|
|
ĐIỀU
TRỊ CẤP CỨU ĐỘNG KINH LIÊN TỤC KHÁNG TRỊ
ThS
Cao Phi Phong, bộ môn Nội TK trường Đại học Y Dược TP HCM TRƯỜNG
HỢP LÂM SÀNG
Bệnh
nhân nam 24 tuổi nhập viện cấp cứu do sốt và
cơn động kinh Bệnh
sử: trước nhập viện một ngày bệnh nhân
có 4 cơn động kinh toàn thể cơn kéo dài
khoảng 2 phút, sau cơn mất ư thức.
Có đau đầu 4 ngày, tiền sử viêm xoang.
T́nh
trạng lúc vào cấp cứu
không tiếp xúc, la hét, mạch
80lần/phút, huyết áp120/70mmHg, nhiệt độ 380C,
nhịp thở đều 20lần/phút. Cổ gượng,
Kernig(±), Babinski(±)T. Chẩn đoán sơ bộ: viêm màng năo
năo Kết
quả cận lâm sàng CTM
: HC 4.49M/uL, BC 7.51K/Ul(56.2%N, 25,7%L), TC 458.K/uL Glycemia:79mg/dl,
BUN:12,7mg/dl, AST:119U/L,
ALT:111U/L,
Na:129mmol/L Điện
năo sóng chậm delta 1-3c/s, sóng theta 3-4c/s, lan toả cả 2
bán cầu không ghi nhận hoạt động sóng động
kinh. CT
năo không cản quang b́nh thường Huyết
thanh chẩn đoán viêm năo Nhật bản (-), PCR(-) Dịch
năo tuỷ: màu cam nhiều hồng cầu, BC 11/mm3(N: 46,
L:44) Huyết
thanh chẩn đoán: encephalite japonaise (-), Epstein Barrvirus
IgM,IgG(-), Cytomegalovirus(-), Herpes simplex virus IgM(-), IgG1(+)
1.712/0.300, IgG2 (-) Diễn
tiến điều trị -
Ngày
thứ nhất nhập viện c̣n nhiều cơn trong ngày(5
cơn) cơn kéo dài 2 phút, ư thức không hồi phục,
điều trị seduxen(40mg) + dihydan(4v) uống. -
Ngày
thứ 2 cơn nhiều hơn , thời gian giữa 2 cơn
ngắn hơn( 16 cơn): seduxen truyền tĩnh
mạch(110mg) +tĩnh mạch(10mg) + dihydan(6v) uống. -
Ngày
thứ 3 c̣n cơn liên
tục, chẩn đoán động kinh liên tục kháng
trị/viêm năo. Bệnh nhân điều trị phenobarbital
truyền tĩnh mạch(600mg)+ dihydan, trong ngày c̣n 3 cơn. -
Ngày
thứ 4 bệnh nhân được hội chẩn dùng
hypnovel 1mg/giờ, liều được tăng lên dần
đến 8mg/giờ, trong ngày c̣n nhiều cơn. -
Ngày
thứ 5 liều hypnovel tăng 12-18-24- 30mg/giờ. Bệnh
nhân được đặt nội khí quản
thở máy và hội chẩn hồi
sức chỉ định dùng thêm thiopental bolus
tĩnh mạch 200mg trong 10 phút và duy tŕ 4mg/kg/giờ, bệnh nhân vẫn c̣n cơn nhưng thưa
hơn, mê sâu. -
Ngày
thứ 6 cắt hypnovel dùng thiopental liều 10ml/giờ, c̣n
cơn rải rác, mê sâu -
Ngày
thứ 7 có cơn tái phát:
điều trị thiopental 10ml/giờ(# 4mg/kg / giờ) +
hypnovel(5mg/giờ), cắt cơn và tiếp tục điều
trị kết hợp trong ngày 8, 9 và 10, liều hypnovel và
thiopental giảm dần và ngày thứ 10 có cơn tái phát,
tăng liều (thiopental:12,5ml/giờ, hypnovel:10ml/giờ).
