
Tổng quan
NHỮNG
TIẾN BỘ TRONG ĐỘNG KINH HỌC TRẺ EM
BS
Nguyễn Thanh Thủy, Y Học TP. Hồ Chí Minh* Số
Chuyên Đề Động Kinh -Tập 6 -Phụ Bản
Số 3 -2002
Trong những năm
gần đây, những bước tiến rơ rệt
nhanh chóng trong sự hiểu biết cơ chế của
bệnh động kinh (ĐK), cơ chế của
rối loạn nhận
thức, sự nhận ra các hội chứng, tiến
bộ trong việc sử dụng thuốc và sự ra
đời của các phương thức trị liệu
mới với các chỉ định tương đối
chọn lọc cho các loại động kinh, trong kỹ
thuật giải phẫu đă dẫn đến
những biến đổi sâu sắc trong lănh vực
động kinh trẻ em.
SINH
LƯ BỆNH VÀ CĂN NGUYÊN
Sinh
lư bệnh
Sinh
lư bệnh học của động kinh
có nhiều khía cạnh phức tạp và c̣n
dựa một phần trên một số giả
thuyết. Nói chung động kinh là do sự kích thích nơron
quá mức hay do giảm ức che.á 13,19 Phần lớn trường
hợp có sự tăng hoạt động đồng th́
của một số nơron có chức năng nhất
định. Trong các trường hợp khác, một nhóm
nơron, không c̣n liên hệ với mạng nơron b́nh
thường, biểu lộ hoạt động tự phát
và nhịp nhàng.
Căn nguyên
Có
thể xếp thành 3 loại
Thương
tổn vỏ năo:
Các thương tổn vỏ năo gây động kinh là
rất đa dạng, không phải lúc nào
cũng phát hiện được nhờ cộng hưởng
từ.
Bẩm
chất di truyền:
Đa số các động kinh thường do đa tác
nhân (multifactoriel) trong đó có sự góp phần của các
yếu tố môi trường. Tuy nhiên các động
kinh vô căn tương quan chặt chẽ với
bẩm chất di truyền. Những thể gia đ́nh di
truyền đơn giản đơn gien có kiểu di
truyền Mendel. Trong các động kinh có kiểu h́nh di
truyền phức tạp đa gien không thể nhận
biết các gien gây bệnh mà chỉ biết được
sự liên kết với nhiễm sắc thể. Các khám
phá trong lănh vực di truyền phân tử làm sáng tỏ
vai tṛ căn nguyên trong các hội chứng động
kinh của các đột biến gien mă hóa cho các kênh ion
phụ thuộc vào điện thế hay chất dẫn
truyền thần kinh.
Cho
đến nay ba gien đă được nhận biết
trong ba hội chứng động kinh di truyền theo tính
trội (6,13,18) là gien của tiểu đơn
vị (4 của thụ thể nicotin trong động kinh
thuỳ trán với các cơn
ban đêm (ADNFLE), gien mă hóa cho hai kênh K+ gây các cơn co
giật sơ sinh lành tính gia đ́nh (BFNC), gien của
tiểu đơn vị (1 của kênh Na+ phụ thuộc
vào điện thế trong động
kinh toàn thể và co giật do sốt cao cộng (GEFS+).
Bảng 1 tŕnh bày các locus gien của một số động
kinh di truyền đă biết đến ngày hôm nay.
Sự
trưởng thành của năo bộ:
Hiện tượng trưởng thành được
đặc trưng bởi tính tăng kích thích
(hyperexcitabilité), sự thừa tạm thời của các
sinap và các sợi trục bên, sự myêlin hóa chưa
đầy đủ. Sự trưởng thành xảy ra
sớm nhất ở các
vùng phía sau, muộn nhất là thùy trán (khoảng 6 tháng-2
tuổi). Ở giai đoạn sau sanh có sự mất thăng
bằng thoáng qua trong sự trưởng thành giữa các
đường hoạt hóa và ức chế làm tăng tính
kích thích, đưa tới trạng thái dễ bị co
giật. Ư nghĩa của hiện tượng này là:
Động kinh có
biểu hiện triệu chứng và diễn tiến đặc
biệt khi xảy ra vào lúc khởi sự trưởng thành
của năo.
