
CO
GIẬT SAU ĐỘT QUỊ
Isaac
E. Silveman, MD; Lucas Restrepo, MD; Gregory C. Mathews, MD, phd: poststroke
seizures. Arch neuro/vol 59, feb 2002, P 195-200.
Người
dịch: BS Bạch Thanh Thủy.
Đột
quị là nguyên nhân thông thường nhất gây co
giật ở người cao tuổi, và co giật là di
chứng thần kinh thông thường nhất của đột
quị. Từ khi bị đột quị cho đến
nhiều năm sau, khoảng 10% các bệnh nhân đột
quị bị co giật. Bài báo này thảo luận về
những hiểu biết hiện nay về dịch tễ
học, bệnh sinh, phân loại, đặc điểm lâm
sàng, những xét nghiệm chẩn đoán, chẩn đoán
phân biệt, vấn đề điều trị các cơn
co giật có liên quan tới các tổn thương
mạch máu năo khác nhau với tiêu điểm là sử
dụng thuốc chống động kinh ở người
cao tuổi.
DỊCH
TỄ HỌC.
Trong
các nghiên cứu quần thể, đột quị là nguyên
nhân gây co giật thông thường nhất ở những
người trên 35 tuổi. Ở những người cao
tuổi, đột quị giải thích cho hơn một
nửa những ca bệnh động kinh được
chẩn đoán mới đây, trong đó nguyên nhân
được xác định, hơn các bệnh lư thoái hóa,
u năo và chấn thương đầu. Từ các dữ
liệu đăng kư đột quị, khoảng 5% đến
20% những người bị đột quị sau đó
sẽ bị co giật. Nhưng bệnh động kinh (cơn
co giật tái phát) sẽ phát triển chỉ ở một
số nhỏ trong nhóm này. V́ vậy, mỗi năm, hơn
730000 người trong nước bị đột quị,
tỉ lệ co giật sau đột quị duy tŕ là
khoảng 36500 ca mới mỗi năm.Một nghiên cứu
với hệ phương pháp chính xác và lớn nhất
nhằn đánh giá động kinh sau đột quị ơ
là nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm do Nhóm nghiên
cứu động kinh sau đột quị. Nghiên cứu
gồm 1897 bệnh nhân và đă t́m được tần
xuất co giật chung là 8,9%. Cơn co giật tái phát
diễn biến thành bệnh động kinh th́ hiếm,
khoảng 2,5% số bệnh nhân, nhưng chỉ theo dơi
trung b́nh được khoảng 9 tháng.
Cơn
co giật có thể thường xảy ra sau đột
quị xuất huyết năo hơn là sau nhồi máu năo.
Bladin
và cộng sự đă t́m thấy tần xuất co
giật là 10,6% trong 265 bệnh nhân xuất huyết trong
sọ so với 8,6% trong 1632 bệnh nhân nhồi máu năo.
Trong những nghiên cứu tiến cứu khác, cơn co
giật có tỷ lệ 4,4% trong 1000 bệnh nhân, bao gồm
15,4% đối với xuất huyết trong sọ lan
rộng hoặc trong thùy năo, 8,5% với xuất huyết dưới
nhện, 6,5% với nhồi máu vùng vỏ và 3,7% với cơn
thiếu máu năo thoáng qua. Cơn co giật là h́nh ảnh
của xuất huyết trong sọ
là 30% với 1402 bệnh nhân. Trong số 95 bệnh nhân
xuất huyết dưới nhện
do ph́nh mạch tần xuất cơn co giật
xảy ra trước nhập viện
là cao hơn (17,9%) trong bệnh viện (4,1%).
PHÂN
LOẠI VÀ BỆNH SINH.
Cơn
co giật sau đột quị được phân loại
thành khởi phát sớm và khởi phát muộn dựa theo
thời điểm xảy ra của chúng sau thiếu máu năo
theo kiếu có thể so sánh với co giật sau chấn thương
sọ năo. Một thời điểm 2 tuần sau đột
quị đă được thừa nhận để phân
biệt giữa co giật sau đột quị sớm và
muộn. Các cơ chế và đặc điểm khác
biệt của co giật
sau đột quị dựa theo sự gần gũi
của chúng với thiếu máu năo đă được
đề xuất nhưng không tồn tại căn cứ
sinh lư bệnh rơ ràng đối với thời điểm
2 tuần.
