THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

DongKinh4

Home Up Feedback Contents Search

 

DongKinh5

Tổng quan

NHỮNG TIẾN BỘ TRONG ĐỘNG KINH HỌC TRẺ EM

BS Nguyễn Thanh Thủy, Y Học TP. Hồ Chí Minh* Số Chuyên Đề Động Kinh -Tập 6 -Phụ Bản Số 3 -2002

Trong những năm gần đây, những bước tiến rơ rệt nhanh chóng trong sự hiểu biết cơ chế của bệnh động kinh (ĐK), cơ chế của rối loạn  nhận thức, sự nhận ra các hội chứng, tiến bộ trong việc sử dụng thuốc và sự ra đời của các phương thức trị liệu mới với các chỉ định tương đối chọn lọc cho các loại động kinh, trong kỹ thuật giải phẫu đă dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong lănh vực động kinh trẻ em.

SINH LƯ BỆNH VÀ CĂN NGUYÊN

Sinh lư bệnh

Sinh lư bệnh học của động kinh  có nhiều khía cạnh phức tạp và c̣n dựa một phần trên một số giả thuyết. Nói chung động kinh là do sự kích thích nơron quá mức hay do giảm ức che.á 13,19 Phần lớn trường hợp có sự tăng hoạt động đồng th́ của một số nơron có chức năng nhất định. Trong các trường hợp khác, một nhóm nơron, không c̣n liên hệ với mạng nơron b́nh thường, biểu lộ hoạt động tự phát và nhịp nhàng.

Căn nguyên

Có thể xếp thành 3 loại

Thương tổn vỏ năo: Các thương tổn vỏ năo gây động kinh là rất đa dạng, không phải lúc nào cũng phát hiện được nhờ cộng hưởng từ.

Bẩm chất di truyền: Đa số các động kinh thường do đa tác nhân (multifactoriel) trong đó có sự góp phần của các yếu tố môi trường. Tuy nhiên các động kinh vô căn tương quan chặt chẽ với bẩm chất di truyền. Những thể gia đ́nh di truyền đơn giản đơn gien có kiểu di truyền Mendel. Trong các động kinh có kiểu h́nh di truyền phức tạp đa gien không thể nhận biết các gien gây bệnh mà chỉ biết được sự liên kết với nhiễm sắc thể. Các khám phá trong lănh vực di truyền phân tử làm sáng tỏ vai tṛ căn nguyên trong các hội chứng động kinh của các đột biến gien mă hóa cho các kênh ion phụ thuộc vào điện thế hay chất dẫn truyền thần kinh.

Cho đến nay ba gien đă được nhận biết trong ba hội chứng động kinh di truyền theo tính trội (6,13,18) là gien của tiểu đơn vị (4 của thụ thể nicotin trong động kinh thuỳ trán  với các cơn ban đêm (ADNFLE), gien mă hóa cho hai kênh K+ gây các cơn co giật sơ sinh lành tính gia đ́nh (BFNC), gien của tiểu đơn vị (1 của kênh Na+ phụ thuộc vào điện thế trong  động kinh toàn thể và co giật do sốt cao cộng (GEFS+). Bảng 1 tŕnh bày các locus gien của một số động kinh di truyền đă biết đến ngày hôm nay.

Sự trưởng thành của năo bộ: Hiện tượng trưởng thành được đặc trưng bởi tính tăng kích thích (hyperexcitabilité), sự thừa tạm thời của các sinap và các sợi trục bên, sự myêlin hóa chưa đầy đủ. Sự trưởng thành xảy ra sớm  nhất ở các vùng phía sau, muộn nhất là thùy trán (khoảng 6 tháng-2 tuổi). Ở giai đoạn sau sanh có sự mất thăng bằng thoáng qua trong sự trưởng thành giữa các đường hoạt hóa và ức chế làm tăng tính kích thích, đưa tới trạng thái dễ bị co giật. Ư nghĩa của hiện tượng này là:

Động kinh có biểu hiện triệu chứng và diễn tiến đặc biệt khi xảy ra vào lúc khởi sự trưởng thành của năo.

Các tổn thương gây động kinh có thể chỉ biểu hiện khi vùng có tổn thương đó trở nên trưởng thành, tổn thương ở thùy trán biểu hiện muộn hơn tổn thương ở thùy chẩm.

Nếu ổ động kinh ở vùng chức năng đang trong thời kỳ phát triển, vùng này sẽ bị rối loạn nặng nề và kéo dài.