Các tổn thương gây
động kinh có thể chỉ biểu hiện khi vùng có
tổn thương đó trở nên trưởng thành,
tổn thương ở thùy trán biểu hiện
muộn hơn tổn thương ở thùy chẩm.
Nếu ổ động
kinh ở vùng chức năng đang trong thời kỳ phát
triển, vùng này sẽ bị rối loạn nặng
nề và kéo dài.
Ngược lại, sau
giai đoạn trưởng thành nhanh chóng, vào cuối
thập niên đầu, khuynh hướng dễ bị
động kinh giảm, bệnh sẽ ngưng tự phát.25
Bảng
1. Động kinh và di truyền
|
Hội
chứng
|
Liên
kết
|
Gien
|
|
BFNC
(Benign familial neonatal convulsions)
Co
giật lành tính GĐ ở trẻ sơ sinh
|
20q13
(Singh và cộng sự
1998)
8q24
(Charlier và cộng sự 1998)
|
KCNQ2
(kênh K+)
KCNQ3
(kênh K+)
|
|
BFIC
(Benign familial infantile convulsions)
Co
giật lành tính GĐ ở trẻ nhỏ
|
19q
(Guipponi và cộng sự 1997)
|
|
|
ADNFLE
ĐK
thùy trán về đêm có tính GĐ DTTT
|
20q13
(Phillips và cộng sự 1995)
15q24
(Phillips và cộng sự 1998)
|
CHRNA4
(thụ
thể nicotinique)
|
|
AD partial epilepsy with
auditive hallucinations
ĐK cục bộ
DTTT với ảo giác thính giác
|
10q
(Ottman và cộng sự 1995)
|
|
|
AD
partial epilepsy with variable foci
ĐK
cục bộ DTTT với các ổ khác nhau
|
2
(Scheffer và cộng sự 1998)
|
|
|
Co giật do sốt
|
8q
(FEB1) (Wallace và cộng sự 1996)
19q
(FEB2) (Johnson và cộng sự 1998)
|
|
|
“GEFS+”
“Co
giật do sốt cộng”
|
2q
(Lopes-Cendes và cộng sự 1995)
19q
(Wallace và cộng sự 1998)
|
SCN1B
(kênh Na+)
|
|
ĐK
cục bộ lành tính ở trẻ em với gai
nhọn vùng rolando.
|
15q14
(Neubauer và cộng sự 1998)
|
|
|
Idiopathic
generalized epilepsy (IGE)
ĐK
toàn thể vô căn
|
8q24
(Zara và cộng sự 1995)
|
|
|
IGE
(Juvenile myoclonic epilepsy JME)
ĐK
giật cơ ở thiếu niên.
|
6p21
(EJM1) (Sander và cộng sự 1997)
6p11
(Serratosa và cộng sự 1996)
|
|
|
IGE
(khởi đầu ở thanh niên không có JME)
|
8p11-12
(Durner và cộng sự 1999)
|
|
THAY
ĐỔI TRONG PHÂN LOẠI
Các
hội chứng động kinh di truyền theo tính
trội
Các cơn co giật co
giật lành tính ở trẻ nhỏ có tính gia đ́nh
(benign familial infantile convulsions (BFIC)24 di truyền theo tính
trội, khởi phát giữa 4 và 8 tháng tuổi ( trung b́nh
6 tháng tuổi) với các cơn ngắn dưới 5 phút,
xảy ra hàng loạt có thể đến 10 cơn
kể cả lúc thức và lúc ngủ trong 2-3 ngày liên
tiếp. Cơn cục bộ, toàn thể hóa thứ phát.
EEG ngoài cơn b́nh thường.
Động kinh cục
bộ với các ổ khác nhau di truyền theo tính
trội (autosomal dominant partial epilepsy with variable foci).
