
BỆNH
XƯƠNG DO THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH:
LỜI
YÊU CẦU PHẢI THEO DƠI VÀ ĐIỀU TRỊ
Howard
J. Heller, Khasayar Sakhaee: Anticonvulsant-Induced Bone Disease: A Plea for
Monitoring and Treatment. Archives of Neurology. Sep 2001; 58: 1352-1353
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
Mối
liên quan giữa việc sử dụng thuốc chống
động kinh với sự phát triển các sang thương
ở xương đă được mô tả từ
khoảng 30 năm trước. Về sau, người ta
đă chứng minh rằng quá tŕnh dị hóa vitamin D gia tăng
sau trị liệu phenobarbital là cơ chế giải thích
cho nồng độ 25-hydroxyvitamin D trong máu thấp ở
những bệnh nhân như thế. Ngày nay, người ta
thừa nhận rằng giảm nồng độ
25-hydroxyvitamin D có thể là do tăng hoạt động
men cytochrome P450 ở gan dưới tác động của các
thuốc chống động kinh (như phenobarbital, phenytoin
và có lẽ cả carbamazepine), hoặc là do giảm quá tŕnh
25-hydroxy hóa vitamin D.
Hậu
quả của việc thiếu vitamin D gây nguy cơ găy xương
do làm tăng yếu cơ, tăng quá tŕnh mất xương
hoặc giảm quá tŕnh mineral hóa xương. Yếu cơ,
kể cả yếu cơ không liên quan với bệnh lư
ở xương do thiếu vitamin D, có thể làm bệnh
nhân tăng khuynh hướng dễ ngă và v́ vậy tăng
nguy cơ găy xương. Thiếu vitamin D tiềm tàng gây cường
cận giáp thứ phát để bù trừ và tăng huy
động xương (xem sơ đồ). Tăng hormone
cận giáp trong máu làm giảm ưu thế cấu trúc xương
vùng vỏ. Cuối cùng, mất xương vùng vỏ làm
tăng nguy cơ găy xương tự nhiên ở chi (xương
quay và xương chậu). Trường hợp nghiêm
trọng, bệnh nhân có thể phải hứng chịu
một quá tŕnh tái cấu trúc xương và giảm
mineral hóa xương nặng nề dẫn đến
bệnh c̣i xương và thưa loăng xương biểu
hiện trên lâm sàng. Bệnh thưa loăng xương
được đặc trưng bởi đau xương
toàn thân, yếu cơ gốc chi và những thay đổi
trên phim X-quang. Trong khi bệnh thưa loăng xương có
thể nhận biết rơ ràng trên lâm sàng th́ biểu
hiện của cường cận giáp thứ phát không
dễ ǵ phát hiện được, nó chỉ được
phát hiện bằng cách đánh giá cẩn thận các thông
số trong máu (calcium, phosphate, hormone cận giáp không
biến đổi - intact parathyroid hormone, phosphatase kiềm),
tổng phân tích nước tiểu (calcium và các chất
đánh dấu quá tŕnh tái hấp thu xương), đo
mật độ chất khoáng của xương.
(Xem
thêm ở trang 1369)
Trong
tạp chí ARCHIVES số phát hành kỳ này, Valmadrid và CS
khảo sát cách thức làm việc của các bác sĩ
chuyên khoa thần kinh liên quan đến các biến
chứng tiềm tàng tại xương do việc điều
trị bằng thuốc chống động kinh. Bằng 1
nghiên cứu lớn, họ nhận thấy rằng
việc kiểm tra sự thiếu hụt chất khoáng
ở xương cùng với việc điều trị pḥng
ngừa bằng calcium và vitamin D, những yếu tố có
tầm quan trọng liên hệ đến sức khỏe
cộng đồng, đă có sự thiếu sót đáng
phải quan tâm lưu ư đến. Mặc dù việc
khảo sát tiến hành theo phương thức trả
lời bằng thư có nguy cơ bị mắc lỗi, như
đă được bàn luận bởi các tác giả, nhưng
một cỡ mẫu nghiên cứu lớn và những phát
hiện nổi bật đă khiến cho nghiên cứu này có
giá trị thuyết phục.
Những
lư lẽ sau đây có thể giúp giải thích tại sao các
bác sĩ điều trị có khuynh hường phớt
lờ đi những ảnh hưởng tiềm tàng trên xương
của các thuốc chống động kinh: (1) Tính hỗn
tạp, không đồng
nhất của các triệu chứng lâm sàng. Các bác sĩ
thần kinh có thể không thể nào nhận biết
được các triệu chứng kín đáo không
phải là biểu hiện của bệnh loăng xương
rơ ràng. (2) Tần suất của
việc thiếu cung cấp vitamin D. Bệnh thiếu vitamin
D được thừa nhận là hiếm gặp ở
những bệnh nhân đi lại được
vốn là những bệnh nhân được tiếp xúc
đầy đủ với ánh nắng mặt trời; tuy
nhiên, bằng chứng gần đây gợi ư rằng ¼
số người trưởng thành trên thế giới có
thể có thiếu cung cấp vitamin D. Tỉ lệ này
thậm chí c̣n cao hơn ở quần thể bệnh nhân
trong nghiên cứu là những bệnh nhân được
điều trị bằng thuốc chống động
kinh. (3) Sự hạn chế của các dữ liệu thu
thập được. Dữ liệu về các thuốc
chống động kinh mới hơn c̣n khan hiếm. Ngay
cả đối với các thuốc chống động
kinh đă được hiểu biết rơ, những
dữ liệu mang nhiều yếu tố gợi ư rằng
chúng gây mất xương và tăng nguy cơ găy xương
cũng mất đi tính vững chắc bởi v́
thiếu sự chứng minh bằng các thử nghiệm
tiền cứu lớn có kiểm chứng. Hơn nữa,
một số thử nghiệm hiện thời lại cho các
kết quả mâu thuẫn với nhau. Nh́n chung, những
thử nghiệm này đă không có sự kiểm soát các
biến số gây lẫn lộn kết quả như
tuổi, giới tính, BMI (body mass index: chỉ số
khối cơ thể), số lượng và loại
thuốc chống động kinh hoặc thời gian điều
trị. Việc chọn lựa vị trí xương không
thích hợp để đo mật độ chất khoáng
ở xương là một cách lư giải khác cho những
kết quả mâu thuẫn của các nghiên cứu liên quan
đến vấn đề này. Với cường
cận giáp thứ phát sau thiếu vitamin D tiềm tàng, người
ta cho rằng mất xương vùng vỏ hay gặp hơn
mất xương vùng tủy. Chính v́ vậy, một
mật độ chất khoáng ở xương b́nh thường
đo tại cột sống thắt lưng, vốn là
vị trí giàu xương xốp, vẫn không thể
loại trừ có mất xương vùng vỏ.