Những
cơn co giật khởi phát sớm nhất xuất
hiện 1 đến 2 ngày đầu tiên sau thiếu máu năo.
Hầu như một nửa (43%)
trong tổng số bệnh nhân trong Nghiên Cứu Động
Kinh Sau Đột Quị ( Stroke After Seizures Study) bị co
giật trong ṿng 24 giờ đầu tiên sau đột
quị. Trong những lô nghiên cứu giới hạn
chỉ những ca co giật khởi phát sớm, 90% trong
số 30 ca bị trong ṿng 24 giờ đầu tiên.
Phần lớn các cơn co giật liên quan với xuất
huyết năo cũng xất hiện lúc khởi phát hoặc
trong ṿng 24 giờ đấu tiên.
Trong
quá tŕnh tổn thương thiếu máu cấp, việc
tập trung calci và natri trong tế bào cóthể dẫn
đến khử cực điện thế màng và các tác
động khác qua trung gian calci. Những thay đổi
về ion khu trú này có thể làm ngưỡng co giật
thấp hơn. Độc tính do kích thích của glutamate là
cơ chế được biết từ lâu về
chết tế bào trong dạng đột quị thực
nghiệm. Các thuốc antiglutamatergiccó thể cũng có vai
tṛ bảo vệ thần kinh trong
đột quị ngoài vai tṛ trong điều trị động
kinh.
Kích
thước của vùng rối loạn chuyển hóa có
thể cũng liên quan với nguyên nhân gây động kinh
khởi phát sớm. Trong bối cảnh tổn thương
rộng do thiếu oxy do thiếu máu, mức cao các chất
dẫn truyền thần kinh có độc tính do kích thích
có thể được giải phóng ngoài tế bào. Trong
các nghiên cứu về năo sau thiếu máu trên các dạng
động vật thực nghiệm, các nơron ở tân
vỏ năo và hipocampus bị biến đổi tính chất
màng tế bào và tăng khả năng bị kích thích,
điều này có lẽ làm ngưỡng khởi phát động
kinh thấp hơn. Vùng tranh tối tranh sáng do thiếu máu,
vùng mà các mô kề cận với trung tâm nhồi máu có
thể sống được trong đột quị
thiếu máu năo , chứa những mô nhạy cảm về
điện học có thể là trung tâm của ổ động
kinh.
Thêm
vào với thiếu máu cục bộ, giảm tưới máu
toàn bộ có thể gây động kinh. Bệnh năo
thiếu máu cục bộ-giảm oxy là một trong
những nguyên nhân thông thường nhất của t́nh
trạng động kinh và thường có tiên lượng
xấu. Đặc biệt dễ bị tổn thương
do thiếu máu là hypocampus, là vùng đặc biệt dễ
gây co giật.
Trong
những cơn co giật khởi phát muộn, ngược
lại, xuất hiện những thay đổi vĩnh
viễn trong khả năng chịc kích thích của nơron.
Việc thay thế những nhu mô tế bào khỏe
bằng những tế bào
miễn dịch và tế bào đệm có thể có vai tṛ
trong việc duy tŕ những thay đổi này. Những
vết sẹo tổ chức đệm đă liên quan như
là nguồn gốc của những cơn động kinh
khởi phát muộn, cũng như sẹo màng năo có
thể gây ra co giật khởi phát muộn sau chấn thương
Tổn
thương cơ bản xuất hiện vĩnh viễn
cắt nghĩa tần xuất bệnh động kinh cao hơn
ở những bệnh nhân có cơn co giật khởi phát
muộn hơn là khởi phát sớm. Cũng như
bệnh động kinh sau chấn thương, sự
xuất hiện muộn của những cơn co giật
đầu tiên cho thấy nguy cơ cao gây bệnh động
kinh. Ở những bệnh nhân đột quị thiếu
máu năo, tiến triển thành bệnh động kinh ở
35% bệnh nhân có cơn động kinh khởi phát
sớm và 90% ở những bệnh nhân có cơn co
giật khởi phát muộn. Nguy cơ phát triển thành
bệnh động kinh có thể so sánh với những
bệnh nhân xuất huyết năo, tiến triển thành
bệnh động kinh ở 29% bệnh nhân có cơn co
giật khởi phát sớm và 93% ở những bệnh nhân
có cơn động kinh khởi phát muộn.