Bệnh nhân mê sâu hơn hội
chẩn và đổi hypnovel bằng diazepam TTM chậm
ngắt quảng (60mg/4giờ) + thiopental. -
Ngày
thứ 12 huyết áp tụt dùng vận mạch giảm
liều thiopental dần, cắt diazepam, ngày thứ 14
cắt thiopental và xuất
viện ngày thứ 15. Chẩn
đoán ra viện :động kinh liên tục kháng
trị/viêm năo/viêm phổi. ĐẶT
VẤN ĐỀ
-
Phenytoins
tĩnh mạch? -
Phenobarbital
tĩnh mạch? -
Valproic
acid? -
Midazolam? -
Thiopental? -
Propofol? ĐIỀU
TRỊ CẤP CỨU BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH LIÊN TỤC
I.Định
nghĩa
Theo
WHO, động kinh liên tục khi cơn động
kinh tiếp tục tồn tại trong thời gian dài, hay
tần số lập lại đủ để gây
bất động, hay điều kiện động kinh kéo
dài. Các nghiên cứu gần đây định nghĩa: cơn
động kinh lâm sàng đơn thuần kéo dài hơn 30
phút hay chu kỳ lập lại cơn trên 30 phút không có
hồi phục ư thức. Năm 1993 Hiệp hội động
kinh Hoa Kỳ(EFA) đưa ra đề
nghị các thuốc chống động kinh liên
tục khởi đầu dùng khi cơn kéo dài hơn 10 phút, dựa trên cơ sở các cơn
ít khi kéo dài hơn 5 phút và các bằng chứng tổn thương
nơron không hồi phục do động kinh kéo dài.
Gần đây có đề nghị
định nghĩa cơn động kinh liên tục
toàn thể khi kéo dài hơn
5 phút a) cơn động kinh liên tục hay b)
giũa 2 hay nhiều cơn
ư thức không hồi phục hoàn toàn. Động kinh
liên tục chia 3 giai đoạn: giai đoạn sớm
từ 0-30 phút, trể từ 30-60 phút và giai đoạn kháng
trị trên 60 phút.
Ở
Việt Nam chưa có thống kê số liệu động
kinh liên tục, ở Hoa Kỳ một năm có khoảng
50-150.000 ca trong một năm(tỷ
lệ mới mắc 50/100.000 dân), tử vong do động
kinh liên tục từ 5-22% và có
thể lên đến 65% cho động kinh liên tục kháng
trị trong lần điều trị đầu tiên.
Một khảo sát cho thấy 7% bệnh nhân động
kinh đến cấp cứu là động kinh liên tục
và hàng năm một bác sĩ cấp cứu điều
trị ít nhất là 5 bệnh nhân động kinh liên
tục. II.
Có bao nhiên phần trăm bệnh nhân sẽ không đáp
ứng điều trị đầu tiên với
benzodiazepine?
Huff
nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm cho thấy
17% bệnh nhân động kinh có cơn
tái phát và động
kinh liên tục là 6% (bệnh nhân đến cấp
cứu). Một nghiên cứu hồi cứu khác tỷ
lệ bệnh nhân có cơn động kinh trước
nhập viện 7% và ở cấp cứu 1,5% (EMS). Tỷ
lệ người lớn có cơn trong thời gian
nhập viện 1,5% và ở trẻ
em từ 5-7% không kể nguyên do sốt hay không sốt.
Trong
điều kiện hiện nay ở Việt Nam hầu
hết bệnh nhân động kinh liên tục được
điều trị đầu tiên là diazepam. Leppick(1983) nghiên
cứu 78 bệnh nhân, đáp ứng điều trị
diazepam 76% trong khi với lorazepam 89%. Treiman so sánh dùng lorazepam
với diazepam và phenytoin trong 384 bệnh nhân (1998), tiêu chí
cắt cơn lâm sàng và bằng chứng EEG trong 20 phút, 67%
đáp ứng lorazepam và 60% với diazepam và phenytoin Gần
đây trong một nghiên cứu của EMS
so sánh dùng diazepam(5mg IVPx 2), lorazepam(2mg IVPx2) và placebo.