Mặc
dù không có sẵn các guideline thống nhất được
ban hành, nhưng những bệnh nhân được điều
trị bằng thuốc chống động kinh cần
phải được đánh giá và điều trị thích
hợp. Hiện tại, chúng tôi đề nghị theo dơi
nồng độ calcium, phosphate, phosphatase kiềm trong máu lúc
đói và đo mật độ chất khoáng ở xương
ở tất cả những người trưởng thành
được hoặc sẽ được điều
trị thuốc chống động kinh kéo dài. Những
bệnh nhân nào có bất thường về sinh hóa
(giảm calcium hoặc phosphate máu hay giảm mật độ
chất khoáng ở xương; tăng phosphatase kiềm
trong máu) hay có triệu chứng về cơ xương
(yếu, đau, dễ găy) sẽ được chỉ
định thực hiện các xét nghiệm đắc
tiền hơn hoặc tham khảo ư kiến của chuyên
gia về bệnh xương. Những xét nghiệm đắc
tiền này có thể bao gồm: đo các chất đánh
dấu quá tŕnh tái hấp thu xương trong nước
tiểu (N-telopeptide hoặc deoxypyridinoline tự do), định
lượng calcium nước tiểu/ 24 giờ và hormone
calciotropic trong máu (hormone cận giáp trong máu không biến
đổi hoặc 25-hydroxyvitamin D). Đối với
trẻ em, chúng tôi đề nghị cách đánh giá tương
tự ngoại trừ xét nghiệm đo mật độ
chất khoáng ở xương và đo các chất đánh
dấu quá tŕnh tái hấp thu xương. Chỉ định
theo dơi mật độ chất khoáng ở xương
hoặc các chất đánh dấu quá tŕnh tái hấp thu xương
ở trẻ em là một chỉ định kém rơ ràng
bởi v́ đây là nhóm dân số chưa đạt đến
khối lượng xương tối đa và v́ vậy
vẫn chưa có các khoảng giá trị tham khảo chính
xác. Chính v́ những mặt hạn chế này ở
trẻ em, chúng tôi đề nghị dùng phương pháp
đo nồng độ hormone cận giáp không biến
đổi trong máu.
Chúng
tôi đồng ư với Valmadrid và CS rằng những
bệnh nhân này ít nhất nên được điều
trị bằng calcium và vitamin D với liều lượng
căn cứ trên lượng calcium và vitamin D ước tính
có trong chế độ ăn của họ. Hăy ghi nhớ
rằng do hậu quả của việc rối loạn
chuyển hóa vitamin D gây ra bởi thuốc chống động
kinh nên những bệnh nhân được điều
trị bằng thuốc chống động kinh có thể
phải đ̣i hỏi nhu cầu vitamin D nhiều gấp 5
lần lượng vitamin D vốn có trong thức ăn.
Hiệu quả trị liệu phải được tái
đánh giá bằng cách theo dơi nồng độ calcium,
phosphate, phosphatase kiềm trong máu và bất kỳ trị
số bất thường nào được nhận
biết trước đó. Nếu kết quả kiểm
tra có bất thường th́ các xét nghiệm theo dơi
tiếp theo sau đầu tiên nên được chỉ
định với nhịp độ dầy, nhưng sau
đó có thể thưa dần đi. Phải điều
chỉnh liều vitamin D và calcium cần cung cấp để
duy tŕ nồng độ b́nh thường của nó trong máu
và nước tiểu. Mật độ chất khoáng
ở xương lúc đầu có thể được
theo dơi mỗi năm, sau đó tăng dần khoảng cách
theo dơi nếu mật độ xương vẫn giữ
được ở mức ổn định.
Nói
tóm lại, phải đặc biệt lưu ư tỉ
lệ thiếu hụt vitamin D ở tất cả các
bệnh nhân được điều trị bằng các
thuốc chống động kinh như phenobarbital, phenytoin và
có lẽ cả carbamazepine. Chúng tôi nhấn mạnh một
điều rằng khuyến cáo này áp dụng ở
cả các bệnh nhân có thể tự đi lại
được. Đối với các thuốc chống
động kinh khác, trong thời gian chờ đợi làm
sáng tỏ ảnh hưởng của chúng lên chuyển hóa
xương và chất khoáng th́ việc theo dơi cẩn
thận và bổ sung thích hợp calcium và vitamin D có lẽ
là điều nên làm. Nghiên cứu của Valmadrid và CS
nhấn mạnh đến điều cần thiết
phải giáo dục cho các bác sĩ điều trị
về ảnh hưởng trên xương của các
thuốc chống động kinh. Những thử nghiệm
tiền cứu có kiểm chứng nên được
tiến hành để khám phá ảnh hưởng của các
thuốc chống động kinh khác nhau trên chuyển hóa
chất khoáng, mật độ xương và nguy cơ găy
xương. Hơn thế nữa, những guideline về
theo dơi và điều trị nên được phổ
biến và được đem kiểm chứng thông qua
những thử nghiệm lâm sàng.

