THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

DongKinh7

Home Up Feedback Contents Search

 

DongKinh8

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Lê Văn Tuấn: Đc điểm lâm sàng, nguyên nhân và điều trị bệnh nhân động kinh tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản của số 1, 2003. Trang 75-80.

BS CKI Lê Văn Tuấn, cán bộ giảng, bộ môn thần kinh trường ĐH Y Dược TP HCM

Tóm tắt

Mục đích: t́m hiểu các đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân và điều trị bệnh nhân động kinh tại một khoa thần kinh ở bệnh viện đa khoa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả dựa trên bệnh án của những bệnh nhân động kinh được nhập vào khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ 01-2002 đến 06-2002. Các yếu tố khảo sát gồm các đặc điểm tuổi, giới, thời gian nằm viện, tiền căn động kinh, nguyên nhân, điện năo, h́nh ảnh học, loại cơn và điều trị. Kết quả: có 79 bệnh nhân, 50 nam và 29 nữ; tuổi trung b́nh là 33,39; thời gian nằm viện là 6,61 ngày; 52 trường hợp có tiền căn động kinh; nguyên nhân thường gặp nhất là di chứng chấn thương sọ năo và tai biến mạch máu năo; loại cơn thường gặp nhất là cơn cục bộ toàn thể hoá thứ phát; thuốc được điều trị nhiều nhất là phenytoin và thuốc được dùng phối hợp nhiều nhất là phenobarbital. Kết luận: bệnh ảnh hưởng nhiều đến lứa tuổi lao động. Việc điều trị cần được chọn lựa đúng thuốc và nên được theo dơi chặc chẽ.

Clinical, Etiological And Therapeutic Characteristics Of Epileptics In The Department Of Neurology At Cho Ray Hospital

Summary

Objective: to understand the characteristics of epileptics at department of neurology in the general hospital. Patients and methods: descriptive study based on past medical records from 01-2002 to 06-2002 at Cho Ray hospital.  Studied factors include age, sex, duration of admission, past history of epilepsy, causes, EEG, imaging, classification of seizures, and treatment. Results: there are 79 patients, 50 males and 29 females; mean age is 33,39; mean duration of hospitalization is 6,61 days; 52 trường hợpes having past history of epilepsy; the most common causes are consequences of head trauma and stroke; the most seizure type is secondarily generalized partial seizure; phenytoin is the most common used antiepileptic drug; phenobarbital is used as the most common associated drug. Conclusion: epilepsy touchs most in working-age patients. The drugs should be choosen following the type of seizure and should carefully be followed up during the treatment. 

Đặt vấn đề

Động kinh (ĐK) là một t́nh trạng bệnh lư thường gặp với tỉ lệ bệnh mới là 44/100.000 dân/năm, tỉ lệ bệnh toàn bộ là 6,7/1000 dân (9). T́nh trạng này hay gặp ở những bệnh nhân (bn) trẻ với trên hai phần ba các trường hợp khởi bệnh ở trẻ em, tuy nhiên bệnh cũng thường gặp ở người trên 60 tuổi (18).

Trong thực hành lâm sàng hàng ngày, bệnh nhân động kinh thường được chẩn đoán và theo dơi ngoại trú, tuy nhiên bn có thể vào viện do chính t́nh trạng động kinh như trạng thái động kinh, nhiều cơn giật xảy ra liên tiếp hay các cơn động kinh chưa được kiểm soát tốt, hay bệnh nhân động kinh vẫn có thể vào viện v́ một lư do khác. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích t́m hiểu một số đặc điểm về mặt lâm sàng như loại cơn, nguyên nhân, các đặc điểm điều trị cũng như một số các đặc điểm cận lâm sàng như điện năo đồ ngoài cơn, h́nh ảnh học liên quan trên những bệnh nhân động kinh nội trú tại khoa Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn: hồ sơ bệnh án của tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán là động kinh và được nhập vào khoa Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2002.

Tiêu chuẩn loại trừ: những trường hợp co giật lần đầu, những trường hợp co giật do rối loạn chuyển hóa, ngộ độc thuốc và những t́nh trạng khác mà không phải là động kinh như giả vờ bệnh.