Cắt cơn 59% đối với lorazepam, 43% diazepam và 21%
không dùng thuốc. Các dữ liệu trên đây cho
thấy tỷ suất chênh(OR) cắt cơn của lorazepam
gấp 1,9 lần so với diazepam. Theo Treiman
benzodiazepines cắt cơn 79% trong 1346 ca động kinh
liên tục(nghiên cứu lâm sàng không kiểm chứng). III.
Vai tṛ các thuốc dùng tiếp theo khi benzodiazepine thất
bại?
Hiện
nay phenytoin được chấp nhận
dùng tiếp theo thất bại cắt cơn bằng
benzodiazepine tuy nhiên rất ít nghiên cứu có kiểm
chứng trong điều
trị động kinh liên tục. Theo Treiman 56% cắt cơn
bằng phối hợp diazepam/phenytoin. Fosphenytoin tĩnh
mạch được nghiên cứu trong cấp cứu
động kinh liên tục, hầu hết sau khi đă dùng
benzodiazepine, 97% ghi nhận c̣n cơn co giật trong
2 giờ và không có nghiên cứu tiền cứu dùng
sau điều trị benzodiazepine thất bại . Phenytoins
liều cao được dùng trong một số ca, Osorio báo
cáo 13 bệnh nhân dùng liều 24mg/kg, 5 bệnh nhân(38%) không
cần điều trị pentobarbital. EFA(The Epilepsy
Foundation of American) khuyến cáo liều 30mg/kg phenytoin trước
khi dùng các thuốc chống động kinh khác.
Phenobarbital
tĩnh mạch được chấp nhận là thuốc
được dùng sau điều trị thất bại
benzodiazepine và có động kinh liên tục, có 2 nghiên
cứu mù đôi đánh giá hiệu quả điều
trị, nghiên thứ nhất so sánh dùng diazepam và phenytoin
với dùng phenobarbital và dùng phenytoin trong 36 bệnh nhân.
Thời gian động kinh liên tục ghi nhận ngắn hơn
khi dùng phenobarbital và 61% bệnh nhân dùng phenobarbital không
cần thêm phenytoin để cắt cơn. So sánh tỷ
lệ biến chứng 2 nhóm điều trị phenobarbital
được đề nghị có thể chọn thay cho
thuốc điều trị cơ bản diazepam và
phenytoin. Nghiên cứu thứ 2 so sánh phenobarbital với
phenytoin trong điều trị co giật ở trẻ sơ
sinh cho thấy thất bại khi dùng đơn độc
và đ̣i hỏi dùng benzodiazepine trước.Phenobarbital
thuốc có tác dụng mạnh hơn trong điều
trị ngay cả lorazepam hay diazepam phối hợp phenytoin
(Treiman và cộng sự). Thời gian bán huỷ ngắn hơn
5 phút trong bệnh nhân động kinh liên tục, cắt cơn
trong vài phút, nồng độ đỉnh trong huyết
thanh dưới 15(g/ml. Bất lợi phenobarbital là kéo dài
an thần, ức chế hô hấp và hạ huyết áp
cần đặt nội khí quản và thở máy khi dùng
liều cao, thuốc có thể dùng cho bệnh lư năo
thiếu oxy. Liều khuyến cáo phenobarbital không xác định
rơ ràng, trong thực tế lâm sàng
dùng 10mg/kg tĩnh mạch với tốc độ
100mg/phút(người lớn 600-800mg), tiếp theo duy tŕ
1-4mg/kg/ngày. Ở trẻ em 15-20mg/kg và duy tŕ 3-4mg/kg/ngày,
trong động kinh liên tục kháng trị liều từ
40-80mg/kg
Valproate
cho thấy có hiệu quả cắt
cơn động kinh liên tục trong một
nghiên cứu ở Pháp,
thuốc được dùng sau khi các thuốc chống
động kinh đầu tiên không kết quả,
83% cắt cơn sau 20 phút. Thuốc cũng được
báo cáo có hiệu quả trong điều trị myoclonus và
động kinh liên tục ở
Hoa Kỳ. Valproate có thể truyền tốc độ
từ 3- 6mg/kg /phút, liều 10-20mg/kg, tuy nhiên chưa có nghiên
cứu trong động kinh liên tục. Ở khoa thần
kinh bệnh viện Chợ Rẫy báo cáo điều
trị thành công một trường hợp động
kinh liên tục kháng trị bằng valproate tĩnh mạch.