CÁCH
THỨC LÀM VIỆC CỦA CÁC BÁC SĨ CHUYÊN KHOA THẦN
KINH TRONG VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG CỦA
TRỊ LIỆU BẰNG THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH TRÊN
XƯƠNG VÀ CHẤT KHOÁNG
Cassandra
Valmadrid, Carolyn Voorhees, Brian Litt, Christine R. Schneyer.Practical
Patterns of Neurologists Regarding Bone and Mineral Effects of Antiepileptic
Drug Therapy. Archives of Neurology. Sep 2001; 58: 1369-1373
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
TÓM
TẮT
Lời
nói đầu:
Điều
trị bằng thuốc chống động kinh (AED:
antiepileptic drug) có liên quan với bệnh lư ở xương
có thể được điều trị và ngăn
ngừa bằng calcium và vitamin D. Tuy nhiên, bởi v́ không có
những nghiên cứu chứng minh vấn đề này nên
nhiều bác sĩ điều trị đă không nhận
biết được mối liên quan này.
Mục
tiêu:
Xem
xét cách thức tiếp cận với các rối loạn
ở xương mà các bác sĩ chuyên khoa thần kinh
tiến hành trên bệnh nhân được điều
trị bằng AED.
Thiết
kế:
Tiến
hành điều tra thông qua các thư tự khai.
Thành
phần tham gia:
404 bác sĩ chuyên khoa thần kinh trẻ em và 624 bác sĩ
chuyên khoa thần kinh người lớn ở Mỹ đă
được công nhận hoặc có đủ tư cách
hành nghề.
Nội
dung nghiên cứu chính: Điều
tra phương pháp làm việc của các bác sĩ chuyên
khoa thần kinh trong vấn đề theo dơi các bệnh lư
ở xương và đề nghị cách điều
trị, pḥng ngừa các bệnh lư này.
Kết
quả:
Một
số ít bác sĩ chuyên khoa thần kinh trẻ em (41%) và người
lớn (28%) đánh giá thường qui bệnh lư xương
và chất khoáng ở những bệnh nhân được
điều trị AED. Trong số các bác sĩ phát hiện
được có bệnh lư xương thông qua các test
chẩn đoán, có 40% số bác sĩ chuyên khoa thần
kinh trẻ em và 37% số bác sĩ chuyên khoa thần kinh người
lớn kê toa cho bệnh nhân sử dụng calcium và vitamin
D; khoảng ½ trong số họ (54% số bác sĩ chuyên
khoa thần kinh trẻ em và 57% số bác sĩ chuyên khoa
thần kinh người lớn) giới thiệu bệnh nhân
đến các chuyên gia trong lĩnh vực này. Một
số ít (9% số bác sĩ chuyên khoa thần kinh trẻ em
và 7% số bác sĩ chuyên khoa thần kinh người
lớn) kê toa calcium và vitamin D pḥng ngừa cho những
bệnh nhân điều trị AED.
Kết
luận:
Ít
có mâu thuẫn giữa các bác sĩ chuyên khoa thần kinh
trong vấn đề ảnh hưởng của điều
trị AED trên xương. Bởi v́ có bằng chứng
thuyết phục gợi ư rằng nhiều bệnh lư
tại xương gây ra do trị liệu AED có thể
được điều trị hoặc pḥng ngừa
bằng cách bổ sung calcium và vitamin D nên việc nâng cao
nhận thức của các bác sĩ điều trị
về vấn đề này có thể giúp cải thiện
đáng kể khả năng mắc bệnh xương
ở những bệnh nhân được điều
trị bằng AED.
NỘI
DUNG
Thuốc
chống động kinh (AED) từ hơn 30 năm nay đă
được ngụ ư là một nguyên nhân gây nên
bệnh xương. Các kiểu bệnh xương này
giới hạn từ bệnh cảnh dưới lâm sàng
đến bệnh cảnh tạo vóc dáng lùn và răng
mọc bất thường cho đến bệnh cảnh c̣i
xương hay thưa loăng xương. Tỉ lệ bị
bệnh xương do AED được báo cáo là (50%.
Bệnh cảnh dưới lâm sàng bắt gặp điển
h́nh ở những bệnh nhân tự đi lại
được và đặc trưng bởi các bất thường
về xét nghiệm sinh hóa (giảm calcium và 25-hydroxyvitamin D
(25-OHD) trong máu; tăng hormone cận giáp (PTH) trong máu),
giảm mật độ xương, những bất thường
về sinh thiết xương (tăng osteoid). Bệnh
cảnh loại này có thể xuất hiện sớm khi AED
mới được sử dụng. Ngược lại,
bệnh cảnh c̣i xương và thưa loăng xương
tiến triển thường giới hạn ở
những bệnh nhân không đi lại được,
được cho là do có các yếu tố nguy cơ
phối hợp (ví dụ: thiếu cung cấp calcium và
vitamin D, thiếu tiếp xúc với ánh nắng mặt
trời, vật lư trị liệu không đầy đủ).
Có vài quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Hậu
quả nghiêm trọng nhất trên xương do điều
trị AED kéo dài là tăng nguy cơ găy xương, đặc
biệt là xương chậu. Điều này chắc
chắn xuất hiện ở những bệnh nhân không
đi lại được hoặc những bệnh nhân
trong các cơ sở từ thiện và được
nhận thấy trong hầu hết các nghiên cứu trên
bệnh nhân đi lại được sống trong
cộng đồng. Cải thiện ngoạn mục trên
X-quang và xét nghiệm sinh hóa cũng như tăng khối
lượng xương xảy ra khi dùng thêm calcium và
vitamin D cho những bệnh nhân điều trị AED.
