
XỬ TRÍ TRẠNG THÁI ĐỘNG
KINH THỂ CO GIẬT
GS
Lê Văn Thành Trường Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh
ĐỊNH NGHĨA
Trạng
thái động kinh (TTĐK) được định
nghĩa là hoạt động động kinh tồn
tại trong 30 phút hoặc dài hơn nữa, gồm
thể kéo dài liên tục và thể từng cơn nhưng
giữa những cơn không hồi phục ư thức. Nói
cách khác cơn này chưa dứt đă gối đầu
cơn kia.
PHÂN LOẠI CÁC TRẠNG THÁI
ĐỘNG KINH
Dưới
đây là bảng phân loại các trạng thái động
kinh vốn cũng c̣n tiếp tục được bàn căi.
Trạng
thái động kinh chỉ ở ấu nhi
·
Trạng thái động kinh ở trẻ sơ
sinh
·
Trạng thái động kinh trong hội
chứng động kinh đặc biệt ở trẻ sơ
sinh
·
Co thắt ở trẻ em.
Trạng
thái động kinh ở thiếu nhi
·
Sốt cao co giật
·
Hội chứng động kinh rung giật và
khuỵu
·
Hội chứng Landau – Kleffner
Trạng
thái động kinh ở thiếu niên và người trưởng
thành
·
Trạng thái động kinh
co giật
·
Trạng thái động kinh
cục bộ liên tục.
·
Trạng thái động kinh
trong hôn mê
·
Những thể đặc biệt của
trạng thái động kinh ở bệnh nhân chậm phát
triển tâm thần
·
Trạng thái động kinh
thể rung giật cơ.
·
Trạng thái động kinh
thể cục bộ phức tạp
TTĐK
giới hạn ở tuổi trưởng thành
·
Trạng thái động kinh de novo và cơn
muộn
TRẠNG
THÁI ĐỘNG KINH THỂ CO GIẬT
Trạng
thái động kinh co giật được xác định
nếu tồn tại từ 30 phút trở lên. Tỷ
lệ bệnh mắc hàng năm theo Simon Shorvon khoảng
18 – 28 trường hợp trong 100.000 dân. Thường
gặp ở trẻ em và những người có bệnh
năo nói chung. Phần lớn mới xuất hiện
lần đầu, không có tiền sử động kinh.
Hầu hết các trường hợp có nguyên nhân là
bệnh năo cấp tính như nhiễm trùng năo, viêm năo,
chấn thương, tai biến mạch máu, ngộ độc
cấp, rối loạn chuyển hoá, sốt cao ở
trẻ em.
Với
những bệnh nhân động kinh đang điều
trị, nay rơi vào trạng thái động kinh
có thể do giảm hoặc hết thuốc hoặc
bệnh thần kinh năo đang tiến triễn, hoặc
do rối loạn chuyển hóa kèm theo. Trạng thái động
kinh hay gặp ở động kinh triệu chứng hơn
là động kinh vô căn. Thường có một giai
đoạn báo trước, kéo dài khoảng vài giờ,
trong đó các cơn co giật tăng lên về cường
độ và tần xuất so với các cơn thường
có trước đo. Một điều trị chống
động kinh phù hợp và khẩn cấp sẽ giúp tránh
được trạng thái động kinh, nếu không
trạng thái động kinh có thể xảy đến
với những cơn có thể kéo dài hàng giờ
hoặc thậm chí vài ngày, rất khó điều
trị và dễ đưa đến tử vong.
Những
thay đổi sinh lư chia làm hai giai đoạn, từ giai
đoạn 1 sang giai đoạn 2 thời gian từ 30 –
60 phút sau cơn giật liên tục.
Giai
đoạn 1 hay giai đoạn bù trừ
Chuyển
hóa của năo tăng lên, gia tăng cung lượng và
sự tưới máu năo, tăng cung cấp glucose để
giữ cho sự hằng đinh của sinh lư năo, mức
độ lactate của năo tăng và có thể đưa
đến phát triển toan hóa lactic.
Lúc
đầu tăng cường huyết do phản ứng
nội tiết, tăng huyết áp, rối loạn
thần kinh tự chủ làm tăng tiết đờm
nhớt ở khí phế quản, sốt cao, ói mửa.