Động kinh thùy trán
ban đêm di truyền theo tính trội (autosomal dominant
nocturnal
frontal lobe epilepsy) (ADNFLE).
Động
kinh thùy thái dương có tính gia đ́nh (familial temporal
lobe epilepsy).
Động kinh vùng Rolando
với rối loạn ngôn ngữ di truyền theo tính
trội (autosomal
dominant Rolandic epilepsy with speech dyspraxia).
Động kinh toàn
thể và các cơn co giật do sốt cao cộng
(Generalized epilepsy
and febrile seizures plus: GEFS+) di truyền theo tính trội
với các cơn co giật do sốt phối hợp
với các cơn co giật không sốt (cơn co cứng
co giật, vắng ư thức, giật cơ, mất trương
lực, giật cơ-mất trương lực).
Các
hội chứng động kinh mới khác
Động
kinh với cơn cục bộ di chuyển ở trẻ
nhũ nhi (Migrating partial seizures in infancy)4 được mô
tả lần đầu tiên vào năm 1995. Khởi đầu
trước 6 tháng tuổi bởi các cơn co giật
cục bộ ngắn khoảng 1 đến vài phút
với vị trí thay đổi tùy lúc, di chuyển
từ vùng này sang vùng khác ở một hay hai bán cầu.
Các cơn rất đa dạng, xảy ra thành từng
đợt kéo dài nhiều ngày hay nhiều tháng, xen
kẽ với những giai đoạn ngưng cơn. Căn
nguyên không rơ. Vidéo/EEG cho thấy rơ mối liên hệ
giữa vị trí của ổ cục bộ (đặc
trưng bởi sóng théta nhịp nhàng) và biểu hiện
lâm sàng. Phát triển tâm thần vận động ngày
càng suy thoái đi kèm với giảm trương lực
thân và tứ chi nặng. Điều trị duy nhất
hiệu quả là Benzodiazepine với liều rất cao.
Động
kinh lành tính thùy chẩm ( chilhood epilepsy with occipital spikes)15
được xếp vào nhóm
các đông kinh cục bộ lành tính. Khởi phát ở
trẻ từ 2 đến 12 tuổi (trung b́nh là 5
tuổi). Cơn xảy ra không thường xuyên với các
biểu hiện hành vi và thực vật, ói, hai mắt nh́n
về một phía, kèm giảm hay mất ư thức
kéo dài vài phút đến vài giờ. Tiên lượng
tốt, hồi phục trong ṿng 1 đến 2 năm sau
khi khởi phát. Cần chẩn đoán phân biệt
dạng lành tính này với dạng diễn tiến không
nhất định xảy ra ở trẻ 8 tuổi 11. Cơn
xảy ra thường xuyên, kéo dài vài giây đến 1-3
phút với các ảo giác
thị giác. Tỷ
lệ hồi phục chỉ trong 50-60% trường
hợp.
ĐỘNG
KINH VÀ RỐI LOẠN NHẬN THỨC
Các động kinh ở
trẻ em có thể ảnh hưởng trên khả năng
trí tuệ.5,9,12 Tùy
theo nguyên nhân gây động kinh, loại động kinh
và hội chứng, và định vị của ổ
động kinh mà sẽ gây các rối loạn đặc
hiệu. Ngoài ra cũng phải kể đến sự góp
phần của tác dụng phụ của các thuốc
chống động kinh và các yếu tố môi trường.
Bệnh năo do ĐK là sự rối loạn chức năng
của năo do động kinh, gặp trong các hội
chứng động kinh khác nhau tùy theo tuổi của
trẻ 10 và có thể
do:
Các cơn động kinh
tái đi tái lại rất thường xuyên, nặng như
trong bệnh động kinh giật cơ nặng ở
trẻ nhũ nhi (severe myoclonic epilepsy in infancy) trong đó
trẻ bị co giật vào khoảng 2-10 tháng tuổi
với các t́nh trạng động kinh liên tục, và
trong động kinh với các cơn cục bộ di
chuyển ở trẻ nhũ nhi khởi đầu trong ṿng
6 tháng tuổi bởi các cơn cục bộ hầu như
liên tục ở các vùng khác nhau của vỏ năo.