(Phần
bàn luận về nghiên cứu này xin xem ở bài trên)
Có
vài cơ chế giả định về ảnh hưởng
trên xương do trị liệu AED. Thiếu hụt vitamin
D được cho là do tăng dị hóa vitamin D do ảnh
hưởng trên men gan của AED (ví dụ: phenobarbital,
phenytoin và carbamazepine) và do ức chế quá tŕnh 25-hydroxy hóa
vitamin D. Cơ chế thứ hai liên quan đến dạng
bệnh xương do tăng huy động dù chuyển hóa
vitamin D vẫn b́nh thường với biểu hiện
hạ calcium máu và cường cận giáp thứ phát.
Phenytoin và phenobarbital có thể cản trở quá tŕnh tái
hấp thu xương dưới tác dụng của PTH và
quá tŕnh hấp thu calcium tại ruột.
Mối
quan tâm về ảnh hưởng của AED trên xương
lên đến đỉnh điểm vào những năm
1970 nhưng rồi sau đó phai nhạt dần trước
khi các kết luận khẳng định hoặc các
gợi ư điều trị được ban hành. Hậu
quả là hầu hết các sách giáo khoa thần kinh
chỉ cung cấp một lượng hạn chế
kiến thức về ảnh hưởng của AED trên xương
(ví dụ: Adams và CS, Pedley và CS, Engel và Pedley) và Hiệp
hội động kinh Hoa Kỳ (American Epilepsy Society) không có
ấn hành những guideline chuẩn mực đề
cập đến vấn đề này. Bởi v́ nhận
thức về vấn đề bệnh xương do AED c̣n
nhiều thiếu sót, chúng tôi đă tiến hành điều
tra thói quen của các bác sĩ chuyên khoa thần kinh Hoa
Kỳ về chẩn đoán, điều trị và dự
pḥng của họ đối với bệnh xương do
AED.
ĐỐI
TƯỢNG THAM GIA VÀ PHƯƠNG PHÁP:
Nguồn
dữ liệu:
Các bản câu hỏi được gửi tới
2226 bác sĩ chuyên khoa thần kinh người lớn và
trẻ em, họ là các nghiên cứu sinh, các bác sĩ đang
thực hành điều trị hoặc là các cộng tác
viên có danh sách trong Hiệp hội thần kinh học Hoa
Kỳ (American Academy of Neurology). Để kiểm định
tư cách tham gia, các bác sĩ được lựa
chọn phải được công nhận về khả năng
chuyên môn thần kinh và phải có kê toa AED. Các bác sĩ
chuyên khoa thần kinh trẻ em và người lớn
được phân thành 2 mẫu khác nhau. Dựa trên tiêu
chuẩn khoảng tin cậy 95%, tỉ lệ trả
lời thỏa măn các câu hỏi 60% và tỉ lệ bác sĩ
đủ tư cách tham gia điều tra 90%, một cỡ
mẫu 1500 đă được thiết lập cho mỗi
nhóm. Các bác sĩ thần kinh người lớn được
lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách hội viên
Hiệp hội thần kinh học Hoa Kỳ sử dụng
StatPacIV Gold (StatPac Inc, Minneapolis, Minn). Tất cả các bác sĩ
thần kinh trẻ em là thành viên của Hiệp hội
thần kinh học Hoa Kỳ đều được
lựa chọn (n=726). Trong mọi t́nh huống, phương
pháp sử dụng trong cuộc điều tra là phuơng
pháp nghiên cứu mô tả.
Nội
dung điều tra:
Điều
tra nội dung tự khai đề cập đến đặc
tính nhân khẩu học của các bác sĩ điều
trị và bệnh nhân của họ; kinh nghiệm điều
trị AED của các bác sĩ; cách thức làm việc
của các bác sĩ trong vấn đề đánh giá,
điều trị và dự pḥng bệnh xương ở
bệnh nhân điều trị AED. Những người
tham gia được đặt câu hỏi họ có thường
xuyên đánh giá các yếu tố nguy cơ thông thường
đối với bệnh xương hay không và họ có
theo dơi bệnh xương hay không. Những người có
theo dơi bệnh xương được đặt câu
hỏi họ (1) có thường xuyên đánh giá các
yếu tố nguy cơ gây bệnh hay không (ví dụ:
tiền sử găy xương, lượng cung cấp
calcium và vitamin D, điều kiện tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời) và (2) có thực hiện các xét
nghiệm chẩn đoán thường qui hay không (ví
dụ: định lượng calcium, phosphate, 25-OHD trong máu
và đo mật độ xương). Các cách lựa
chọn trả lời là “thường xuyên” (>50%
thời gian một liệu tŕnh điều trị),
“thỉnh thoảng” (25%-50% thời gian một liệu tŕnh
điều trị) và “hầu như không bao giờ”
(<25% thời gian một liệu tŕnh điều trị).
Để
đánh giá công tác điều trị, những người
tham gia được đặt câu hỏi họ có
sử dụng calcium và vitamin D với mục đích
dự pḥng hay không và họ đă điều trị
những bệnh nhân có mắc bệnh xương như
thế nào (ví dụ: điều trị bằng calcium và
vitamin D hoặc giới thiệu bệnh nhân đến
một chuyên gia về bệnh xương). Những bác sĩ
có kê calcium và vitamin D được chúng tôi đặt câu
hỏi về liều lượng calcium và vitamin D cho
mục đích dự pḥng và điều trị theo 5
khoảng giới hạn liều (từ (500-1500 mg/ngày đối
với calcium và từ <800->50.000 IU/tuần đối
với vitamin D).