Giai
đoạn 2 hay giai đoạn mất bù trừ
Nếu
co giật tiếp tục sự bù trừ xấu đi,
huyết áp giảm dần đưa đến cung lượng
máu năo giảm, hậu quả là sự cung cấp
đường và oxy đưa đến năo giảm, năo
thiếu oxy, thiếu dinh dưỡng, hậu quả là phù
năo.
Một
rối loạn do suy giảm của hệ thần kinh
tự chủ như phù phổi, giảm sức co bóp
của tim nhất là tim trái đưa đến suy tim,
suy thận, suy gan, đông máu nội mạch lan tỏa,
hủy cơ vân do không
cắt được cơn giật, rối loạn các
ion như hạ natri máu, hạ rồi tăng kali máu do
hủy cơ và suy thận, sốt cao,v.v… toan lactic
tiếp tục, các tế bào năo thực sự hư
biến. Nếu co giật c̣n tiếp tục sẽ
đưa đến rối loạn thần kinh tự
chủ nhiều hơn, gây nên hàng loạt những
biến đổi của các cơ quan như
huyết áp giảm do rối loạn thần kinh
thực vật (nhưng một phần cũng do thuốc
chống co giật gây ra), nhịp tim nhanh đôi khi có
rối loạn nhịp. Hai vấn đề trên góp
phần làm giảm cung lượng máu trên năo, năo
tiếp tục phù, hàng loạt rối loạn chuyển
hóa năo nặng dần và hư biến màng nơron, khá
nhiều bệnh nhân sau điều trị trạng thái
động kinh quá nặng thường để lại
những triệu chứng thiếu sót hoặc suy giảm
chức năng cao cấp của vỏ năo.
Tăng
áp lực động mạch phổi, nhất là ở
trẻ em, có thể làm phù và có thể tạo sang thương
mao quản. Giảm co bóp thất trái, nếu kéo dài
sẽ suy tim, dĩ nhiên cung lượng tim kém. Ngoài ra
trạng thái động kinh c̣n dẫn đến
những rối loạn khác như tăng thân nhiệt,
biến đổi về chuyển hóa và nội tiết,
toan huyết do rối loạn chuyển hóa và tăng
sản phẩm lactate, hạ đường huyết,
rối loạn điện giải như hạ natri
huyết, hạ kali lúc đầu giảm sau đó tăng
bởi hư biến cơ do co
giật liên tục, CPK rất cao nếu không chú ư
vấn đề này sẽ đưa đến suy
thận trầm trọng do hoại tử ống thận
cấp, tránh hiện tượng này bằng cách tích
cực cho thở nhân tạo và làm liệt cơ. Một
khả năng xấu khác có thể xảy ra là đông
máu nội mạch lan tỏa (DIC).
Tỷ
lệ tử vong của trạng thái động kinh co
giật bằng khoảng 5 – 10% ở trẻ em cao hơn
ở người trưởng thành; ở bệnh nhân có
tiền sử động kinh tỷ lệ tử vong cũng
cao hơn và phụ thuộc rất nhiều vào các
yếu tố như điều trị sớm, điều
trị đúng, điều chỉnh kịp thời
những rối loạn và hư biến kể trên.
Thực
vậy trạng thái động kinh co giật gây nên
những rối loạn mà các phần tiếp theo đây
tŕnh bày.
Giai
đoạn bù trừ
Co
giật ( giảm lượng không khí ( tăng tiết
đờm nhớt, giảm trao đổi khí ( giảm và
thiếu oxy năo ( nơron bệnh lư trở nên dễ phóng
lực ( cơn mới, đây là ṿng luẩn quẩn, chúng
tôi thường gọi là giai đoạn cơn, gọi
cơn.
GIAI ĐOẠN 1 (BÙ TRỪ HAY C̉N
BÙ)
Trong
giai đoạn này do cơn giật nhiều nên chuyển
hóa của năo tăng lên nhưng những cơ chế
sinh lư c̣n đủ đáp ứng với những yêu
cầu chuyển hóa mô năo vẫn được bảo
vệ trước sự thiếu máu và rối loạn
chuyển hóa. Phần lớn thay đổi sinh lư liên
quan tới sự tăng lớn lao ḍng máu và chuyển hóa,
một số rối loạn thần kinh tự chủ và
những thay đổi về tim mạch.