Hay do các bất thường
kịch phát lan tỏa, hầu như liên tục trên
điện năo đồ ngoài cơn
có thể có hay không có kèm theo các cơn co giật
dẫn đến các rối loạn nặng về
vận động, giác quan hay nhận thức tùy theo
định vị ưu thế của ổ kịch phát.
Các ví dụ minh hoạ gồm có: hội chứng động kinh ở trẻ
sơ sinh với suppresssion-burst là hội chứng Ohtahara và
bệnh năo giật cơ sớm; hội chứng West
ở trẻ nhũ nhi; hội chứng Lennox-Gastaut (5) ở
trẻ em với các cơn toàn thể và gai nhọn-sóng
chậm; động kinh giật cơ-mất trương
lực hay gai nhọn-sóng liên tục trong giấc ngủ
chậm (continuous spike-waves in slow sleep: CSWS) kết hợp
với các dạng tâm thần kinh khác nhau như hội
chứng Landau Kleffner, hội chứng thùy trán, rối
loạn thực dụng vùng miệng mặt.(20,23
Điều trị
sớm là điều kiện quan trọng để ngăn
ngừa sự trầm trọng của bệnh năo do động
kinh.
ĐIỀU
TRỊ
Với sự hiểu
biết rơ hơn về các cơ chế sinh động
kinh, việc sử dụng hiện nay các thuốc
chống động kinh không c̣n đơn thuần
chỉ dựa trên kinh nghiệm như trước đây
mà phải dựa trên sinh lư bệnh: cơ chế tác
động của các thuốc chống động kinh và
dựa trên đặc điểm phân loại cơn và
hội chứng động kinh. Các thuốc chống
động kinh tác động theo ba cơ chế gồm
(1) giảm tính kích thích thông qua ức chế hệ
glutamat lực, (2) gia tăng ức chế thông qua sự tăng
hoạt tính của hệ GABA lực và (3) điều hoà
sự di chuyển ion Na+, Ca+ và K+ tại màng nơron.
Bảng 2 tŕnh bày cơ chế tác động của
một số thuốc chống động kinh.
Bảng 2. cơ chế
tác độbg của các thuốc chống động
kinh
|
|
Kháng
Glutamate
|
Tăng
GABA
|
Chẹn
kênh Na
|
Chẹn
Ca2+
|
|
Topiramate
|
+
|
+
|
+
|
+
|
|
Vigabatrin
|
|
+
(ức
chếGABA-T)
|
|
|
|
Lamotrigine
|
+
( phóng thích
|
|
+
|
|
|
Oxcarbazepine
|
+
( phóng thích
|
|
+
|
|
|
Gabapentin
|
+
(
tổng hợp
|
±
|
±
ức chế gián
tiếp
|
|
|
Tiagabine
|
|
+
|
|
|
|
Felbamate
|
+
|
+
|
+
|
|
Chẩn đoán xác
định loại hội chứng động kinh, hay ít
ra là loại cơn động kinh là cần thiết
để có thể lựa chọn được
loại thuốc thích hợp. Vài ví dụ minh hoạ
gồm có vigabatrin trong hội chứng West triệu
chứng, lamotrigine trong hội chứng Lennox-Gastaut.8 Ngoài
ra, sai lầm trong việc lựa chọn thuốc có
thể làm bệnh nặng hơn.2,17 Động kinh kháng
trị cũng là một t́nh huống trong đó chỉ
định thuốc điều trị lúc đầu là
không phù hợp do chẩn đoán sai hội chứng
động kinh.2 Bảng 3 tŕnh bày các loại thuốc
chống động kinh có tác dụng làm nặng cơn
khi được sử dụng không sát hợp.