Khái
niệm rằng cục nghẽn do nguyên nhân từ tim đến
năo thường hay gây cơn co giật hơn đang
được bàn căi với một vài dữ liệu
ủng hộ. Trong số 1640 bệnh nhân bị thiếu máu
năo, các trường hợp đă cho là do nguồn gốc
từ tim đă thường liên quan nhất với cơn
động kinh khởi phát sớm (16,6%), đă so sánh ngang
với xuất huyết trên lều (16,2%). Tuy nhiên, việc
xác định cơ chế nguồn gốc do tim rrong các lô
nghiên cứu này đă thường dựa trên những tiêu
chuẩn không đặc hiệu. Nhiếu tác giả đă
đặt câu hỏi về mối liên quan của các cơn
co giật với chứng nghẽn mạch do tim. Các cơn
động kinh tại lúc khởi phát đă không phải
là một tiêu chuẩn trong số các dữ liệu nghiên
cứu về nguyên nhân tim mạch của đột
quị. Bằng trực giác, không có lư do ǵ gợi ư
rằng các tổn thương nghẽn mạch do tim
lại thường gây co giật hơn những tổn thương
nghẽn mạch có nguồn gốc từ các mạch máu
lớn, v́ nghẽn mạch do tim và do mạch máu lớn thường
gồm những tổn thương các nhánh ngoại vi vùng
vỏ, cơ chế làm cho nghẽn mạch vùng vỏ
sớm gây cơn co giật th́ chưa rơ ràng, nhưng
những khả năng bao gồm sự khử cực bên
trong vùng thiếu máu tranh tối tranh sáng, tái tưới máu
nhanh sau tổn thương, và sự di chuyển ra
ngoại vi của cục nghẽn hoặc kết hợp
cả hai.
Khu
trú ở vùng vỏ là yếu tố nguy cơ xác thực
nhất của động kinh sau đột quị. Co
giật sau đột quị thường thấy hơn
ở những bệnh nhân bị tổn thương
rộng, bao gồm nhiều thùy năo hơn là những
bệnh nhân tổn thương một thùy đơn độc.
Dường như, bất cứ đột quị nào
chỉ gồm tổn thương dưới vỏ,
thỉnh thoảng có liên quan với co giật. Những
nghiên cứu trước đây, dựa trên những
kỹ thuật chẩn đoán h́nh ảnh có độ
nhậy cảm kém, có thể đă không phát hiện
được những tổn thương nhỏ đi kèm
ở vỏ năo mà có thểù là nguyên nhân gây cơ co
giật. Cơ chế mà tổn thương sâu dưới
vỏ ở bán cầu thông
thường nhất là bệnh mạch máu nhỏ gây co
giật vẫn chưa được biết.
Tương
tự với tổn thương vùng vỏ trong đột
quị thiếu máu năo, một tổn thương
thuộc thùy năo được xem là tổn thương
khu trú thường gây co giật nhất ở những
bệnh nhân xuất huyết trong năo. Trong một nghiên
cứu gồm 123 bệnh nhân, tần xuất co giật cao
nhất ở những bệnh nhân chảy máu trong cấu
trúc thùy năo vùng vỏ (54%), thấp ở vị trí
hạch nền (19%) và không có trong xuất huyết đồi
thị. Tổn thương đuôi của hạch nền
và tổn thương vùng thái dương hoặc vùng vách
ở vỏ năo đă tiên lượng có cơn co
giật. Xuất huyết do nhồi máu tĩnh mạch năo
cũng thường gây cơn co giật. Xuất huyết
nhu mô, thường vùng vỏ, do xung huyết tĩnh
mạch khu trú là nguyên nhân thường gặp của cơn
co giật.
Cơ
chế khởi đầu co giật trong xuất huyết năo
chưa được biết. Những sản phảm
trong quá tŕnh chuyển hóa máu như hemosiderin có thể gây
ra kích thích năo cục bộ dẫn đến cơn co
giật tương tự như co giật cục bộ
ở các dạng động vật đă gây ra bởi
sự lắng đọng sắt trong vỏ năo. Trong
xuất huyết dưới nhện thường có sự
xuất huyết lan rộng vào các bể nền, các
bể này tiếp xúc trực tiếp với vùng trán và vùng
thái dương. Các bệnh nhân bị xuất huyết dưới
nhện cũng có thể bị xuất huyết trong nhu mô.