Quản
lư cuộc điều tra:
Bản
câu hỏi và qui tŕnh điều tra được phê
chuẩn bởi ủy ban giám sát các công tŕnh nghiên
cứu thuộc bệnh viện Sinai (Baltimore), Hội đồng
nghiên cứu bệnh khớp trên lâm sàng (Joint Commission on
Clinical Investigation), bệnh viện John Hopkins (Baltimore, Md). Trước
đó, cuộc điều tra đă được
khoảng 15 chuyên gia về thần kinh đánh giá. Cuối
năm 1995, chúng tôi tiến hành gủi các bản câu
hỏi theo đường bưu điện trong các bao thư
có dán tem 2 chiều. Khi hưởng ứng cuộc điều
tra, những người tham gia sẽ không được
hưởng một quyền lợi kinh tế nào, họ
cần khoảng 10 phút để trả lời đầy
đủ bản câu hỏi. Sau 8 tuần, chúng tôi gửi
đến những người không trả lời thư
một bản câu hỏi thứ hai kèm theo một bưu
thiếp có giá trị 2 chiều thông báo về việc chưa
nhận được bản trả lời câu hỏi
của họ. Sau 16 tuần, chúng tôi gọi điện
thoại cho những người mà chúng tôi không nhận
được thư thuyết phục họ gửi
bản trả lời câu hỏi cho chúng tôi theo đường
bưu điện hoặc gửi bản sao nội dung
trả lời của họ nếu như bản trả
lời đă gửi của họ bị thất lạc.
Trong một số trường hợp, chúng tôi hoàn toàn
phải điều tra qua điện thoại. Để
đánh giá điểm khác biệt giữa những người
hưởng ứng và không hưởng ứng cuộc
điều tra, chúng tôi đă thu thập qua điện
thoại thông tin về nhân khẩu học từ văn pḥng
làm việc của 30 người không hưởng ứng
được lựa chọn ngẫu nhiên.
Phân
tích dữ liệu:
Nhập
dữ liệu theo phương pháp mù đôi được
sử dụng để ngăn ngừa sai sót khi nhập.
Phép phân tích biến số đôi được sử
dụng để đánh giá mối liên quan giữa cách
thức làm việc của các bác sĩ với thói quen
sử dụng AED của họ và với đặc trưng
nhân khẩu học của họ và bệnh nhân của
họ. Kiểu phân tích hồi qui đa biến logistic
được sử dụng để xác định tương
quan độc lập của các đặc trưng này
với cách thức làm việc của các bác sĩ. Số
bác sĩ có điều trị bệnh xương
được báo cáo như là một phân nhóm của nhóm
bác sĩ có theo dơi bệnh xương. Phần mềm
thống kê SAS (SAS Institute Inc, Cary, NC) được sử
dụng để phân tích dữ liệu.
KẾT
QUẢ:
Hưởng
ứng cuộc điều tra:
Trong
số 726 bác sĩ thần kinh trẻ em và 1500 bác sĩ
thần kinh người lớn được gửi
bản câu hỏi điều tra, tương ứng có 662
và 1315 người nhận được chúng. Trong số
413 bác sĩ thần kinh trẻ em (62%) và 693 bác sĩ
thần kinh người lớn (53%) trả lời hoàn
chỉnh bản câu hỏi tương ứng có 404 và 624
người có đủ tư cách đưa vào nghiên
cứu. Trong số những người hưởng
ứng, 60% trả lời thư gửi lần đầu và
22% trả lời thư gửi lần hai, 18% trả
lời qua điện thoại hoặc phải gửi
bản sao bản trả lời. So sánh những người
hưởng ứng có đủ tư cách với mẫu
ngẫu nhiên 30 người không hưởng ứng cho
thấy 2 nhóm tương tự nhau về tất cả các
đặc tính ngoại trừ sự phân bố về
chủng tộc. Người da trắng chiếm 87% số
người hưởng ứng có đủ tư cách và
63% số người không hưởng ứng (P<0.001).
Đặc
trưng của các bác sĩ hưởng ứng cuộc
điều tra và bệnh nhân của họ:
Hầu
hết bác sĩ là bác sĩ nam, da trắng, tuổi (40
(bảng 1). Khoảng 90% số bác sĩ thần kinh trẻ
em và người lớn đă được xác nhận
về kỹ năng thực hành thần kinh, 95% số bác
sĩ cả 2 nhóm có nhiệm vụ chính yếu là điều
trị lâm sàng. Bác sĩ chuyên khoa thần kinh trẻ em dường
như ưu thế hơn bác sĩ chuyên khoa thần kinh người
lớn về các đặc tính: là giới nữ, chuyên sâu
trong lĩnh vực động kinh học, điều
kiện thực hành tại các trung tâm y khoa lớn trong thành
thị và quản lư hơn 10 bệnh nhân điều
trị AED mỗi tuần. Các bác sĩ trẻ em hầu
hết thường kê toa carbamazepine và Na valproate; c̣n
phenobarbital và các AED “khác” (AED không chuyên biệt)
được các bác sĩ thần kinh trẻ em kê
nhiều hơn là các bác sĩ thần kinh người
lớn. Ngược lại, các bác sĩ thần kinh người
lớn thường kê toa phenytoin cũng như carbamazepine và
valproate. Về đặc trưng nhân khẩu học
của bệnh nhân (bảng 1), so với bác sĩ thần
kinh người lớn, tỉ lệ bệnh nhân không
phải là người da trắng của các bác sĩ chuyên
khoa thần kinh trẻ em chiếm tỉ lệ lớn hơn,
tỉ lệ phân bố giới tính không đều nhau và
một phần nào đó dường như ít phải trả chi phí điều trị
thông qua bảo hiểm y tế tư nhân hơn là bệnh
nhân của bác sĩ chuyên khoa thần kinh người
lớn.