Thuốc được chọn trong cấp cứu cơn
vắng ư thức liên tục, do có thể truyền nhanh nên
có thể dùng sau điều trị benzodiazepine và phenytoin
thất bại, thuốc ít ảnh hưởng trên hệ
thống tim phổi so với phenobarbital.
Mục
tiêu điều trị động kinh liên tục là
cắt cơn trên lâm sàng và điện năo, hiện nay
không có bắng chứng hướng dẩn chọn
lựa thuốc sau khi thất bại với benzodiazepin, tuy
nhiên theo kinh nghiệm lâm sàng hầu hết dùng phenytoin và
phenobarbital. Phenytoin được chọn đầu tiên v́
không có tác dụng an thần, dùng phenytoin tĩnh mạch
cho người lớn từ 15-18mg/kg và không quá 50mg/phút(người
già 20mg/phút và trẻ em không quá 25mg/kg, thường
kiểm soát 50-80% ca. Bệnh nhân không cắt cơn khi dùng
benodiazepine và phenytoin,
thuốc được chọn lựa theo kinh điển
là phenobarbital(có thể dùng sớm hơn hay với
phenytoin). Nếu cơn tiếp tục 30 phút sau khi dùng
thuốc chống động kinh thứ 2 phenytoin hay
phenobarbital có chỉ định gây mê toàn bộ bằng
barbiturate hay nonbarbiturate. Nghiên cứu ngẫu nhiên 384
bệnh nhân động kinh liên tục Treiman và cộng
sự kết luận lorazepam thành công 64,9%, diazepam và
phenytoin 55,8% và phenytoin là 43,6% IV.
Điều trị động kinh kháng trị (refractory SE)
Động
kinh kháng trị được định nghĩa cơn
tiếp tục sau khi dùng 2 loại thuốc đầu tiên
thường benzodiazepine cộng với phenytoin hay
phenobarbital và cơn kéo dài hơn 60 phút. Liều điều
trị trong giai đoạn
này thường gây ức chế hô hấp và
tụt huyết áp nên cần đặt nội khí
quản, theo Treiman trong số bệnh nhân điều
trị ức chế hô hấp cần thở máy 18,9%, dùng
thuốc vận mạch 32,6%. Bệnh nhân cần được
theo dơi bằng EEG ,
thuốc truyền tĩnh mạch duy tŕ sau khi bolus đủ
để kiểm soát cơn và ức chế bùng nổ trên
EEG hay ít nhất là ức chế sóng động kinh trong
thời gian từ 12-24 giờ trước khi giảm
liều. 1.