Bảng 3. Các thuốc
chống động kinh và cơn nặng hơn do
thuốc
|
Thuốc chống
động kinh
|
Làm cơn động
kinh trở nặng
|
|
Carbamazepine
Clonazepam
Lamotrigine
Phenobarbital
Phenytoine
Vigabatrin
Tiagabine
Gabapentin
|
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn co cứng toàn
thể
Cơn giật cơ
Cơn vắng
Cơn vắng
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn vắng & cơn
giật cơ
Cơn giật cơ
|
CÁC
THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH MỚI
Sự ra
đời của các thuốc mới như vigabatrin,
lamotrigine, topiramate, oxcarbazepine, tiagabine, gabapentin, felbamate…
đă cho phép người ta
có nhiều chọn lựa hơn trong điều trị
động kinh. Việc điều trị ngày càng
trở nên hợp lư với thuốc đặc hiệu
cho các hội chứng động kinh.8,16.26,27 Các
thuốc mới có các ưu điểm là có đặc
tính dược động học tốt, ít hay không tương
tác với các thuốc khác, dung nhận tốt hơn
(nhất là về nhận thức). Vài thuốc có
phổ tác dụng rộng (lamotrigine, topiramate), nhưng không
phải là những thuốc đầu tay được
lựa chọn. Các thuốc mới này c̣n cần
được đánh giá rộng răi hơn để xác
định rơ hơn liều lượng, nguy cơ, dung
nhận về lâu dài, các chỉ định ở
trẻ em.
Bảng 4. đặc
điểm sử dụng của các thuốc chống
động kinh mới
|
|
Phổ
tác dụng
|
Chỉ
định
|
Tác
dụng phụ
|
Thận
trọng
|
|
Vigabatrin
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
|
- được thêm vào ngay khi
đơn trị liệu thất bại với
các thuốc quy ước
- HC West
|
Tăng
cân
|
Cẩn
thận ở Bn có tiền sử bị tâm thần .
|
|
Lamotrigine
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
ĐK
toàn thể
|
- được thêm vào ngay khi
đơn trị liệu thất bại với
các thuốc quy ước
|
Phát
ban ngoài da
|
Dùng
liều thấp khi phối hợp với Valproate
|
|
Topiramate
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
ĐK
toàn thể
|
-
Điều trị thêm vào
(adjunctive
therapy)
-
HC Lennox-Gastaut
|
|
Cẩn
thận ở Bn có tiền sử bị tâm thần và
sỏi thận
|
|
Oxcarbazepine
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
|
Điều
trị thêm vào
(adjunctive
therapy)
Đơn
trị như thuốc đầu tay?
|
Dị
ứng da
Giảm
Na máu
|
Dung
nhận tốt hơn carbamazepine
|
|
Tiagabine
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
|
Điều
trị thêm vào
(adjunctive
therapy)
|
|
Cẩn
thận ở Bn có rối loạn hành vi nặng, lo
lắng hay trầm cảm
|
|
Gabapentine
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
|
-
được thêm vào ngay khi
đơn trị liệu thất bại với
các thuốc quy ước
|
|
Cẩn
thận ở Bn có nhiều loại cơn bao gồm
cơn vắng ư thức.
|
|
Felbamate
|
ĐK
cục bộ (cơn cục bộ và toàn thể hóa
thứ phát)
ĐK
toàn thể triệu chứng
|
HC
Lennox-Gastaut
|
Nhức
đầu, giảm cân, suy tủy, suy gan
|
Chỉ
dùng ở BV. Phải theo dơi sát huyết đồ và
chức năng gan.
|
Các thuốc chống động kinh mới có thể
được sử dụng đơn trị? Câu trả
lời là có. Ngược lại, chúng không thể
được sử dụng như thuốc đầu
tay, trừ trường hợp ngoại lệ. Thường
được chỉ định trong điều trị các
động kinh khó kiểm soát bằng cách thêm vào với
các thuốc kháng động kinh thông thường (add-on
therapy) và trong trường hợp hiệu quả, có
thể được duy tŕ đơn trị. Chỉ trong
vài dạng động kinh, việc sử dụng
đơn trị một trong các thuốc mới này
được đặt ra ngay từ đầu. Ví
dụ: Vigabatrin trong hội chứng West. 3,12,26 Những
dữ kiện đơn trị sử dụng 1 vài
thuốc mới như thuốc đầu tay đă cho
thấy hiệu quả tương đương với các
thuốc quy ước nhưng với dung nhận tốt hơn.