Cách
thức làm việc:
Hầu
hết các phát hiện có ư nghĩa nhất của chúng tôi
đă được tŕnh bày trong bảng 2. Chỉ 1/3
số bác sĩ có đánh giá bệnh xương ở
bệnh nhân điều trị AED, trong đó tỉ lệ
thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán ở các
bác sĩ trẻ em (41%) cao hơn so với các bác sĩ người
lớn (28%). Trong số bác sĩ cả 2 nhóm có theo dơi và
phát hiện được bằng chứng có bệnh xương,
xấp xỉ 40% cho sử dụng calcium và vitamin D, 50%
hoặc cao hơn một chút gửi bệnh nhân đến
các chuyên gia về bệnh xương, 5%-7% không điều
trị cũng không gửi bệnh nhân đến các chuyên
gia, cuối cùng, chỉ có 7%-9% cho điều trị
dự pḥng bằng calcium và vitamin D.
Trong
số 160 bác sĩ thần kinh trẻ em và 174 bác sĩ
thần kinh người lớn có theo dơi bệnh xương
do AED, chỉ 14%-22% thường xuyên (>50% thời gian
một liệu tŕnh điều trị) khai thác lượng
cung cấp calcium và vitamin D và điều kiện tiếp xúc
với ánh nắng mặt trời của bệnh nhân;
1/3-1/2 thường xuyên khai thác thông tin về tiền
sử găy xương và các hoạt động sinh lư
của bệnh nhân; 28%-40% thường xuyên thực
hiện các xét nghiệm định lượng calcium,
phosphate và phosphatase kiềm trong máu cho bệnh nhân. Tỉ
lệ thường xuyên thực hiện các xét nghiệm
thường qui khác là: 7% định lượng ion Ca
trong máu; 3% định lượng PTH hoặc 25-OHD trong máu
(chất chuyển hóa đại diện tốt nhất cho
dự trữ vitamin D trong mô); 6% đo mật độ xương;
2% cho chụp X-quang qui ước. Về điều
trị, nhiều liều lượng calcium và vitamin D khác
nhau được sử dụng cho mục đích điều
trị bệnh xương phát hiện thấy qua quá tŕnh
theo dơi (62 bác sĩ trẻ em và 61 bác sĩ người
lớn) và mục đích dự pḥng bệnh xương
(35 bác sĩ trẻ em và 46 bác sĩ người lớn).
Phép
phân tích đa biến hồi qui logistic đă nêu bật
một vài đặc trưng của số bác sĩ thường
xuyên đánh giá và điều trị bệnh xương
do AED và số bác sĩ có kê toa điều trị dự
pḥng (bảng
3). Đúng như dự đoán, số bác sĩ có
theo dơi bệnh xương do AED dường như cũng
chính là số bác sĩ có kê toa điều trị calcium và
vitamin D nếu bệnh xương được chẩn
đoán và cũng chính là số bác sĩ có kê toa calcium và
vitamin D cho mục đích dự pḥng. Những bác sĩ
thần kinh người lớn có theo dơi và điều
trị bệnh xương có khuynh hướng ít chuyên sâu
trong lĩnh vực động kinh học. Hơn thế
nữa, số bác sĩ thần kinh người lớn có
theo dơi bệnh xương thường thích kê phenobarbital
(không giống như hầu hết các bác sĩ thần
kinh người lớn [bảng 1]) và thường gửi
bệnh nhân đến các chuyên gia về bệnh xương
hơn là giữ họ lại điều trị. Số bác
sĩ thần kinh trẻ em có điều trị calcium và
vitamin D cho những trường hợp mắc bệnh xương
có khuynh hướng nhiều kinh nghiệm hơn (thời
gian thực hành điều trị (10 năm) và thường
kê carbamazepine.
BÀN
LUẬN:
Kết
luận quan trọng nhất của chúng tôi (bảng 2) là
hầu hết các bác sĩ không xem trọng vấn đề
bệnh xương liên quan đến AED và hiếm khi
sử dụng calcium và vitamin D cho bệnh nhân điều
trị AED với mục đích dự pḥng. Ngoài ra, ở
một số ít các bác sĩ có theo dơi và phát hiện
được bệnh xương, hầu hết họ
sẽ điều trị cho bệnh nhân hoặc gửi
họ đến các chuyên gia về bệnh xương.
Một số ít bác sĩ có điều trị dự pḥng
là số tiêu biểu cho nhóm bác sĩ có theo dơi (bảng
3).
Có
những phát hiện có ư nghĩa khác. Ví dụ: tỉ
lệ bác sĩ thần kinh trẻ em có theo dơi bệnh xương
do AED (41%) cao hơn so với bác sĩ thần kinh người
lớn (28%) (bảng 2). Sự chênh lệch này có thể
phản ảnh rằng bác sĩ thần kinh trẻ em có
nhiều kinh nghiệm điều trị động kinh hơn
bác sĩ thần kinh người lớn bởi v́ chúng tôi
nhận thấy bác sĩ thần kinh trẻ em điều
trị nhiều bệnh nhân động kinh hơn và chuyên
sâu trong lĩnh vực động kinh học hơn là bác
sĩ thần kinh người lớn (bảng 1). Chúng tôi cũng
nhận thấy rằng giữa 2 nhóm có khác nhau trong
vấn đề kê toa. Các bác sĩ thần kinh người
lớn thường kê phenytoin trong khi các bác sĩ thần
kinh trẻ em có khuynh hướng tránh sử dụng
thuốc này (bảng 1). Mặc dù không rơ lư do nhưng
khuynh hướng điều trị này có thể liên quan
đến nhận thức của các bác sĩ thần kinh
trẻ em trong vấn đề ảnh hưởng xấu
về thẩm mỹ của việc điều trị
phenytoin kéo dài (ví dụ: méo mó xương vùng sọ
mặt) hơn là quan tâm đến vấn đề
bệnh xương do phenytoin.