Chỉ
có độ nặng của các triệu chứng thần
kinh ban đầu là yếu tố tiên lượng co
giật sau đột quị. Sự trầm trọng ban
đầu hoặc tàn tật do đột quị đă tiên
lượng các cơn co giật. Ngược lại, trong
Oxfordshinre Community Stroke Project, chỉ có 3% trong số 225
bệnh nhân không tự phục vụ được 1 tháng
sau đột quị bị
1 cơn co giật trong khoảng giữa 1tháng tới 5 năm. Các
bệnh nhân có thiếu
hụt thần kinh nặng hơn xu hướng có
đột quị lớn hơn, ảnh hưởng vùng
vỏ năo rộng hơn.
Trong
các nghiên cứu hồi cứu, yếu tố nguy cơ
đối với cơn co giật sau xuất huyết dưới
nhện bao gồm ph́nh động mạch năo giữa, máu
tụ trong nhu mô, nhồi máu năo, bệnh sử tăng
huyết áp và độ dày của cục nghẽn trong
bể năo. Ngược lại, đă không có các yếu
tố lâm sàng tiên lượng co giật sau xuất
huyết trong nhu mô năo.
Tổn
thương mạch máu có thể gây co giật do các cơ
chế khác. Co giật do dị dạng động tĩnh
mạch và ph́nh mạch tiêu biểu xuất hiện khi các
tổn thương này vỡ ra, nhưng những tổn thương
mạch máu này có thể gây co giật do kích thích trực
tiếp lên vùng nhu mô năo kế cận.
Cuối
cùng, các cơn co giật liên quan với tổn thương
mạch máu xuất hiện trong khung cánh tái tưới máu
năo đáng kể sau quá tŕnh tái phân bố mạch, thông
thường nhất là cắt bỏ nội mạc động
mạch cảnh đối với hẹp động
mạch cảnh đoạn ngoài sọ nặng. Hội
chứng tái tưới máu năo, được mô tả
đầu tiên bởi Sundt và cộng sự, bao gồm
những hoat động động kinh cục bộ thoáng
qua, các hiện tượng migrainous không điển h́nh và
xuất huyết trong năo mặc dầu thử nghiệm lâm
sàng này thường chưa đầy đủ. Khởi
phát của các hội chứng hiếm gặp này dao động
khoảng từ vài ngày tới 3 tuần sau tái phân bố
mạch và thường được báo hiệu bằng
đau đầu một bên mới khởi phát. Phẫu
thuật tạo h́nh trong dị dạng động tĩnh
mạch cũng có thể gây ra xung huyết trong hoặc sau
phẫu thuật với cơn co giật hoặc xuất
huyết xảy ra sau. Ngược lại, các dị
dạng động tĩnh mạch khu trú ở những vùng
ranh giới dễ liên quan tới ḍng chảy thấp ít có
nguy cơ bị xuất huyết hơn.
Hội
chứng tái tưới máu năo đă bị qui cho là do suy
giảm khả năng tự điếu ḥa của năo.
Trong giảm tưới máu năo măn tính do hẹp động
mạch cảnh mức độ nặng, các tiểu động
mạch chịu trách nhiệm về tính tự điều
hoà b́nh thường trong bán cầu đại năo trở
nên bị dăn măn tính. Rồi sau đó, khi tưới máu
được cung cấp bởi quá tŕnh tái phân bố
mạch máu, các mạch máu không thể co lại được
và nhu mô năo bị phụ thuộc vào sự tăng thêm
ồ ạt của ḍng máu. Sự giải phóng các peptit
thần kinh hoạt động hướng mạch từ
các dây thần kinh nhậy cảm quanh mạch có thể làm
tăng thêm hội chứng tái tưới máu, góp phần
cùng các chất oxy hóa, các chất này tăng thêm trước
khi tái phân bố mạch máu và góp phần vào đáp
ứng viêm đối với việc tái lập tuần hoàn.
ĐẶC
ĐIỂM LÂM SÀNG
Căn
cứ rằng phần lớn các cơn co giật sau đôt
quị được gây ra bởi các tổn thương
cục bộ, những cơn co giật sau đột
quị có khởi phát đặc trưng vào lúc bắt
đầu. Trong một nghiên cứu về những cơn
co giật khởi phát sớm trong 90 bệnh nhân , cơn co
giật cục bộ đơn giăn là thông thường
nhất (61%), tiếp theo là cơn co giật toàn thể
thứ phát (28%). Trong các nghiên cứu khác, Những cơn
co giật khỡi phát sớm thường thấy hơn là
cơn co giật cục bộ, trong khi những cơn co
giật khởi phát muộn thường là cơn co
giật toàn thể hóa. Phần lớn những cơn co
giật tái phát có cùng dạng với cơn hiện
tại và chúng có xu hướng tái phát trung b́nh trong ṿng
1 năm.