Các yếu tố khảo sát: tuổi, giới, cư ngụ ở thành phố Hồ Chí Minh hay tại các tỉnh, thời gian nằm viện, lư do nhập viện, tiền căn, t́nh trạng lúc nhập viện, đặc điểm điện giải đồ, các men gan, điện năo đồ, h́nh ảnh học, loại cơn, các thuốc điều trị, hiệu quả điều trị.

Các số liệu được xử lư bằng chương tŕnh thống kê SPSS 10.1.

Kết quả

Có 79 bn, trong đó có 50 bn nam (63,6%) và 29 bn nữ (36,7%), với tỉ lệ nam:nữ=1,7:1. Trung b́nh mỗi tháng có 13,1 bn. Thời gian nằm viện trung b́nh là 6,61 ngày (từ 1-37 ngày), với tổng thời gian nằm viện của tất cả bn là 522 ngày, trung b́nh mỗi tháng tất cả bn ĐK nằm viện mất 87 ngày. Mỗi ngày bn ĐK nằm mất 2,9 giường. Đối với những bn bị trạng thái ĐK th́ ngày nằm viện trung b́nh là 8,5 ngày so với nhóm bn không có trạng thái ĐK là 6,3 ngày và không ghi nhận sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (P=0,319). Thời gian nằm viện giữa nhóm có nguyên nhân và không có nguyên nhân cũng không thấy có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (P=0,803). Không có sự khác nhau về giới tính đối với thời gian nằm viện (P=0,914).

Tuổi trung b́nh của bn ĐK vào viện là 33,59; nhỏ tuổi nhất là 14 và lớn nhất là 80. Không có sự khác nhau về giới tính đối với tuổi bn.

Có 40% bn ở thành phố Hồ Chí Minh nhập vào bệnh viện Chợ Rẫy so với 60% bn đến từ các tỉnh.

Lư do nhập viện thường nhất là các triệu chứng vận động (91,1%), kế đó là rối loạn tri giác (5,1%), và nguyên nhân khác (3,8%). Đa số bn nhập viện từ cơn thứ hai trở lên (77,2%), tuy nhiên có 11 trường hợp bn nhập viện sau cơn đầu tiên (13,9%), c̣n lại 7 trường hợp không rơ bn nhập viện sau cơn ĐK thứ mấy. Tiền căn bị ĐK: có 52 trường hợp (65,8%) có tiền căn ĐK và 27 (34,2%) không có tiền căn ĐK. Khi so sánh giữa tuổi, giới, tiền căn ĐK, nguyên nhân, tri giác lúc nhập viện, dấu thần kinh cục bộ, loại cơn ĐK trong nhóm bn ở tỉnh và ở thành phố không thấy có sự khác biệt có ư nghĩa (với P lần lượt là 0,68; 0,213; 0,83; 0,296; 0,104; 0,674; 0,332).

Biểu hiện tri giác lúc nhập viện: 52 (65,8%) bn tỉnh, và 26 (32,9%) bn rối loạn tri giác, và 1 trường hợp không ghi nhận rơ. Dấu thần kinh cục bộ khi khám: có 17 (21,5%) trường hợp, 61 (77,2%) không có dấu cục bộ và 1 trường hợp không rơ.

            Loại cơn ĐK khi nằm viện:

Cơn cục bộ đơn giản

3,8%

Cơn cục bộ phức tạp

7,6%

Cơn cục bộ toàn thể hoá thứ phát

53,2%

Cơn lớn

34,2%

Các cơn toàn thể khác

1,3%

Biểu hiện điện năo đồ: có 60 trường hợp bn được làm điện năo đồ, trong đó điện năo b́nh thường có 20 trường hợp (25,3%) điện năo bất thường có 40 trường hợp (50,6%). Điện năo đồ bất thường gồm các sóng ĐK và các sóng chậm. Có 44 trường hợp có nguyên nhân (có 14 trường hợp không làm điện năo đồ) trong đó có 24 trường hợp điện năo đồ bất thường, và 35 trường hợp không có nguyên nhân (có 5 trường hợp không làm điện năo đồ) trong đó có 16 trường hợp điện năo đồ bất thường; khi so sánh hai nhóm thấy có khác biệt có ư nghĩa thống kê (P=0,28). Trong nhóm có làm điện năo th́ có 23,3% có sóng ĐK và 65% có sóng chậm.