Ngược lại, sau giai đoạn trưởng thành nhanh chóng, vào cuối thập niên đầu, khuynh hướng dễ bị động kinh giảm, bệnh sẽ ngưng tự phát.25

Bảng 1. Động kinh và di truyền

Hội chứng

Liên kết

Gien

BFNC (Benign familial neonatal convulsions)

Co giật lành tính GĐ ở trẻ sơ sinh

20q13 (Singh và cộng sự   1998)

8q24 (Charlier và cộng sự 1998)

KCNQ2 (kênh K+)

 

KCNQ3 (kênh K+)

BFIC (Benign familial infantile convulsions)

Co giật lành tính GĐ ở trẻ nhỏ

19q (Guipponi và cộng sự 1997)

 

 

 

ADNFLE

ĐK thùy trán về đêm có tính GĐ DTTT

20q13 (Phillips và cộng sự 1995)

15q24 (Phillips và cộng sự 1998)

CHRNA4

(thụ thể nicotinique)

AD partial epilepsy with auditive hallucinations

ĐK cục bộ DTTT với ảo giác thính giác

10q (Ottman và cộng sự 1995)

 

 

AD partial epilepsy with variable foci

ĐK cục bộ DTTT với các ổ khác nhau

2 (Scheffer và cộng sự 1998)

 

 

Co giật do sốt

8q (FEB1) (Wallace và cộng sự 1996)

19q (FEB2) (Johnson và cộng sự 1998)

 

“GEFS+

“Co giật do sốt cộng”

2q (Lopes-Cendes và cộng sự 1995)

19q (Wallace và cộng sự 1998)

SCN1B (kênh Na+)

ĐK cục bộ lành tính ở trẻ em với gai nhọn vùng rolando.

15q14 (Neubauer và cộng sự 1998)

 

Idiopathic generalized epilepsy (IGE)

ĐK toàn thể vô căn

8q24 (Zara và cộng sự 1995)

 

IGE (Juvenile myoclonic epilepsy JME)

ĐK giật cơ ở thiếu niên.

6p21 (EJM1) (Sander và cộng sự 1997)

6p11 (Serratosa và cộng sự 1996)

 

IGE (khởi đầu ở thanh niên không có JME)

8p11-12 (Durner và cộng sự 1999)

 

 


THAY ĐỔI TRONG PHÂN LOẠI

Các hội chứng động kinh di truyền theo tính trội

Các cơn co giật co giật lành tính ở trẻ nhỏ có tính gia đ́nh (benign familial infantile convulsions (BFIC)24 di truyền theo tính trội, khởi phát giữa 4 và 8 tháng tuổi ( trung b́nh 6 tháng tuổi) với các cơn ngắn dưới 5 phút, xảy ra hàng loạt có thể đến 10 cơn kể cả lúc thức và lúc ngủ trong 2-3 ngày liên tiếp. Cơn cục bộ, toàn thể hóa thứ phát. EEG ngoài cơn b́nh thường.

Động kinh cục bộ với các ổ khác nhau di truyền theo tính trội (autosomal dominant partial epilepsy with variable foci).

Động kinh thùy trán ban đêm di truyền theo tính trội (autosomal dominant nocturnal        frontal lobe epilepsy) (ADNFLE).

Động kinh thùy thái dương có tính gia đ́nh (familial temporal lobe epilepsy).

Động kinh vùng Rolando với rối loạn ngôn ngữ di truyền theo tính trội (autosomal      dominant Rolandic epilepsy with speech dyspraxia).

Động kinh toàn thể và các cơn co giật do sốt cao cộng (Generalized    epilepsy and febrile seizures plus: GEFS+) di truyền theo tính trội với các cơn co giật do sốt phối hợp với các cơn co giật không sốt (cơn co cứng co giật, vắng ư thức, giật cơ, mất trương lực, giật cơ-mất trương lực).

Các hội chứng động kinh mới khác

Động kinh với cơn cục bộ di chuyển ở trẻ nhũ nhi (Migrating partial seizures in infancy)4  được mô tả lần đầu tiên vào năm 1995. Khởi đầu trước 6 tháng tuổi bởi các cơn co giật cục bộ ngắn khoảng 1 đến vài phút với vị trí thay đổi tùy lúc, di chuyển từ vùng này sang vùng khác ở một hay hai bán cầu. Các cơn rất đa dạng, xảy ra thành từng đợt kéo dài nhiều ngày hay nhiều tháng, xen kẽ với những giai đoạn ngưng cơn. Căn nguyên không rơ. Vidéo/EEG cho thấy rơ mối liên hệ giữa vị trí của ổ cục bộ (đặc trưng bởi sóng théta nhịp nhàng) và biểu hiện lâm sàng. Phát triển tâm thần vận động ngày càng suy thoái đi kèm với giảm trương lực thân và tứ chi nặng. Điều trị duy nhất hiệu quả là Benzodiazepine với liều rất cao.

