tăng nguy cơ
dị ứng (Lamotrigine). Start low, go slow Vấn
đề sử dụng liều tải: Chỉ nên
sử dụng trong một số trương hợp
cần có hiệu quả ngay: td sau trạng thái động
kinh. Không phải loại thuốc chống động kinh
nào củng sử dụng liều tải được.
Phương pháp điều trị này ảnh hửong
tới tri giác và bệnh nhân phải chịu nhiều tác
dụng phụ của thuốc chống động kinh.
Thuốc hay được dùng là Phenytoin Sử
dụng liều thuốc quá cao: Là một dạng thường
gặp của overtreatment. Liều thuốc chống động
kinh thay đổi tùy bệnh nhân, không có một liều
chuẩn mực cho mọi trường hợp. Các trường
hợp dùng liều cao thường gặp. Sử dụng
liều cao ngay từ đầu. Dùng liều quá cao trên
bệnh nhân kháng trị. Đánh giá sai nồng độ
thuốc chống động kinh Sử
dụng liều cao ngay từ đầu: Dược động
học và dược lực học của thuốc
chống động kinh thay đổi tùy cá nhân. Liều
khuyến cáo của thuốc chỉ là hướng dẩn
chung. Mỗi bệnh nhân là một trường hợp
cụ thể và sự điều trị phải phù
hợp với người bệnh. Nhiều bệnh nhân
đáp ứng với liều thuốc chống động
kinh rất thấp. Dùng
liều quá cao trên bệnh nhân động kinh kháng trị:
Khi sử dụng thuốc chống động kinh mà không
khống chế được cơn th́ các tác giả thường
khuyến cáo nên tăng liều tới mức tối đa
mà bệnh nhân có thể chấp nhận được Chưa
có nghiên cứu về sự liên hệ của hiệu
quả điều trị/tác dụng phụ khi tăng
liều quá cao, có khi lợi < hại. Có trường
hợp t́nh trạng bệnh nhân xấu đi do ngộ
độc thuốc. Tăng liều cao đặc biệt
nguy hiểm đối với Hydantoin v́ thuốc này có
biến dưỡng không tiếp tuyến Đánh
giá sai nồng độ thuốc chống động kinh:
Nồng độ thuốc chống động kinh trong
huyết thanh là một thông số giúp điều
chỉnh liều. Tuy nhiên khi điều trị th́ quan
trọng là trên lâm sàng bệnh nhân có hết cơn hay không.
Chỉ một số ít thuốc chống động kinh có
sự liên hệ giữa nồng độ và hiệu
quả thuốc. Điều trị kiểm soát cơn
động kinh chứ không phải điều trị
để đạt nồng độ thuốc trong
huyết thanh. Dùng
thuốc không đúng thể lâm sàng: Một số
loại cơn động kinh có thể tăng nếu dùng
thuốc không thích hợp. Cơn vắng ư thức, cơn
giật cơ có thể tăng khi dùng Carbamazepine hay Phenytoin. Nên
sử dụng các thuốc chống động kinh phổ
rộng để tránh t́nh trạng này ( Valproate, Topiramate,
Lamotrigine) PhỐi
hỢp thuỐc chỐng đỘng kinh Khi
bệnh nhân không đáp ứng với một thuốc
chống động kinh th́ việc thay đổi thuốc
có thể có hiệu quả trong 15-30% các trường
hợp. Khi phối hợp hai thuốc chống động
kinh th́ tỉ lệ khống chế cơn hoàn toàn chỉ
là 12%. Tốt nhất dùng đơn trị liệu,
chỉ phối hợp khi thật cần thiết và
phối hợp này phải hợp lư Chỉ
phối hợp thuốc sau khi đă thử đơn
trị liệu với ít nhất 2-3 loại thuốc phù
hợp với thể lâm sàng mà không hiệu quả.
Phối hợp thuốc phải hợp lư dựa vào ba
yếu tố: Đa
trị liệu không hợp lư là một dạng của
điều trị quá mức
Thuốc
chống động kinh tác dụng qua ba cơ chế chính:
Bơm ion (kênh Ca, kênh Na), sự kích hoạt hệ
thống Gaba và sự ức chế hệ thống Glutamate.
Các cơ chế này có thể xảy ra trên ba giai đoạn
của cơn động kinh: sự khởi phát phóng
lực, sự lan truyền phóng lực và sự ức
chế phóng lực. Phối hợp hai thuốc có cơ
chế tác dụng chống động kinh khác nhau sẽ có
hiệu quả cao hơn Phối
hợp thuốc theo cơ chế tác dụng
(Các
thuốc trên đều tác dụng trên kênh ion) Tương
tác của các thuốc chống động kinh: Các
thuốc chống động kinh được phối
hợp tốt nhất là các thuốc không có hay ít có tương
tác với nhau. Hoặc nếu có sự tương tác th́
tương tác này phải theo chiều hướng làm tăng
hiệu quả của thuốc. Thường các thuốc
chống động kinh mới ít có tương tác
thuốc hơn các thuốc kinh điển Phối
hợp theo sự tương tác thuốc
Phối
hợp dựa vào tác dụng phụ Các
thuốc chống động kinh phối hợp không
được có các tác dụng phụ trên hệ
thần kinh và toàn thân giống nhau. Lư tưởng
nhất là tác dụng phụ triệt tiêu lẫn nhau Hợp
lư: Valproate
với Felbamate hay Valproate với Topiramate v́ Topiramate và
Felbamate làm sụt cân trong khi valproate làm tăng cân Kéo dài thỜi gian điỀu trỊ không cẦn thiẾt: Sau
một thời gian không có cơn (3-5 năm tùy trường
hợp) th́ có thể ngưng thuốc chống động
kinh: Điều trị kéo dài quá lâu khi đă có thể
ngưng thuốc sẽ làm bệnh nhân chịu tốn kém
và ảnh hưởng bởi độc tính của
thuốc. Tuy nhiên sau khi ngưng thuốc sẽ có một
số trường hợp tái phát. Nếu chẩn đoán
được hội chứng sẽ giúp đánh giá
dự hậu chính xác hơn khi ngưng thuốc Tiêu
chuẩn ngưng thuốc ·
Không c̣n cơn sau 3-5 năm ·
Cơn chỉ có một thể lâm sàng (toàn thể
hay cục bộ) ·
Khám thần kinh b́nh thường ·
Điện năo đồ b́nh thường Thành
công trong 69% các trường hợp Giảm
điều trị quá mức - Lợi và hại Giảm
điều trị quá mức trong điều trị động
kinh có các ích lợi và nguy hại sau :
Quan
điểm của bệnh nhân: Khi
điều trị bệnh nhân động kinh, ngoài
vấn đề sử dụng thuốc để kiểm
soát cơn hiệu quả, thầy thuốc nên nh́n vấn
đề với quan điểm của người
bệnh. Điều
trị động kinh đối với bệnh nhân
phải :
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
|