Trong
một nghiên cưu lớn gồm những bệnh nhân
bị co giật sau đột quị, 9% bị t́nh
trạng động kinh, điều liên quan nhất là tàn
tật chức năng cao hơn , t́nh trạng động
kinh không liên quan với tỷ lệ chết cao hơn,
dạng đột quị (nhồi máu hoặc xuất
huyết), khu vực (tổn thương vùng vỏ), kích
cỡ tổn thương hoặc kiểu điện năo.
H́nh
ảnh triệu chứng học của hội chứng tái
tưới máu năo là giống nhau, trong đó qui luật là
cơn khởi phát cục bộ cùng với thỉnh
thoảng là cơn toàn thể hoá thư phát.
CÁC
NGHIÊN CƯU CHẨN ĐOÁN
Holmes
đă t́m thấy rằng trên điện năo các bệnh
nhân có kiểu phóng điện dạng động kinh
lệch bên chu kỳ và kiểu phóng điện dạng
động kinh lệch bên chu kỳ không phụ thuộc
cả hai bên sau đôt quị đặc
biệt thiên về dạng tiến triển thành cơ co
giật. Những bệnh nhân như vậy cùng với các
ổ spickes cũng có nguy cơ cao (78%). Những ổ sóng
chậm cục bộ, sóng chậm lan tỏa,
và kết quả b́nh thường trên điện năo,
ngược lại đă liên quan với nguy cơ thấp
tương ứng là 20%, 10%, và 5%. Các nghiên cứu khác
đă t́m thấy rằng tổn thương vỏ năo trên
nghiên cứu h́nh ảnh giải phẫu thần kinh có ư
nghĩa tiên lượng hơn kết quả điện năo
đơn độc.
Những
ổ sóng chậm trên điện năo có thể chỉ là
phản ánh vùng rộng của mô thiếu máu hoặc
nhồi máu bao gồm vùng vỏ hoặc dưới
vỏ. Thêm vào với h́nh ảnh học thần kinh, điện
năo có thể giúp ích tronng việc đánh giá sớm các
triệu chứng thần kinh cục bộ sau đột
quị vạch rơ tiên lượng xấu. Với các
bệnh nhân chọn lọc, ổ sóng chậm có thể xác
định chẩn đoán lâm sàng đối với
thiếu máu bán cầu và là lư lẽ phản đối
việc cắt nghĩa cơn co giật đang diễn ra
như là triệu chứng thần kinh cấp tính. Không có
điện năo bất thường không loại trừ
dứt khoát thiếu máu năo, đặc biệt trong các
cấu trúc dưới vỏ hoặc dưới lều
hoặc hoạt động động kinh không liên
tục.
Đặc
biệt đáng chú ư, cơn co giật có thể bắt chước
kiểu thiếu máu hoặc nhồi máu trên kết quả
h́nh ảnh học. Lansberg và cộng sự mới đây
đă mô tả một vài kết quả h́nh ảnh
cộng hưởng từ trong giai đoạn cấp tính
ở 3 bệnh nhân bị t́nh trạng động kinh
cục bộ. Nghiên cứu này đă chỉ ra sự tăng
nhậy cảm vùng vỏ trên h́nh ảnh diffusion-weighted và
T2-weighted liên tục và một vùng tương ứng
của hệ số khuyếch tán thấp rơ rệt. Dường
như những kết
quả này đă được phân biệt dễ dàng
với đột quị thiếu máu năo đặc
hiệu nhờ việc không có phân bố mạch của
chúng. Tăng tín hiệu trên động mạch năo
giữa một bên trên h́nh ảnh cộng hưởng
từ mạch máu và tăng tín hiệu màng năo tủy
mềm trên h́nh ảnh cộng hưởng từ sau tiêm
thuốc tương phản. Những nghiên cứu khác
đă chỉ ra sự tăng cường độ trên các
h́nh ảnh lượng hoá khuyếch tán (diffusion-weighted)
trong phần sau bên của đồi thị một bên
ở 2 bệnh nhân. (Tranh 3).