Động kinh lành tính thùy chẩm ( chilhood epilepsy with occipital spikes)15 được xếp vào nhóm các đông kinh cục bộ lành tính. Khởi phát ở trẻ từ 2 đến 12 tuổi (trung b́nh là 5 tuổi). Cơn xảy ra không thường xuyên với các biểu hiện hành vi và thực vật, ói, hai mắt nh́n về một phía, kèm giảm hay mất ư thức  kéo dài vài phút đến vài giờ. Tiên lượng tốt, hồi phục trong ṿng 1 đến 2 năm sau khi khởi phát. Cần chẩn đoán phân biệt dạng lành tính này với dạng diễn tiến không nhất định xảy ra ở trẻ 8 tuổi 11. Cơn xảy ra thường xuyên, kéo dài vài giây đến 1-3 phút với các ảo  giác thị giác.  Tỷ lệ hồi phục chỉ trong 50-60% trường hợp.

ĐỘNG KINH VÀ RỐI LOẠN NHẬN THỨC

Các động kinh ở trẻ em có thể ảnh hưởng trên khả năng trí tuệ.5,9,12  Tùy theo nguyên nhân gây động kinh, loại động kinh và hội chứng, và định vị của ổ động kinh mà sẽ gây các rối loạn đặc hiệu. Ngoài ra cũng phải kể đến sự góp phần của tác dụng phụ của các thuốc chống động kinh và các yếu tố môi trường. Bệnh năo do ĐK là sự rối loạn chức năng của năo do động kinh, gặp trong các hội chứng động kinh khác nhau tùy theo tuổi của trẻ 10  và có thể do: 

Các cơn động kinh tái đi tái lại rất thường xuyên, nặng như trong bệnh động kinh giật cơ nặng ở trẻ nhũ nhi (severe myoclonic epilepsy in infancy) trong đó trẻ bị co giật vào khoảng 2-10 tháng tuổi với các t́nh trạng động kinh liên tục, và trong động kinh với các cơn cục bộ di chuyển ở trẻ nhũ nhi khởi đầu trong ṿng 6 tháng tuổi bởi các cơn cục bộ hầu như liên tục ở các vùng khác nhau của vỏ năo.

Hay do các bất thường kịch phát lan tỏa, hầu như liên tục trên điện năo đồ ngoài cơn  có thể có hay không có kèm theo các cơn co giật dẫn đến các rối loạn nặng về vận động, giác quan hay nhận thức tùy theo định vị ưu thế của ổ kịch phát. Các ví dụ minh hoạ gồm có:  hội chứng động kinh ở trẻ sơ sinh với suppresssion-burst là hội chứng Ohtahara và bệnh năo giật cơ sớm; hội chứng West ở trẻ nhũ nhi; hội chứng Lennox-Gastaut (5) ở trẻ em với các cơn toàn thể và gai nhọn-sóng chậm; động kinh giật cơ-mất trương lực hay gai nhọn-sóng liên tục trong giấc ngủ chậm (continuous spike-waves in slow sleep: CSWS) kết hợp với các dạng tâm thần kinh khác nhau như hội chứng Landau Kleffner, hội chứng thùy trán, rối loạn thực dụng vùng miệng mặt.(20,23

Điều trị sớm là điều kiện quan trọng để ngăn ngừa sự trầm trọng của bệnh năo do động kinh.

ĐIỀU TRỊ

Với sự hiểu biết rơ hơn về các cơ chế sinh động kinh, việc sử dụng hiện nay các thuốc chống động kinh không c̣n đơn thuần chỉ dựa trên kinh nghiệm như trước đây mà phải dựa trên sinh lư bệnh: cơ chế tác động của các thuốc chống động kinh và dựa trên đặc điểm phân loại cơn và hội chứng động kinh. Các thuốc chống động kinh tác động theo ba cơ chế gồm (1) giảm tính kích thích thông qua ức chế hệ glutamat lực, (2) gia tăng ức chế thông qua sự tăng hoạt tính của hệ GABA lực và (3) điều hoà sự di chuyển ion Na+, Ca+ và K+ tại màng nơron. Bảng 2 tŕnh bày cơ chế tác động của một số thuốc chống động kinh.