GIAI ĐOẠN II (MẤT BÙ)
Ơû
giai đoạn này sự gia tăng lớn lao về
những nhu cầu chuyển hóa của năo không được
đáp ứng đầy đủ, dẫn đến
giảm oxy làm hư biến năo và toàn thể sự
chuyển hóa. Các thay
đổi về thần kinh tự chủ tiếp
tục diễn tiến, chức năng tim mạch có
thể suy sụp một cách nặng dần dẫn đến
rối loạn sự duy tŕ nội môi.
Cần
lưu ư rằng những thay đổi sinh lư nêu trong các
bảng 1 và 2 không nhất thiết xuất hiện đồng
bộ trong tất cả các trường hợp.
Bảng
1. thay đổi sinh lư trong giai đoạn bù trừ
của TTĐK thể co giật.
|
NHỮNG
THAY ĐỔI CỦA NĂO
|
TOÀN
THÂN VÀ NHỮNG CHUYỂN HÓA
|
TKTC
VÀ NHỮNG THAY ĐỔI TIM MẠCH
|
|
Tăng
ḍng máu
|
Tăng
đường huyết
|
Tăng
HA (lúc đầu)
|
|
Tăng
chuyển hóa
|
Acide
lactic
|
Tăng
tống máu của tim
|
|
Tăng
năng lượng, tăng cung cấp glucose và oxy
|
|
Tăng
áp lực tĩnh mạch trung tâm
|
|
|
|
Tăng
đáng kể sự phóng catecholamine
|
|
Tăng
tập trung lactate
|
|
Tăng
nhịp tim
|
|
Tăng
tập trung glucose
|
|
Loạn
nhịp tim
|
|
|
|
Tăng
tiết nước bọt
|
|
|
|
Nôn
ói
|
|
|
|
Tiểu
dầm dề
|
Bảng
2. thay đổi sinh lư trong giai đoạn mất bù
của TTĐK thể co giật.
|
NHỮNG
THAY ĐỔI CỦA NĂO
|
TOÀN
THÂN VÀ NHỮNG CHUYỂN HÓA
|
TKTC
VÀ NHỮNG THAY ĐỔI TIM MẠCH
|
|
|
Hạ giảm đường
huyết
|
Thiếu oxy toàn thân
|
|
Hư hỏng sự
tự điều chỉnh của mạch máu năo, ḍng
máu của năo trở nên lệ thuộc váo áp
lực máu toàn thân
|
Hạ natrie huyết,
hạ tăng Kalie huyết
|
Tụt huyết áp
|
|
|
Toan hô hấp và toan
chuyển hóa.
Rối loạn chức
năng gan và thận
|
Tụt sự tống máu
của tim.
|
|
Thiếu oxy
|
Rối loạn đông
máu nội mạch lan tỏa (DIC)
|
Suy giảm hô hấp và
tim (phù phổi, lấp mạch phổi, truỵ hô
hấp, suy tim mạch
|
|
Tụt giảm khả năng
tập trung lactate
|
Nhiều nội tạng
hư hại
|
Sốt cao
|
|
Tụt giảm t́nh
trạng năng lượng
|
Hư biến cơ,
tiểu myoglobuline
|
|
|
|
Tăng bạch cầu
|
|
|
|
|
|
SĂN
SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
Đánh
giá chung
Chức
năng tim phổi.
Với tất cả bệnh nhân ở trạng thái động
kinh, sự săn sóc bảo vệ chức năng
tim mạch phải được ưu tiên hàng đầu.
Phải đảm bảo lưu thông đường hô
hấp và cung cấp oxy đầy đủ.
Tiến
hành xét nghiệm khẩn.
Khi máu động mạch, đường huyết,
chức năng gan, thận, ion đồ chú ư
calcium, magnesium, công thức máu, nồng độ các
thuốc chống co giật, điện tâm đồ.
Đặt
Monitoring.
Mạch, huyết áp, nhiệt độ, điện tâm
đồ liên tục, áp lực oxy máu, khi máu và pH
máu, glucose và điện giải.
Thuốc
điều trị. Xem
phần tŕnh bày ở sau.
Truyền
tinh mạch và thiamine. Nếu
có nghi ngờ hạ đường huyết, tiêm tĩnh
mạch 50ml glucose 50% , với người b́nh thường
truyền đường đôi khi triệu chứng
xấu thêm, có lẽ đường được
chuyển hóa trong t́nh trạng năo thiếu oxy sẽ
đưa đến tăng acide lactic ?