Có
những yếu tố có thể làm giảm giá trị các
kết luận của chúng tôi. Trong kiểu điều tra
dựa trên bản tự báo cáo của đối tượng
tham gia th́ một số người tham gia có thể
trả lời không chính xác các câu hỏi, đặc
biệt là khi họ nghi ngờ rằng cách thức làm
việc của họ đă không làm thỏa măn người
khác. Mộy yếu tố khác là tỉ lệ hưởng
ứng cuộc điều tra của các bác sĩ thần
kinh người lớn (53%) ít hơn so với các bác sĩ
thần kinh trẻ em (62%). Tuy nhiên, giả sử như
phần lớn số bác sĩ thần kinh người
lớn không hưởng ứng cuộc điều tra ít
quan tâm đến vấn đề bệnh xương do
AED th́ ư nghĩa trong các kết luận của chúng tôi
vẫn không thay đổi. C̣n ngược lại, giả
sử như tất cả số bác sĩ thần kinh
cả trẻ em lẫn người lớn không hưởng
ứng cuộc điều tra đều thật sự có
theo dơi bệnh xương đi chăng nữa th́ cũng
vẫn sẽ có xấp xỉ 40% số bác sĩ mỗi nhóm
là không có theo dơi. Những phát hiện của chúng tôi quá
rơ ràng đến nỗi bất cứ một sai số nào
xuất phát từ h́nh thức tự báo cáo cũng không
thể gây ảnh hưởng có ư nghĩa lên kết
luận của ḿnh.
Chúng
tôi đưa ra 2 lư do có thể giải thích tại sao các
bác sĩ chuyên khoa thần kinh đă không lưu ư đến
bệnh xương do AED: y văn ít đề cập
một cách rơ ràng đến vấn đề này và
họ không biết chắc rằng ảnh hưởng
của AED lên xương có phải là vấn đề lâm
sàng quan trọng hay không. Y văn ít cung cấp cho chúng ta cơ
sở của vấn đề này. Hầu hết các nghiên
cứu, kể cả những nghiên cứu gần đây,
ủng hộ giả thiết AED ảnh hưởng lên
nồng độ calcium, 25-OHD và PTH trong máu; giảm
khối lượng xương; thay đổi h́nh thái
học mô phôi. Một số ít nghiên cứu không ủng
hộ giả thiết này, hầu hết trong số chúng có
thể đă giải thích vấn đề theo quan điểm
mà chúng cho là đúng như được mô tả trong các
đoạn văn dưới đây.
Một
vấn đề đặt ra là việc sử dụng các
biến số không đủ độ nhạy để
phát hiện bệnh xương. Lấy ví dụ, Livingston
và CS đă báo cáo rằng không có bằng chứng
thuyết phục về bệnh xương trong suốt 36
năm kinh nghiệm điều trị 15.000 bệnh nhân
đi lại được điều trị AED kéo dài.
Kết luận của họ dựa trên các xét nghiệm
sinh hóa máu (định lượng calcium, phosphate và
phosphatase kiềm), X-quang (X-quang xương sọ). Cho đến
nay, người ta thừa nhận rằng hi vọng phát
hiện được bệnh xương và thay đổi
chất khoáng ở xương ở những bệnh nhân
đi lại được là một hi vọng quá
thiếu nhạy cảm. Tương tự, Akin và CS
kết luận rằng AED không gây ảnh hưởng lên
khối lượng xương bởi v́ họ không
thể phát hiện được những thay đổi
mật độ xương đo tại cột sống
thắt lưng (nghĩa là xương xốp) ở
bệnh nhi điều trị AED. Đây là một kết
luận không hợp lư bởi v́ AED ảnh hưởng
chủ yếu lên xương vùng vỏ chứ không
phải xương vùng tủy.
Một
vấn đề khác là thất bại của một vài
nghiên cứu trong việc kiểm soát những biến
số có ảnh hưởng tiềm tàng lên xương như
lượng cung cấp calcium và vitamin D, t́nh trạng
thiếu trọng lực, dinh dưỡng và điều
kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Những yếu tố gây nhầm lẫn khác là: giá
trị 25-OHD từ các pḥng xét nghiệm khác nhau không
thể được đem so sánh với nhau, không có
định nghĩa thiếu vitamin D nào (nghĩa là giá
trị định lượng vitamin D tham khảo) là hoàn
toàn chính xác. Lấy ví dụ, hầu hết các pḥng xét
nghiệm xem mức xấp xỉ 25 nmol/L là giới hạn
dưới của giá trị 25-OHD b́nh thường trong máu
nhưng chúng ta biết rằng mức 25-OHD trong máu dưới
xấp xỉ 50 nmol/L mới kích thích tăng tiết PTH bù
trừ. Những lẫn lộn về 25-OHD trong máu như
vậy có thể giúp giải thích việc tại sao
Ala-Houhala và CS đă báo cáo rằng giá trị 25-OHD trong máu
mùa đông từ 25-42 nmol/L ở bệnh nhân thanh niên
đi lại được có điều trị AED là b́nh
thường chứ không phải thấp.
Mặc
dù có những khó khăn khi phân tích dữ liệu nhưng
kết quả từ nhiều nghiên cứu đă cho
thấy rằng giảm khối lượng xương
xảy ra ở những bệnh nhân điều trị AED
và những bệnh nhân trẻ em lẫn người
lớn được điều trị bằng một
số AED có ảnh hưởng lên men gan đ̣i hỏi gia
tăng đáng kể nhu cầu vitamin D (có thể lên đến
4000 IU/ngày). Mặc dù valproate và carbamazepine được
xem là tương đối “lành tính đối với xương”
khi so sánh với phenytoin và phenobarbital nhưng kết
quả từ các nghiên cứu gần đây cho thấy các
thuốc này cũng có thể làm giảm khối lượng
xương. Ngay cả một số AED mới hơn (như
gabapentin, topiramate, lamotrigine, kể cả các thuốc trong nhóm
“các thuốc khác” đề cập trong cuộc điều
tra này) cũng có thể làm giảm mật độ xương.