1,21
Khái
niệm về đa trị liệu hợp lư (rational
polytherapy).Một vài phối hợp điều trị
với các thuốc chống động kinh mới có tác
động đặc hiệu chứng tỏ tính hiệu
quả hơn hẳn nhờ tác dụng hiệp đồng
đăïc biệt trên
hội chứng động kinh nào đó. Ví dụ:
Phối hợp valproate-lamotrigine trong động kinh giật
cơ-mất trương lực, hội chứng
Lennox-Gastaut; Stiripentol phối hợp với valproate và
clobazam trong động kinh giật cơ nặng ở
trẻ nhũ nhi. 16
CÁC
PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC
Chế độ
ăn sinh ceton (Ketogenic diet) được sử dụng
từ lâu và hiện nay đang được nghiên
cứu sử dụng trong các động kinh đề kháng
thuốc.9,22
Kích thích thần kinh
phế vị được chỉ định trong các
động kinh kháng thuốc, có thể được
đề nghị ở trẻ dưới 3 tuổi khi không
thể phẫu thuật. Nói chung, chỉ định c̣n
phải được xác định. 9
Phẫu thuật
được xét đến khi động kinh không
được kiểm soát bằng điều trị
nội (<20% các động
kinh kháng thuốc ở trẻ em, đa số là các động
kinh cục bộ do thương tổn). 7 Điều
trị phẫu thuật tận gốc gồm có hai phương
thức là cắt bỏ ổ tổn thương, phẫu
thuật hemispherotomy để tách rời liên hệ
với vùng sinh động kinh. Để gián đoạn
mối liên hệ của ổ động kinh với các vùng
khác của năo bộ phậu thuật cắt thể chai
(callosotomy) được sử dụng trong các động
kinh đa ổ hay toàn thể với các cơn thường
xuyên gây té ngă. Phẫu thuật transsection sous-pial cũng là
một phương pháp khác được áp dụng
tại các vùng chức năng.14
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.
Baulac M, Arzimanoglou A, Semah F, Cavalcanti D. (1997) Options thérapeutiques
offertes par les nouveaux médicaments antiépileptiques. Rev Neurol,
153:121-33. Paris.
2.
Bednarek N, Motte J. (1999) Traitements et surveillance des épilepsies
de l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1526-31.
3.
Chiron C, Dumas C, Jambaque I, Mumford J, Dulac O. (1997). Randomized
trial comparing vigabatrin and hydrocortisone in infantile spasms due to
tuberous sclerosis. Epilepsy Res 26: 389-395.
4.
Coppola G, Plouin P, Chiron C, Robain O, Dulac O. (1995) Migrating
partial seizures in infancy; a malignant disorder with development arrest.
Epilepsia, 36:1017-24.
5.
Dulac O and Nguyen T. (1993) The Lennox-Gastaut Syndrome. Epilepsia,
34(Suppl.7):S7-S17.
6.
Dulac O, Bulteau C, Malafosse A et al. (1995). Génétique des épilepsies
de l’enfant. Arch.Pédiatr; 2:306-9.
7.
Dulac O, Delalande O, Pinard JM, Jalin C, Plouin P, Jambaqué I, Chiron
C, Cieuta C. (1996). Problèmes posés par la neurochirurgie de l’épilepsie
de l’enfant. Arch Pédiatr, 3:369-77.
8.
Dulac O, Kaminska A. (1997). Use of lamotrigine in Lennox-Gastaut and
related epilepsiey syndromes. J Child Neurol, 12 Suppl 1:S23-S28.
9.
Dulac O. (1999). Nouveautes dans les epilepsies de l’enfant. J Pédiatr
Puériculture, 12:431-2.
10.
Dulac O. (2001). Epileptic encephalopathy. Epilepsia, 42 Suppl 3:23-6.
11.