Tiêm
Vitamin B1 dành cho người suy dinh dưỡng và
nghiện rượu.
Sửa
chữa những bất thường chuyển hóa.
T́nh trạng toan là biến chứng chung của trạng
thái động kinh, làm ngưng co giật và
phục hồi hô hấp, trường hợp toan
nặng có thể dùng bicarbonate.
Hạ
huyết áp và rối loạn nhịp tim.
Hạ huyết áp là hậu quả của chính trạng
thái động kinh, nhiều thuốc chống
động kinh dùng điều trị trạng thái động
kinh làm trầm trọng thêm rối loạn huyết áp này.
Như vậy ḍng máu năo trở nên phụ thuộc áp
lực máu hệ thống máu toàn thân, như vậy
việc duy tŕ huyết áp là tối quan trọng
điều này rất đặc biệt khi dùng
barbiturate để gây mê. Bắt buộc theo dơi điện
tim liên tục.
Suy
hô hấp.
Suy hô hấp không những do co giật và phù phổi mà
c̣n do việc dùng thuốc.
Hạ
đường huyết.
Thường xảy ra trong giai đoạn sau của
trạng thái động kinh, như đă nói
ở trên tăng đường huyết dễ làm
hư hại nơron, chỉ điều chỉnh khi quá
thấp và về mức trung b́nh.
Sốt
cao và nhiễm toan lactic. Có
thể kiểm soát được những rối loạn này bằng việc làm
ngưng co giật, nhưng nếu co giật vẫn
c̣n mặc dù đă điều trị một cách đầy
đủ, có thể chỉ định các tác nhân gây
liệt. hạ sốt bằng chờm lạnh và
thuốc đặt, sử dụng carbonate natri, v.v….
Suy
thận và gan. Một
số yếu tố trong trạng thái động kinh có
thể là nguyên nhân gây suy
thận cấp bao gồm myoglobine niệu, đông máu
nội mạch lan tỏa thiếu oxy và hạ huyết áp.
Suy thận ở giai đoạn sớm có thể
truyền Mannitol và Dopamine theo dơi điện giai và
chức năng thận. Suy gan thường do những người
đă có tiền sử nhạy cảm với thuốc
chống co giật.
Phù
năo.Xuất hiện càng rơ ở cuối giai đoạn I
và giai đoạn II.
Cần theo dơi áp lực nội sọ, nhất là
ở trẻ em, điều trị giảm áp lực
bằng mannitol và dexamethasone nếu không có chống
chỉ định. Có trường hợp phải can
thiệp giảm áp bằng phẫu thuật thần kinh.
Xác
định nguyên nhân. CT
Scan năo và xét nghiệm dịch năo tủy là cần
thiết nhưng chỉ định cũng tùy
thuộc t́nh huống lâm sàng.
ĐIỀU TRỊ – THUỐC
ĐIỀU TRỊ
Trạng
thái động kinh co giật được tạm chia
thành bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn điều
trị cụ thể khác nhau. Nguy cơ năo tổn thương
do cơn kéo dài không dứt ở giai đoạn 4 thường
là từ 60 phút – 120 phút,
tính từ khởi đầu, nếu điều trị
không có kết quả có thể phải gây mê toàn thân.
Việc
chọn lựa thuốc, phương tiện điều
trị tùy thuộc vào tŕnh độ trang thiết
bị của từng cơ sở y tế, tuy vậy
vẫn cần đưa ra một quy tŕnh và một phác
đồ chung nhất để tuỳ hoàn cảnh mà
lựa chọn cho thích hợp. Mặc dù vậy, cần
tuân thủ triệt để các nguyên tắc chuyên mônđă
có.
Giai
đoạn I TTĐK (Premonitory
stage)
Khởi
đầu giai đoạn này cơn xuất hiện có tính
tăng dần dần về cường dộ và tần
xuất, nói cách khác cơn c̣n thưa thớt. Nếu
bệnh nhân có tiền sử động kinh th́ dễ xác
định hơn v́ cơn nhiều hơn mọi ngày.
Điều trị ngay bằng đường uống trước
khi chuyển bệnh nhân tới bệnh viện và
tới bệnh khoa cấp cứu. Chú ư người
vận chuyển phải là người đă được
huấn luyện v́ trên đường đi cơn có
thể tái xuất hiện với những biến
chứng do cơn gây nên. Phương tiện phải là
xe có trang bị cấp cứu, không thể do người
nhà tự lo phương tiện di chuyển và xử trí
lúc đi đường, thuốc có tác dụng
chống co giật nhưng cũng có thể có tác
dụng phụ gây nên ngủ, có trường hợp
trụy tim mạch và hô hấp.