Bảng 2. cơ chế tác độbg của các thuốc chống động kinh

 

Kháng Glutamate

Tăng GABA

Chẹn kênh Na

Chẹn Ca2+

Topiramate

+

+

+

+

Vigabatrin

 

+

(ức chếGABA-T)

 

 

Lamotrigine

+

( phóng thích

 

+

 

Oxcarbazepine

+

( phóng thích

 

+

 

Gabapentin

+

( tổng hợp

±

±

ức chế gián tiếp

 

Tiagabine

 

+

 

 

Felbamate

+

+

+

 


Chẩn đoán xác định loại hội chứng động kinh, hay ít ra là loại cơn động kinh là cần thiết để có thể lựa chọn được loại thuốc thích hợp. Vài ví dụ minh hoạ gồm có vigabatrin trong hội chứng West triệu chứng, lamotrigine trong hội chứng Lennox-Gastaut.8 Ngoài ra, sai lầm trong việc lựa chọn thuốc có thể làm bệnh nặng hơn.2,17 Động kinh kháng trị cũng là một t́nh huống trong đó chỉ định thuốc điều trị lúc đầu là không phù hợp do chẩn đoán sai hội chứng động kinh.2 Bảng 3 tŕnh bày các loại thuốc chống động kinh có tác dụng làm nặng cơn khi được sử dụng không sát hợp.

Bảng 3. Các thuốc chống động kinh và cơn nặng hơn do thuốc

Thuốc chống động kinh

Làm cơn động kinh trở nặng

Carbamazepine

Clonazepam

Lamotrigine

Phenobarbital

Phenytoine

Vigabatrin

Tiagabine

Gabapentin

Cơn vắng & cơn giật cơ

Cơn co cứng toàn thể

Cơn giật cơ

Cơn vắng

Cơn vắng

Cơn vắng & cơn giật cơ

Cơn vắng & cơn giật cơ

Cơn giật cơ


CÁC THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH MỚI

Sự ra đời của các thuốc mới như vigabatrin, lamotrigine, topiramate, oxcarbazepine, tiagabine, gabapentin, felbamate… đă cho phép người  ta có nhiều chọn lựa hơn trong điều trị động kinh. Việc điều trị ngày càng trở nên hợp lư với thuốc đặc hiệu cho các hội chứng động kinh.8,16.26,27 Các thuốc mới có các ưu điểm là có đặc tính dược động học tốt, ít hay không tương tác với các thuốc khác, dung nhận tốt hơn (nhất là về nhận thức). Vài thuốc có phổ tác dụng rộng (lamotrigine, topiramate), nhưng không phải là những thuốc đầu tay được lựa chọn. Các thuốc mới này c̣n cần được đánh giá rộng răi hơn để xác định rơ hơn liều lượng, nguy cơ, dung nhận về lâu dài, các chỉ định ở trẻ em.

Bảng 4. đặc điểm sử dụng của các thuốc chống động kinh mới

 

Phổ tác dụng

Chỉ định

Tác dụng phụ

Thận trọng

 

Vigabatrin

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

 - được thêm vào ngay khi  đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước

 - HC West

Tăng cân

Cẩn thận ở Bn có tiền sử bị tâm thần .

Lamotrigine

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

ĐK toàn thể

 - được thêm vào ngay khi  đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước

Phát ban ngoài da

 

Dùng liều thấp khi phối hợp với Valproate

Topiramate

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

ĐK toàn thể

- Điều trị thêm vào

(adjunctive therapy)

- HC Lennox-Gastaut

 

 

Cẩn thận ở Bn có tiền sử bị tâm thần và sỏi thận

Oxcarbazepine

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

Điều trị thêm vào

(adjunctive therapy)

Đơn trị như thuốc đầu tay?

Dị ứng da

Giảm Na máu

Dung nhận tốt hơn carbamazepine

Tiagabine

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

Điều trị thêm vào

(adjunctive therapy)

 

Cẩn thận ở Bn có rối loạn hành vi nặng, lo lắng hay trầm cảm

Gabapentine

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

- được thêm vào ngay khi  đơn trị liệu thất bại với các thuốc quy ước

 

Cẩn thận ở Bn có nhiều loại cơn bao gồm cơn vắng ư thức.