CHẨN
ĐOÁN PHÂN BIỆT
Chẩn
đoán phân biệt những cơn co giật gây ra do
thiếu máu bao gồm những cơn co giật thứ phát
do những nguyên nhân khác. Về nội khoa, cai thuốc (như
là benzodiazepine), các rối loạn chuyển hóa tiêu
biểu (các bất thường glucoza) gây cơn co
giật toàn thể trừ khi tổn thương cơ
bản có mặt rồi. Các triệu chứng cục
bộ liên quan với migraine, cơn thiếu máu năo
thoảng qua có thể gây những ổ sóng chậm trên
điện năo. Trong số những điều này, không nên
bỏ qua sự bất thường về nồng độ
glucoza.
ĐIỀU
TRỊ
Chọn
lựa thuốc chống động kinh nên dựa vào các
đặc điểm riêng của mỗi bệnh nhân, bao
gồm các thuốc kết hợp, các bệnh kết
hợp. Theo hiểu biết của chúng tôi, không có nghiên
cứu có kiểm chứng nào đánh giá cơn co giật
sau đột quị đă được hướng
dẫn để đánh giá các thuốc đặc
biệt. Dĩ nhiên một vấn đề quan trọng hơn
là có điều trị từ đầu cho tất cả
bệnh nhân hay không, bởi v́ chỉ có một số ít
cơn co giật sau đột quị đă được
chứng minh là tái phát. Trong khi không có yếu tố tiên lượng
chắc chắn cho bệnh động kinh sau
đột quị, phần lớn các thầy
thuốc điều trị cơn co giật của
bệnh nhân theo kinh nghiệm khi các cơn co giật
xuất hiện trong khung cảnh của bệnh đột
quị mới đây. Như vậy, Bladin và cộng
sự chỉ rơ rằng một thử nghiệm có
kiểm chứng gồm những bệnh nhân bị
bệnh động kinh sau đột quị sẽ
đưa ra những đ̣i hỏi về công tác chuẩn
bị rộng lớn và sẽ có khả năng là không có
đạo đức. Mặc dù tần xuất thấp
của cơn co giật sau đột quị, số lượng
tuyệt đối vẫn cao, chứng tỏ rằng
một vấn đề quan trọng c̣n tồn tại.
Arboix và cộng sự kết luận rằng hiệu
quả của các kháng động kinh trong pḥng bệnh nên
được đánh giá trong nghiên cứu tiến
cứu. Tiến hành các thử nghiệm ngẫu nhiên
gồm các bệnh nhân có nguy cơ cao.
cơn
co giật saui đột quị thường được
kiểm soát bằng một thuốc chống động
kinh đơ độc. Trong một nghiên cứu hồi
cứu, đơn trị liệu giải quyết
được 88% trong số 90 bệnh nhân bị co
giật. V́ khởi phát cục bộ đặc trưng
của cơn co giật sau đột quị, lựa
chọn điều trị đầu tiên bao gồm
carbamazepine và muối natri của phenytoin. Về sau có
sự thuận lợi của thuốc đưa vào ngoài
đường tiêu hóa, điều này có thể cần
thiết v́ t́nh trạng tâm thần và t́nh trạng
nuốt có thể suy giảm. Fosphenyltoin sodium cũng là
sự lựa chọn đáng chú ư trong những bệnh nhân
đột quị v́ ít độc với tim mạch hơn
phenyltoin. Benzodiazepine, đặc biệt lorazepamnên dùng ban
đầu cho những bệnh nhân đang co giật. Không
có dữ liệu ủng hộ việc sử dụng các
thuốc khác để điều trị các cơn co
giật khởi phát sớm so
sánh với cơn co giật khởi phát muộn.
Các
thuốc chống động kinh mới hơn đang
được giới thiệu như những thuốc hàng
đầu cho những bệnh nhân lớn tuổi bởi v́
hiệu quả của nó và tác dụng phụ ít hơn.
Khoảng 10% nhà dưỡng lăo ở Mỹ lĩnh các
thuốc chóng động kinh, phần lớn thường
để điều trị các bệnh lư động
kinh. Trong một nghiên cứu về bệnh động kinh
ở người lớn tuổi mới được
chẩn đoán, lamotrigine gần đây đă được
chứng minh là dung nạp tốt hơn và cắt
được cơn co giật trong thời khoảng lâu hơn
carbamazepine. Mặc dầu nhiều thuốc chống động
kinh mới hơn như là topiramate và levetiracetam đă
được nghiên cứu như là những thuốc
kết hợp thêm vào cho những cơn co giật cục
bộ kháng trị, trên lâm sàng chúng thường
được dùng đơn độc. Gabapentin đă
tỏ ra là có hiệu quả khi dùng đơn độc
trong bệnh động kinh cục bộ. Đối
với tất cả các thuốc chống động kinh,
hiệu quả bất lợi giới hạn liều thích
hợp nhất là tác dụng an thần, đặc
biệt trên những bệnh nhân lớn tuổi bị
đột quị.