Midazolam tĩnh mạch Thuốc
gây mê toàn thân benzodiazepine: diazepam, lorazepam
không tan trong
nước cần có dung môi khan nước và gây kích thích
tại chổ, midazolam
tan trong nước không gây kích thích tại chổ, tác
dụng ngắn, hấp thu nhanh, thời gian bán huỷ
từ 1-4 giờ . Trong những năm gần đây
midazolam được dùng trong động kinh liên tục
kháng trị, liều cho người lớn 0,15-0,2mg/kg, bolus
4mg trong 1 phút tiếp theo truyền tĩnh mạch
0,1-0,4mg/kg/giờ, thuốc cũng được dùng cho
trẻ em . Trong một nghiên cứu so sánh midazolam và diazepam
truyền tĩnh mạch 40
trẻ em tuổi từ 2-12 tuổi, kiểm soát được
cơn động kinh liên tục kháng trị 18 ca
bằng midazolam và 17 ca bằng diazepam, thời gian
cắt cơn trung b́nh 16 phút, tuy nhiên tái phát cơn
nhiều hơn(midazolam: 57% và diazepam: 16%). Nhược điểm
cơn động kinh phản hồi (feedback). Bệnh nhân
có cơn tái phát sau cắt thuốc hay giảm liều
cần thiết dùng lại thuốc, bệnh nhân dùng
thuốc lâu ngày có thể tăng liều để duy tŕ
ức chế cơn động kinh. 2
Propofol tĩnh mạch Được
báo cáo điều trị thành công ở Phần lan,
Thuỵ-sĩ và tây Ấn-độ. Trong một nghiên
cứu ở Hoa Kỳ so sánh 16 bệnh nhân điều tri
propofol với barbiturate liều cao, cắt cơn propofol 63%,
barbiturate 82%, nhưng propofol thời gian cắt cơn
ngắn hơn (3 so với 123 phút, p<0,002). Propofol là
thuốc gây mê tác dụng ngắn có thể dùng bolus hay
truyền tĩnh mạch, liều dùng trong động kinh
liên tục kháng trị bolus 2mg/kg, có thể lập lại
khi c̣n cơn, liều duy tŕ truyền tĩnh mạch
5-10mg/kg/giờ và được hướng dẫn
bằng EEG. Truyền kéo dài 12-24 giờ và giảm liều
từ từ. Thuốc thường gây vận động
bất thường, truyền kéo dài gây tăng lipid máu,
gia tăng bất hoạt biến dưỡng glucuronide và
toan biến dưỡng đặc biệt ở
trẻ em.
Pentobarbital
hay thiopental được dùng nhiều nhất. Người
lớn liều pentobarbital bolus
tĩnh mạch đầu tiên 50-100mg, tiếp tục
liều 25-30mg mỗi 2-3 phút cho đến cắt cơn hay
tổn thương chức năng sinh tồn. Truyền tĩnh
mạch tốc độ duy tŕ ức chế hoạt động
động kinh trên EEG liều từ 1-5mg/kg/giờ.
Thời gian chưa thống nhất, thuốc thường
duy tŕ sau khi ức chế kiểu bùng nổ trên EEG từ
12-24 giờ. Pentobarbital biến dưỡng rất chậm
do tan trong chất béo và tái phân bố đến các
tổ chức, nguy cơ tích tụ và trụy tim mạch
khi dùng kéo dài, liều lượng và theo dỏi đ̣i
hỏi cần có kinh nghiệm. Thiopental
có nguy cơ cao tổn thương tại chổ,
khi truyền tĩnh mạch phải dùng kim lớn hay
đường tĩnh mạch trung tâm. BÀN
LUẬN
Động
kinh liên tục kháng trị khi không đáp ứng 2 hay
nhiều hơn thuốc chống động kinh, các
biến chứng ức chế hô hấp, tụt huyết
áp thường gặp, bệnh nhần cần đặt
nội khí quản và thở máy, điều chỉnh
hạ huyết áp, một số trường hợp
cần theo dơi áp suất tĩnh mạch trung tâm. Khi
bệnh nhân ở giai đoạn kháng trị theo dơi EEG liên
tục: xác định hoạt động sóng động
kinh, điều chỉnh liều. Midazolam có hiệu quả
trong động kinh liên tục kháng trị liều bolus
0,2mg/kg tiếp theo là 0,1
đến 0,4mg/kg/giờ, các benzodiazepine khác như diazepam dùng
liều cao gây toan chuyển hoá do dung môi propylene glycol. Khi
liều cao midazolam thất bại hay ngưng do nhiễm
độc có thể dùng barbiturate liều cao như