H́nh ảnh học: có 43 trường hợp chụp cắt lớp điện toán (CCLĐT) trong đó có 27 b́nh thường và 16 bất thường, và 15 trường hợp chụp cộng hưởng từ (CCHT) trong đó có 9 b́nh thường và 6 bất thường.

Nguyên nhân của ĐK: có 44 (55,7%) trường hợp có nguyên nhân, trong đó có 25 bn có tiền căn ĐK và 19 bn không có tiền căn ĐK.

Nguyên nhân ĐK gặp thường nhất là di chứng của các bệnh sau: do chấn thương sọ năo 34,1%, kế đó là tai biến mạch máu năo 27,3%, viêm năo 13,6%, viêm màng năo 4,5%, u năo 2,3% và nguyên nhân khác là 18,2%. Nếu tính theo lứa tuổi th́ chấn thương sọ năo thường gặp bn ở lứa tuổi là 34,87 tuổi, tai biến mạch máu năo 52,92 tuổi, viêm năo là 23,83 tuổi, viêm màng năo 26 tuổi, u năo 61 tuổi và nguyên nhân khác là 23 tuổi.

Dùng thuốc chống ĐK đầu tiên: có 2 trường hợp bn không dùng thuốc và 77 trường hợp c̣n lại bn được dùng thuốc, trong đó

Carbamazepine

3,8%

Phenytoin

67,1%

Valproate

17,7%

Phenobarbital

8,9%

 

60 bn xuất viện với 1 thuốc (75,9%), và 19 bn xuất viện với 2 thuốc (24,1%). Trong nhóm bn xuất viện với một thuốc

 

Thuốc được dùng

Dùng một thuốc

 

Dùng hai thuốc

Carbamazepine

3,3%

5,3%

Phenytoin

68,3%

63,1%

Valproate

21,7%

26,3%

Phenobarbital

6,7%

94,7%

Oxcarbazepine

0%

5,2%

Dạng thuốc phối hợp thường nhất là Phenytoin-Phenobarbital. Không có trường hợp nào dùng từ 3 thuốc chống ĐK trở lên. Liều dùng trung b́nh của phenytoin trong đơn trị liệu là 229 mg. Liều dùng trung b́nh của phenobarbital trong đa trị liệu là 140 mg. Hết cơn ĐK tại bệnh viện: có 69 trường hợp hết cơn ĐK tại khoa, và 10 trường hợp bn vẫn c̣n cơn nhưng ngắn và nhẹ nên bn cũng được chuyển viện hay xuất viện để điều trị ngoại trú. Trạng thái ĐK: có 8 trường hợp bn rơi vào trạng thái ĐK.

Không có trường hợp tử vong.

Bàn luận

ĐK không phải là t́nh trạng bệnh lư hiếm gặp, và đa phần bệnh nhân đều được khám và điều trị ngoại trú (80% theo Morgan)(9). Tần số trạng thái ĐK ở Mỹ là 102.000-152.000 mỗi năm, trong đó có khoảng 55.000 trường hợp tử vong (7). Tuy nhiên, một số bệnh nhân do t́nh trạng bệnh quá nặng hay do không kiểm soát được tốt các cơn ĐK nên cũng cần được điều trị nội trú, ngoài ra một số bn nhập viện do t́nh trạng quá lo lắng về cơn ĐK hoặc có thể do săn sóc lúc đầu chưa tốt.

Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối nên nhận nhiều bn đến từ các tỉnh với tỉ lệ cao hơn bn ở thành phố Hồ Chí Minh là 3/2. Tuy nhiên khi xét đến các đặc điểm có thể ảnh hưởng đến lư do nhập viện như tuổi, giới, tiền căn ĐK, nguyên nhân, tri giác lúc nhập viện, loại cơn ĐK không thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm bn này. Điều này có thể do tâm lư của bn muốn được nằm điều trị ở tuyến trên hoặc do tuyến dưới chuyển lên tuyến trên để điều trị theo chuyên khoa.