Felbamate

ĐK cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa thứ phát)

ĐK toàn thể triệu chứng

HC Lennox-Gastaut

Nhức đầu, giảm cân, suy tủy, suy gan

Chỉ dùng ở BV. Phải theo dơi sát huyết đồ và chức năng gan.


Các thuốc chống động kinh mới có thể được sử dụng đơn trị? Câu trả lời là có. Ngược lại, chúng không thể được sử dụng như thuốc đầu tay, trừ trường hợp ngoại lệ. Thường được chỉ định trong điều trị các động kinh khó kiểm soát bằng cách thêm vào với các thuốc kháng động kinh thông thường (add-on therapy) và trong trường hợp hiệu quả, có thể được duy tŕ đơn trị. Chỉ trong vài dạng động kinh, việc sử dụng đơn trị một trong các thuốc mới này được đặt ra ngay từ đầu. Ví dụ: Vigabatrin trong hội chứng West. 3,12,26 Những dữ kiện đơn trị sử dụng 1 vài thuốc mới như thuốc đầu tay đă cho thấy hiệu quả tương đương với các thuốc quy ước nhưng với dung nhận tốt hơn. 1,21

Khái niệm về đa trị liệu hợp lư (rational polytherapy).Một vài phối hợp điều trị với các thuốc chống động kinh mới có tác động đặc hiệu chứng tỏ tính hiệu quả hơn hẳn nhờ tác dụng hiệp đồng đăïc biệt  trên hội chứng động kinh nào đó. Ví dụ: Phối hợp valproate-lamotrigine trong động kinh giật cơ-mất trương lực, hội chứng Lennox-Gastaut; Stiripentol phối hợp với valproate và clobazam trong động kinh giật cơ nặng ở trẻ nhũ nhi. 16 

CÁC PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC

Chế độ ăn sinh ceton (Ketogenic diet) được sử dụng từ lâu và hiện nay đang được nghiên cứu sử dụng trong các động kinh đề kháng thuốc.9,22

Kích thích thần kinh phế vị được chỉ định trong các động kinh kháng thuốc, có thể được đề nghị ở trẻ dưới 3 tuổi khi không thể phẫu thuật. Nói chung, chỉ định c̣n phải được xác định. 9

Phẫu thuật được xét đến khi động kinh không được kiểm soát bằng điều trị nội (<20%  các động kinh kháng thuốc ở trẻ em, đa số là các động kinh cục bộ do thương tổn). 7 Điều trị phẫu thuật tận gốc gồm có hai phương thức là cắt bỏ ổ tổn thương, phẫu thuật hemispherotomy để tách rời liên hệ với vùng sinh động kinh. Để gián đoạn mối liên hệ của ổ động kinh với các vùng khác của năo bộ phậu thuật cắt thể chai (callosotomy) được sử dụng trong các động kinh đa ổ hay toàn thể với các cơn thường xuyên gây té ngă. Phẫu thuật transsection sous-pial cũng là một phương pháp khác được áp dụng tại các vùng chức năng.14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.       Baulac M, Arzimanoglou A, Semah F, Cavalcanti D. (1997) Options thérapeutiques offertes par les nouveaux médicaments antiépileptiques. Rev Neurol, 153:121-33. Paris.

2.       Bednarek N, Motte J. (1999) Traitements et surveillance des épilepsies de l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1526-31.

3.       Chiron C, Dumas C, Jambaque I, Mumford J, Dulac O. (1997). Randomized trial comparing vigabatrin and hydrocortisone in infantile spasms due to tuberous sclerosis. Epilepsy Res 26: 389-395.

4.       Coppola G, Plouin P, Chiron C, Robain O, Dulac O. (1995) Migrating partial seizures in infancy; a malignant disorder with development arrest. Epilepsia, 36:1017-24.

5.       Dulac O and Nguyen T. (1993) The Lennox-Gastaut Syndrome. Epilepsia, 34(Suppl.7):S7-S17.

6.       Dulac O, Bulteau C, Malafosse A et al. (1995). Génétique des épilepsies de l’enfant. Arch.Pédiatr; 2:306-9.

7.       Dulac O, Delalande O, Pinard JM, Jalin C, Plouin P, Jambaqué I, Chiron C, Cieuta C. (1996). Problèmes posés par la neurochirurgie de l’épilepsie de l’enfant. Arch Pédiatr, 3:369-77.