thiopental, liều khởi đầu có thể 200mg và
tăng lên mỗi vài phút đến khi cắt cơn và
tiếp theo truyền tĩnh mạch duy tŕ. Khó khăn
hiện nay hầu hết khoa cấp cưú không có EEG
monitoring liên tục, các khuyến cáo điều trị
động kinh liên tục kháng trị: liều thuốc
chống động kinh đủ chuẩn độ ngăn
ngừa hoạt động động kinh không quan tâm
đến EEG có hay không ức chế bùng nổ, đẳng
điện hay gây chậm. Giảm liều khi động
kinh ức chế từ 12-24 giờ, giảm liều 25
đến 50% và quan sát động kinh tái phát, có thể
dùng liều phenytoin để
có nồng độ trong huyết thanh
20-25(g/ml trước khi giảm liều. KẾT
LUẬN
Các
nghiên cứu lâm sàng cho
thấy cần cắt cơn
trong thời gian ngắn nhất, kéo dài cơn động
kinh liên tục dự hậu rất xấu, tổn thương
thần kinh không hồi phục khi cơn động kinh kéo
dài từ 90-120 phút do sự khử cực tế bào
thần kinh gây phóng thích
glutamate(kích thích độc hại). Rối loạn
biến dưỡng xảy ra bao gồm thiếu oxy,
tụt huyết áp, hạ đường huyết, tăng
kali máu , tăng nhiệt độ và tăng áp lực
nội sọ. Tỷ lệ bệnh tật và tử vong
của động kinh liên tục ở người
lớn cao hơn trẻ em, ở Hoa Kỳ tỷ lệ
tử vong bao gồm
chết liên quan bệnh
nền khoảng 10%. Tử vong sau động kinh liên
tục thường do bệnh lư nền không trực
tiếp do động kinh kéo dài. Hiện nay chúng ta
thiếu dữ liệu y
học bằng chứng trong điều trị động
kinh sau thất bại điều trị đầu tiên
benzodiazepine do thiếu nghiên cứu mù đôi có đối
chứng, hầu hết các khuyến cáo điều ở
nhóm C. Đông
kinh liên tục kháng trị benzodiazepine rất ít gặp nhưng
tỷ lệ bệnh tật và tử vong rất cao
nhiều phác đồ điều trị có thể sử
dụng được, tai biến và lợi ích tuỳ
thuộc vào mỗi loại thuốc. Các khuyến cáo
hiện nay: 1.
Có đầy đủ thuốc sẳn sàng trong
cấp cứu 2.
Có phác đồ theo thứ tự thời gian 3.
Thực hiện thuốc theo phác đồ 4.
Cung cấp đủ liều 5.
Tất cả các thuốc dùng trong 75-90 phút Phác
đồ điều trị -
0-30
phút: benzodiazepine -
30-60
phút: phenytoins -
60-90
phút: phenobarbital, valproate -
90-120
phút: propofol, midazolam TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.Parent JM,
Lowenstein DH. Treatment of refractory generalized status epilepticus with
continuous infusion of midazolam. Neurology 1994;44:1837-40 2.DeLorenzo
RJ, Ko D, Towne AR, Garnett LK, Boggs JG, Waterhouse EJ, et al. Prediction of
outcome in status epilepticus. Epilepsia 1997;38(suppl 8):210-5. 3.Treiman D.
Generalized convulsive status epilepticus. In: Engel J, Pedley TA, Aicardi J,
eds. Epilepsy: a comprehensive textbook. Philadelphia: Lippincott-Raven,
1998:669-80. 4.Treiman DM.
Electroclinical features of status epilepticus. J Clin Neurophysiol
1995;12:343-62. 5. Shorvon SD. Status epilepticus: its clinical features and
treatment in children and adults. Cambridge: Cambridge University Press, 1994. 6. Gastaut H.
Classification of status epilepticus. Adv Neurol 1983;34:15-35 7.Treatment of
convulsive status epilepticus. Recommendations of the Epilepsy Foundation of
America's Working Group on Status Epilepticus. JAMA 1993;270:854-9 8. Hesdorffer
DC, Logroscino G, Cascino G, Annegers JF, Hauser WA. Incidence of status
epilepticus in Rochester, Minnesota, 1965-1984. Neurology 1998;50:735-41
|