Giai
đoạn II sớm của TTĐK
Thời
gian 30 phút đầu của trạng thái động kinh.
Dùng các thuốc có tác dụng nhanh như benzodiazepine, tiêm
tĩnh mạch Lorazepam, tác dụng dài hơn benzodiazepine,
an toàn và vận chuyển bệnh nhân ít nguy cơ ức
chế tim phổi.
Giai
đoạn III chính thức vào TTĐK
Sau
cơn đầu 30phút c̣n giật liên tục, điều
trị như trên thất bại. Có ba phương
thức điều trị xen kẽ được
lựa chọn: dùng liều dưới liều gây mê
hoặc của phenobarbital hoặc phenytoine hoặc
fosphenytoin bằng đường tinh mạch (Xem h́nh 1).
Truyền
tĩnh mạch benzodiazepine đă từng được
coi là hợp thời ở giai đoạn này, nhưng hay
có nguy cơ làm ức chế hô hấp và giảm
huyết áp, có trường hợp ngưng hô hấp và
trụy tim mạch nên ít dùng.
Clomethiazole truyền tĩnh mạch
là thuốc thay thế được đề
nghị nhưng cũng cho nguy cơ tương tự như
benzodiazepine. Lorazepam và lidocaine là những thuốc tác
dụng ngắn hạn do đó không nên dùng trong giai
đoạn này.
Giai
đoạn IV kháng trị
Nếu
cơn tiếp tục tới 60 – 90 phút mặc dù đă
điều trị như đă nêu ra ở trên th́
cần tiến hành gây mê toàn thân. Để thực
hiện việc này cần có một bác sĩ gây mê.
Gây
mê bằng barbiturate. Nhưng
loại thuốc này đă được sử dụng
và người ta có nhiều kinh nghiệm về chúng.
Thuốc được dùng gồm có thiopental và
pentobarbital. Thiopental có thời gian bán hủy dài hơn
pentobarbital.
Gây
mê không bằng barbiturate. Propofolđược đề
nghị sử dụng do cách sử dụng thuốc
dễ, thuốc có tác dụng nhanh. Nhiều báo cáo
cho thấy có hiện tượng bùng cơn co giật
trở lại khi thuốc hết tác dụng, rất dè
dặt với thuốc này v́ trong khi phẩu thuật
đặt điện cực trong vỏ năo thấy
propofol hoạt hóa gây sự phóng lực dạng động
kinh.
Truyền
tĩnh mạch benzodiazepine.Có thể dùng phương
thức điều trị này tại đơn vị
điều trị cấp cứu hay săn sóc đặc
biệt, thuốc hay làm hạ huyết áp và những tác
dụng phụ đă nói ở trên. Midazolam (Hypnovel)
được chọn dùng v́ thời gian bán hủy
ngắn hơn.
BÀN LUẬN VÀ ĐỀ
NGHỊ
Trên
đây đă nêu những thái độ
xử trí thuốc cấp cứu từng giai đoạn
của trạng thái động kinh ở những nước
phát triển. Ơû nước ta màng lưới y tế đă
và đang phát triển, địa dư là một khó khăn
v́ nhiều sông ng̣i kênh rạch như ở đồng
bằng Nam Bộ, núi non cách trở như ở phía
Bắc khó khăn cho việc vận chuyển, quản lư
bệnh động kinh thuộc ngành tâm thần điều
đó có hạn chế nhất định trong việc
chẩn đoán nguyên nhân và điều trị cấp.
Trang thiết bị cấp cứu đầy đủ
chỉ có ở các bệnh viện lớn hoặc
một số bệnh viện tỉnh và khu vực.
Nguyên
tác chung là bệnh nhân cần được điều
trị kịp thời ngay từ giai đoạn I, hoàn toàn
trong tầm tay, y sĩ thôn hoặc gia đ́nh cho uống
thuốc chống động kinh với liều cao hơn
mọi ngày đang dùng với người có tiền
sử động kinh, chuyển tuyến xă nếu cơn
c̣n, có thể dùng seduxen tĩnh mạch theo phác đồ,
chuyển tiếp tuyến huyện nhưng với điều
kiện phải có thầy thuốc đi theo.