Tương
tác thuốc là sự cân nhắc quan trọng , v́ phần
lớn các bệnh nhân đột quị dùng nhiều
loại thuốc. Các thuốc chống động kinh
thế hệ đầu tiên trải qua chuyển hóa quan
trọng ở gan, và phenyltoin và axit valproic tỉ lệ
gắn với protein cao. Ví dụ, sự tương tác
được ghi nhận rơ rệt giữa warfain và
phenyltoin làm cả hai yếu tố khó duy tŕ ngưỡng
điều trị hằng định.
Trong
hướng dẫn của hội đột quị
của hiệp hội tim mạch Mỹ ( the Stroke Coulcil of
the American Assocition) đă giới thiệu phác đồ pḥng
co giật cùng kiểu trong thời kỳ cấp đối
với xuất huyết trong năo và xuất huyết dưới
nhện. Đối với xuất huyết trong năo có
thể dẫn đến tổn thương thần kinh
nhiều hơn và góp phần dẫn đến hôn mê,
mặc dầu không có dữ liệu lâm sàng nào ủng
hộ khuyến cáo này. Các bệnh nhân bị tổn thương
trong năo đơn độc hoặc sâu dưới vỏ
(như là đồi thị) xcó nguy cơ thấp gây động
kinh và không cần điều trị. Hướng dẫn
gợi ư liều phenyltoin sodium đă chuẩn bằng
mức huyết thanh (14-23 (g/ml) với việc điều
trị ngắt quăng sau một tháng nếu không có cơn
co giật xuất hiện trong thời
gian điều trị. Các bệnh nhân có cơn co giật
hơn hai tuần sau bị bệnh có nguy cơ cao
bị co giật tái phát và có thể cần điều
trị pḥng cơn lâu dài.
Những
nghiên cứu hồi cứu nhỏ gợi ư không cần
thiết dùng thuốc kháng động kinh pḥng cơn sau
xuất huyết dưới nhện do ph́nh mạch,
bới v́ nguy cơ thấp vừa phải liên quan với
điều trị kháng động kinh và liên quan lớn
với tái xuất huyết do ph́nh mạch, một thử
nghiệm lâm sàng nói về vấn đề này có thể
không bao giờ xuất hiện. Sử dụng lâu dài
thuốc chống động kinh không được khuyên
đối với những bệnh nhân bị xuất
huyết dưới nhện, những người không
bị co giật nhưng nên cân nhắc khi có ít nhất 1
trong vài yếu tố nguy cơ tồn tại.
Trong
các trường hợp bị hội chứng tái tưới
máu, tiêu chuẩn pḥng ngừa quan trọng là kiểm soát
khả năng tấn công của huyết áp. Vai tṛ
của điều trị chống động kinh trong
những bệnh nhân này là chưa rơ ràng. Các cơn co
giật trong hội chứng tái tưới máu thỉnh
thoảng đáp ứng với thuốc chống động
kinh theo những bằng chứng có tính giai thoại, nhưng
có thể là khó điều trị khi không có thuốc an
thần mạnh. Một vài bác sỹ phẫu thuật
thực hiện pḥng bệnh theo kinh nghiệm do bởi
mối liên quan với co giật trong ṿng 1-2 tuần sau
cắt bỏ áo trong động mạch ở những
bệnh nhân hẹp động mạch cảnh nặng.
Điều trị nhồi máu tĩnh mạch thường
bắt buộc phải dùng thuốc kháng động
hệ thống và mới
đây thuốc ly giải cục máu đông trong cục
nghẽn dùng qua đường nội mạch đă
chứng minh thành công trong những bệnh nhân chọn
lọc. Các chuyên gia đă khuyên rằng chỉ tiến hành
điều trị kháng động kinh khi có co giật.