8.       Dulac O, Kaminska A. (1997). Use of lamotrigine in Lennox-Gastaut and related epilepsiey syndromes. J Child Neurol, 12 Suppl 1:S23-S28.

9.       Dulac O. (1999). Nouveautes dans les epilepsies de l’enfant. J Pédiatr Puériculture, 12:431-2.

10.   Dulac O. (2001). Epileptic encephalopathy. Epilepsia, 42 Suppl 3:23-6.

11.   Gastaut H. (1992). Eùpilepsie bénigne de l’enfance avec paroxysmes occipitaux. In : Roger J, Bureau M, Dravet C, Dreiffuss Fe, Perret A, Wolf P (eds). Les Syndromes Eùpileptiques De L’enfant Et De L’adolescent, 2 E Edition, Pp 201-17. John Libbey & Company Ltd. Paris.

12.   Jambaqué I, Chiron C, Dumas C, Mumford J, Dulac O. (2000) Mental and behavioural outcome of infantile epilepsy treated by vigabatrin in tuberous scsclerosis patients, Epilepsy Res 38: 151-160.

13.   McNamara James O. (1999). Vers une meilleure compréhension de la genèse de l’épilepsie. Nature, 399 (suppl):A15-A22.

14.   Morell F, Whisler WW, Smith MC, Hoeppner TJ, de Toledo-Morell L, Pierre-louis Sj, Kanner AM, Buelow Jm, Ristanovic R, Bergen D, et al. (1995) Landau-Kleffner syndrome. Treatment with subpial intracortical transection. Brain, 118:1529-46.

15.   Panayiotopoulos Chrysostomos P. (2000). Benign chilhood epileptic syndromes with occipital spikes: new classification proposed by the international league agaisnt epilepsy. Journal of Child Neurology, 15:548-52.

16.   Perez J, Chiron C, Musial C, Rey E, Blehaut H, d’Athis P, Vincent J, Dulac O. (1999).  Stiripentol: efficacy and tolerability in children with epilepsy. Epilepsia, 40: 1618-26.

17.   Perruca E, Gram L, Avanzani G, Dulac O. (1998). Antiepileptic drugs as a cause of worsening seizures. Epilepsia, 39:5-17.

18.   Piccard F. (2000). Epilepsie et génétique. La Lettre du Neurologue. Numéro spécial – avril; 21-3.

19.   Repressa A. (1998). Mécanismes fondamentaux de l’épileptogenèse. In: Michel Arthuis, Olivier Dulac, Gerard Ponsot, Nicole Pinsard, Josette Mancini (eds). Neurologie Pédiatrique, Vol 15. 2e edition, pp 351-362. Flammarion. Medecine-Sciences. Paris.

20.   Roulet Perez E, Davidoff V, Despland PA, Deonna T. (1993). Mental and behavioural deterioration of chidren with epilepsy and CSWS: acquired epileptic frontal syndrome. Dev Med Chid Neurol, 35: 661-74.

21.   Sachdeo RC, Reife RA, Lim P, et al. (1997). Topiramate monotherapy for partial onset seizures. Epilepsia, 38:294-300.

22.   Schwartzkroin Philip A. (1999). Mechanisms underlying the anti-epileptic efficacy of the  ketogenic diet. Epilepsy research, 37:171-180.

23.   Veggiotti Pierangelo, Beccaria Francesca, Guerrini Renzo et al. (1999). Continuous Spike- and-Wave activity during Slow-Wave Sleep: syndrome or EEG pattern? Epilepsia, 40(11):1593-1601.

24.   Vigevano F, Sebastianelli R, Fusco L et al. (1994). Benign infantile familial convulsions. In: Malafosse A, Genton P. Hirsch E, Marescaux C, Broglin D, Bernasconi R (eds). In: Idiopathic Generalized Epilepsies: Clinical, Experimental And Genetic Aspects, pp 7-18. John Libbey & Company Ltd. Paris

25.   Villeneuve N. (1999). Physiopathologie et étiologique des épilepsies de l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1500-06.

26.   Villeuneuve N, Soufflet  C, Plouin P, et al. (1998). Traitement des spasmes infantiles par vigabatrin en premiere intention et en monotherapie: à propos de 70 nourissons. Arch Pediatr, 5:731-8.

27.   Wheless James W, MD. (2000). Use of Topiramate in chilhood generalized seizure disorders.  Journal of child neurology, 15 Supp1 1: S7-11.