Tại huyện nếu cơn thưa dần về
tần số và cường độ, tiếp tục
điều trị, theo dơi toàn diện mọi thay đổi
xử trí kịp thời. Nếu cơn không giảm
nếu thiếu thuốc, không đủ phương
tiện , chuyển tỉnh, có thầy thuốc đi theo.
Chúng ta phải triệt hạ để tranh thủ
thời gian vàng của bệnh là từ lúc cơn có
triệu chứng báo hiệu sắp vào trạng thái động
kinh đến giai đoạn II là 30 phút và sang giai đoạn
III giai đoạn thực sự vào trạng thái động
kinh 30 – 60 phút. V́ vậy nếu trong thời gian chuyển
mà không được cho thở oxy, hút đờm
nhớt, điều chỉnh kịp thời th́ dễ
chuyển sang giai đoạn cuối, tiên lượng
rất xấu.
Kinh
nghiệm cắt cơn co giật của trạng thái động
kinh:
Phenobarbital
200mg bắp, mục đích tác dụng chậm thời gian
bán hủy dài.
Tiếp
theo ngay : Seduxen 10mg tĩnh mạch chậm do thầy
thuốc thực hiện, vừa tiêm vừa quan sát cơn,
cơn sẽ thưa dần hoặc ngưng hẳn, nếu
thấy cơn chớm lại tiếp tục tăng
dần. Tai biến do tiêm hoặc truyền Seduxen, hoặc gây
mê toàn thân trong điều kiện không có máy thở nhân
tạo, chú ư khi tiêm mời người nhà ra khỏi khu
điều trị nếu có ngưng thở hăy b́nh tĩnh
làm ngay hô hấp nhân tạo, không chần chừ như
chờ gọi đặt khí quản, thời gian đặt
khí quản mất nhiều phút, như vậy năo không có
oxy và sẽ tổn thương , thời gian vàng là 0 – 7
phút. Nếu không có máy, biện pháp tốt nhất là hà
hơi, thổi bằng miệng sau thổi ấn lồng
ngực để hơi thoát ra, tiếp tục như
vậy sau một thời gian ngắn bệnh nhân sẽ
thở lại, tránh ấn vào thượng vị dễ làm
trào thức ăn, chất dịch tràn vào đường
thở rất nguy hiểm.
Điều
trị cấp cứu trạng thái động kinh đ̣i
hỏi phải nắm vững những biến đổi
sinh lư toàn thân do trạng thái đóù gây ra và phải
điều trị trọng điểm là cắt cơn
nhưng đồng thời phải điều trị toàn
diện.
KẾT LUẬN
Trạng thái động
kinh co giật có tỷ lệ tử vong cao, do nhiều nguyên
nhân : bệnh năo mới và đang diễn tiến trong
đó có việc dùng thuốc không đúng nguyên tắc.
Nếu người bệnh và thân nhân thấy cơn
xuất hiện nhiều hơn b́nh thường có thể
tự uống tăng liều, rồi đến thầy
thuốc xă, cơ sở xử lư tiếp, theo tŕnh tự
như trên đă tŕnh bày, chắc chắn sẽ cứu
được nhiều trường hợp tránh rơi vào
trạng thái động kinh.
Nên
huấn luyện cho các thầy thuốc chuyên khoa thần
kinh và phát triển thêm các màng lưới điều
trị . Bên cạnh đó việc trang thiết bị
cấp cứu nội khoa nói chung hy vọng sẽ
được tăng cường. Hoàn chỉnh hơn xe
chuyển bệnh và đội ngũ chuyên môn đi theo.
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1.
Donoghue M.F. (1997). How
rational is current anti-epileptic drug treatment. Rev Neurol (Paris), 153: 25
-28.
2.
Dulac O. (1990). Convulsions et épilepsies. In Michel Arthuis et al eds
Neurologie Pédiatrique, p 163 -222.
3.
Leppir I.O. (1993). Status epilepticus. Un Elaine Wyllie ed The Treatment
of Epilepsy: Principles and Practice, Lea & Febiger, p 678-683.
4.
Shorvon S. (2000). Emergency Treatment of Epilepsy: Acute Seizures,
Serial Seizures, Seizure Clusters and Status Epilepticus. Handbook of Epilepsy
Treatment. Blackwell Science, Oxford, p 173 – 194.