TIÊN
LƯỢNG
Tác
động của co giật sau đột quị với
hậu qua đột quị th́ chưa rơ ràng, với các
dữ liệu mâu thuẫn giữa các lô
nghiên cứu khác nhau. Trong 2 nghiên cứu tiến
cứu, các cơn co giật khởi phát sớm đă không
liên quan với tỷ lệ chết cao hơn hoặc các
thiếu hụt thần kinh trầm trọng. Các cơn co
giật đă liên quan với hậu quả tốt hơn
theo thang điểm scadinavian stroke trong các lô nghiên cứu
khác, các tác giả mặc nhiên công nhận là cơn co
giật là biểu hiện của vùng thiếu máu tranh
tối tranh sáng mà nó đă góp phần làm hồi phục
tốt hơn. Ngược lại, theo các tác giả khác,
các bệnh nhân có cơn co giật khởi phát sớm
trong 48 giờ sau đột quị hoặc cơn
thiếu máu năo thoảng qua th́ chết trong bệnh
viện cao hơn có ư nghĩa (37,9%) so với những người
không có cơn co giật (14,4%).
Đối
với xuất huyết dưới nhện, cơn co giât lúc
khởi phát tiên lượng cơn co giật khởi phát
muộn và hậu quả kém, đánh giá bằng độ
tàn tật sau 6 tuần dùng Glasgow Outcome Scale. Trong một
quần thể thuộc Aixơlen, bệnh động kinh
đă thường gặp hơn ở những bệnh nhân
có di chứng thần kinh nặng (48%) so sánh với
những người không có di chứng thần kinh
nặng (20%).
Cơn
co giật trong hội chứng tái tưới máu thường
tự giới hạn. Tiên lượng lâu dài phụ
thuộc vào khả năng xuất huyết trong sọ.
Trong một lô nghiên cứu gồm 1500 bệnh nhân cắt
bỏ áo trong động mạch , xuất huyết chỉ
gặp trong 11 bệnh nahân, và 4 trong số này đă
chết.
KẾT
LUẬN.
Co
giật sau đột quị là triệu chứng thông thường
và có thể điều trị, trong khi tiến triển thành
bệnh động kinh th́ tương đối hiếm.
Các tổn thương mạch máu năo đă liên quan
với cơn co giật bao gồm : xuất huyết dưới
nhện và xuất huyết trong năo (nhu mô) và huyết
khối tĩnh mạch năo, có hoặc không có nhồi máu
tĩnh mạch, những tổn thương ảnh hưởng
tới vỏ năo, các thiếu hụt lớn hoặc tàn
tật về thầøn kinh đang hiện diện, và quá
tŕnh tái phân bố mạch liên quan với động
mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ. Điều
trị các cơn co giật sau đột quị không có khác
biệt hơn khuynh hướng điều trị cơn
co giật khởi phát cục bộ do các tổn thương
năo khác, và cơn co giật sau đột quị thường
đáp ứng tốt với các thuốc chống động
kinh dùng đơn độc. V́ khả năng dung nạp
của chúng, các thuốc chống động kinh thế
hệ mới hơn mang lại hứa hẹn trong việc
điều trị những bệnh nhân lớn tuổi. V́
tần xuất thấp của bệnh động kinh sau
đột quị, không có chỉ dẫn cho việc dự
pḥng cơn co giật đối với những bệnh nhân
bị đột quị thiếu máu cấp, những người
có hoặc không có cơn đầu tiên được
chứng kiến rơ rệt. Điều cần thiết
đối với việc sử dụng thuốc chống
động kinh lâu dài nên
được đánh giá định kỳ, có lẽ
mỗi 6 tháng. Mặc dù không có hiệu quả lâm sàng
được chứng minh bằng dữ liệu lâm sàng
, phần lớn các bệnh nhân bị xuất huyết
trong sọ và xuất huyết dướn nhện nên
được sử dụng thuốc chống động
kinh để pḥng bệnh trong thời gian ngắn.
Trong
tương lai, lĩnh vực nghiên cứu về vấn
đề co giật sau đột quị bao gồm đánh
giá tác động của nó trên kích thước tổn
thương ban đầu và hậu quả trên bệnh nhân
sau này, xác định khuynh hướng điều trị
kháng động kinh lâu dài sau co giật đơn độc
và đánh giá yếu tố nguy cơ đối với
hội chứng tái tưới máu. Bệnh động kinh
sau đột quị cũng có thể trở thành một
vấn đề cơ bản quan trọng trong nghiên
cứu mà mục đích để pḥng ngừa chuyển
dạng những mô năo bị tổn thương thành ổ động kinh.