Gastaut H. (1992). Eùpilepsie bénigne de l’enfance avec paroxysmes
occipitaux. In : Roger J, Bureau M, Dravet C, Dreiffuss Fe, Perret A, Wolf P
(eds). Les Syndromes Eùpileptiques De L’enfant Et De L’adolescent, 2 E
Edition, Pp 201-17. John Libbey & Company Ltd. Paris.
12.
Jambaqué I, Chiron C, Dumas C, Mumford J, Dulac O. (2000) Mental and
behavioural outcome of infantile epilepsy treated by vigabatrin in tuberous
scsclerosis patients, Epilepsy Res 38: 151-160.
13.
McNamara James O. (1999). Vers une meilleure compréhension de la genèse
de l’épilepsie. Nature, 399 (suppl):A15-A22.
14.
Morell F, Whisler WW, Smith MC, Hoeppner TJ, de Toledo-Morell L,
Pierre-louis Sj, Kanner AM, Buelow Jm, Ristanovic R, Bergen D, et al. (1995)
Landau-Kleffner syndrome. Treatment with subpial intracortical transection.
Brain, 118:1529-46.
15.
Panayiotopoulos Chrysostomos P. (2000). Benign chilhood epileptic
syndromes with occipital spikes: new classification proposed by the
international league agaisnt epilepsy. Journal of Child Neurology, 15:548-52.
16.
Perez J, Chiron C, Musial C, Rey E, Blehaut H, d’Athis P, Vincent J,
Dulac O. (1999). Stiripentol:
efficacy and tolerability in children with epilepsy. Epilepsia, 40: 1618-26.
17.
Perruca E, Gram L, Avanzani G, Dulac O. (1998). Antiepileptic drugs as a
cause of worsening seizures. Epilepsia, 39:5-17.
18.
Piccard F. (2000). Epilepsie et génétique. La Lettre du Neurologue. Numéro
spécial – avril; 21-3.
19.
Repressa A. (1998). Mécanismes fondamentaux de l’épileptogenèse. In:
Michel Arthuis, Olivier Dulac, Gerard Ponsot, Nicole Pinsard, Josette Mancini
(eds). Neurologie Pédiatrique, Vol 15. 2e edition, pp 351-362. Flammarion.
Medecine-Sciences. Paris.
20.
Roulet Perez E, Davidoff V, Despland PA, Deonna T. (1993). Mental and
behavioural deterioration of chidren with epilepsy and CSWS: acquired epileptic
frontal syndrome. Dev Med Chid Neurol, 35: 661-74.
21.
Sachdeo RC, Reife RA, Lim P, et al. (1997). Topiramate monotherapy for
partial onset seizures. Epilepsia, 38:294-300.
22.
Schwartzkroin Philip A. (1999). Mechanisms underlying the anti-epileptic
efficacy of the ketogenic diet.
Epilepsy research, 37:171-180.
23.
Veggiotti Pierangelo, Beccaria Francesca, Guerrini Renzo et al. (1999).
Continuous Spike- and-Wave activity during Slow-Wave Sleep: syndrome or EEG
pattern? Epilepsia, 40(11):1593-1601.
24.
Vigevano F, Sebastianelli R, Fusco L et al. (1994). Benign infantile
familial convulsions. In: Malafosse A, Genton P. Hirsch E, Marescaux C, Broglin
D, Bernasconi R (eds). In: Idiopathic Generalized Epilepsies: Clinical,
Experimental And Genetic Aspects, pp 7-18. John Libbey & Company Ltd. Paris
25.
Villeneuve N. (1999). Physiopathologie et étiologique des épilepsies de
l’enfant. La Revue Du Praticien, 49:1500-06.
26.
Villeuneuve N, Soufflet C,
Plouin P, et al. (1998). Traitement des spasmes infantiles par vigabatrin en
premiere intention et en monotherapie: à propos de 70 nourissons. Arch Pediatr,
5:731-8.
27.
Wheless James W, MD. (2000). Use of Topiramate in chilhood generalized
seizure disorders. Journal of child
neurology, 15 Supp1 1: S7-11.