Bởi v́ giảm khối lượng xương và
thiếu hụt vitamin D tạo nên các yếu tố nguy cơ
độc lập gây găy xương nên có thể xem
rằng tất cả các AED làm tăng nguy cơ găy xương
đến một mức giới hạn nào đó. Điều
trị AED kéo dài nói chung thúc đẩy sự mất xương
và điều trị bằng các thuốc có ảnh hưởng
đến men gan nói riêng khiến đ̣i hỏi phải
bổ sung thêm vitamin D cho những bệnh nhân có thể
vốn có sẵn thiếu hụt vitamin D tiềm tàng.
Những bệnh nhân không đi lại được (và
v́ vậy không tiếp xúc với ánh nắng mặt
trời) hầu hết dễ bị thiếu hụt vitamin
D, giảm khối lượng xương và găy xương
tái đi tái lại. Ngoài ra, ngay cả với những
bệnh nhân người lớn đi lại được
tiếp xúc đầy đủ với ánh nắng mặt
trời và có hoạt động sinh lư b́nh thường
khi điều trị AED dường như cũng tăng
nguy cơ bị găy xương không có liên quan tới các
cơn động kinh.
Mặc
dù đă có những thông tin có giá trị về ảnh hưởng
bất lợi của trị liệu AED trên chuyển hóa xương
nhưng người ta vẫn tiếp tục đặt ra
câu hỏi đề cập đến việc có cần
thiết phải theo dơi bệnh xương hay không, phương
pháp điều trị hợp lư là ǵ, có nên điều
trị dự pḥng bằng calcium và vitamin D hay không. Có
cần thiết phải theo dơi hay không? Mặc dù chưa có
phân tích về lợi ích kinh tế của việc theo dơi
nhưng chúng tôi chủ trương định lượng
25-OHD trong máu cho những bệnh nhân không đi lại
được vốn là đối tượng có nguy cơ
thiếu hụt vitamin D cao nhất. Dù không có sự
thống nhất kết quả giữa các pḥng xét
nghiệm nhưng đây vẫn là xét nghiệm nhạy
nhất và chuyên biệt nhất (không kể sinh thiết xương)
để chẩn đoán loăng xương do thiếu
vitamin D. Cách làm này sẽ giúp xác định được
những bệnh nhân có thiếu hụt vitamin D nghiêm
trọng đ̣i hỏi phải được điều
trị bằng vitamin D dưới h́nh thức dược
liệu. Trên khía cạnh khác, đối với những
bệnh nhân đi lại được không có tiền
sử găy xương hoặc các yếu tố nguy cơ khác,
một chiến lược hợp lư là bỏ qua việc
theo dơi bệnh xương và tiến hành điều
trị dự pḥng calcium và vitamin D theo kinh nghiệm.
Bởi
v́ không có khuyến cáo chính thức điều trị
calcium và vitamin D cho những bệnh nhân có sử dụng
AED nên chúng tôi cho rằng điều khôn ngoan nhất trong
lúc này là tuân theo khuyến cáo của Viện y học
(Institute of Medicine) về lượng cung cấp calcium và
vitamin D trong dân số chung. Ví dụ: từ 51-70 tuổi
cần điều trị 1200 mg calcium/ngày và 400 IU vitamin
D/ngày. Sử dụng liều calcium như vậy có thể
ức chế quá tŕnh hấp thu AED, v́ vậy tổng
liều calcium nói trên nên được uống thành
nhiều lần trong ngày. Bởi v́ hầu hết các nghiên
cứu đều cho thấy nguy cơ mất xương
khi điều trị AED nên chúng tôi đề nghị theo
dơi mật độ xương để đảm
bảo rằng mật độ xương vẫn không
đổi trong suốt liệu tŕnh điều trị AED.
Phát
hiện và điều trị bệnh xương do AED và
ngăn chặn diễn tiến của nó có ư nghĩa quan
trọng với sức khỏe cộng đồng. Ở
Mỹ, tỉ lệ bị động kinh ở lứa
tuổi dưới 60 là 0.6%-0.9%, tăng lên đến 1.5%
ở lứa tuổi 80. Như vậy, người lớn
tuổi (vốn sẵn có nguy cơ cao bị loăng xương)
thuộc nhóm phát triển bệnh động kinh nhanh
nhất. Giả sử phần lớn bệnh nhân động
kinh được điều trị bằng AED và tỉ
lệ mắc bệnh xương do AED xấp xỉ 50% th́
sẽ có một dân số khá lớn tăng nguy cơ
bị găy xương. Đấy là chưa kể số
liệu trong cuộc điều tra này không bao hàm một dân
số lớn sử dụng AED cho các mục đích khác
(ví dụ: điều trị đau căn nguyên thần
kinh hoặc các rối loạn tâm thần). Chúng tôi
thừa nhận rằng theo dơi chặt chẽ lượng
cung cấp calcium và vitamin D hàng ngày sẽ là phương
thức điều trị ít tốn kém và an toàn nhằm
giảm thiểu nguy cơ găy xương. Nhấn mạnh
điều này, chúng tôi muốn lưu ư các bác sĩ
đang điều trị AED nên chú tâm đến ảnh
hưởng trên xương do thuốc ở bệnh nhân
của họ. Cuối cùng, cần thiết phải có
một thử nghiệm tiền cứu được
kiểm chứng chặt chẽ để khẳng định
những ảnh hưởng rơ ràng của AED trên xương,
lợi ích của việc theo dơi bệnh xương và
hiệu quả của điều trị dự pḥng
bằng calcium và vitamin D.

Bảng
1: Các đặc trưng
của những người hưởng ứng cuộc
điều tra có đủ tư cách và bệnh nhân
của họ