Trung b́nh thời gian nằm viện mỗi tháng là 87 ngày so với lượng bn mỗi ngày từ 80-110 bn (tỉ lệ 2,6-3,6%). Theo Morgan và cs th́ tỉ lệ bn ĐK trong 1 năm là 1 so với 279 bn nhập viện (9).

Bệnh viện Chợ Rẫy là một bệnh viện đa khoa và không có khoa nhi nên tuổi trung b́nh vào viện của bn ĐK là 30. Nhóm bn với nguyên nhân ĐK do di chứng chấn thương sọ năo có lứa tuổi trung b́nh là 34,87. Điều này cũng cho thấy nguyên nhân chấn thương sọ năo thường gặp nhất ở những bn ĐK lứa tuổi này. Theo Anneger, nguy cơ ĐK sau chấn thương đầu kín khoảng 3-7%. ĐK thường xảy ra trong những trường hợp chấn thương đầu kèm mất ư thức, quên hay vỡ xương sọ. Khoảng 12% trường hợp chấn thương đầu nặng với các sang thương choáng chổ trong sọ hay mất ư thức hơn 24 giờ sẽ phát triển ĐK. Tỉ lệ ĐK tăng trong 10 năm đầu sau chấn thương đầu kín, tuy nhiên với những chấn thương đầu hở th́ nguy cơ này sẽ tồn tại suốt đời. Ngoài mức độ nặng của chấn thương đầu, các cơn xuất hiện sớm sau chấn thương đầu cũng là yếu tố nguy cơ chính. Nguy cơ cao nhất là 36% ở bệnh nhân bị chấn thương đầu nặng với các cơn xuất hiện sớm. Người lớn với chấn thương đầu nặng mà không có các cơn sớm và trẻ em với chấn thương đầu nặng có hay không có các cơn sớm có nguy cơ xuất hiện ĐK khoảng 10% (1).

Các nguyên nhân như di chứng viêm năo hay viêm màng năo thường gặp ở những bn nhỏ tuổi hơn. Ngược lại nhóm bn lớn tuổi th́ nguyên nhân thường nhất là di chứng tai biến mạch máu năo. Tỉ lệ bn ĐK do u năo không cao có lẽ do những bn bị u năo thường được nằm điều trị tại khoa phẩu thuật thần kinh. Trong nghiên cứu này không thấy tỉ lệ cao ĐK do nhiễm kư sinh trùng năo, điều này có thể do những bn bị nhiễm kư sinh trùng năo ít có biểu hiện ĐK, hoặc thường chỉ được theo dơi điều trị ngoại trú, hoặc có thể do bỏ sót chẩn đoán. Theo Pal và cs th́ ĐK là triệu chứng thường gặp nhất trong 0-75% bn bị cysticercosis hệ thần kinh trung ương và đa số bn ĐK thường dễ được kiểm soát bằng một thuốc chống ĐK (11).

Theo Lowenstein, 20-30% ĐK ở người lớn được chẩn đoán đầu tiên do nhập viện v́ trạng thái ĐK. Trạng thái ĐK được chẩn đoán khi cơn ĐK kéo dài (đa số đều dùng khoảng thời gian tối thiểu là 20-30 phút)(7), tuy nhiên một số tác giả chẩn đoán trạng thái ĐK co cứng- co giật toàn thể khi cơn kéo dài trên 5 phút v́ thường cơn này không kéo dài quá vài phút, hoặc là nhiều cơn lập lại nhưng bn không hồi phục sau cơn (14). Tỉ lệ tử vong khoảng 20% (7,14). Đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong trực tiếp v́ ĐK (6). Tuy nhiên không có trường hợp nào tử vong trong nghiên cứu này v́ có thể do những bn tử vong hoặc là ở khoa khác, hoặc tử vong nhưng với chẩn đoán khác (như rối loạn chuyển hoá).

Loại cơn ĐK thường gặp nhất là các cơn ĐK cục bộ và điều này phù hợp với đa số các tác giả (15,18), trong đó đa số là các cơn cục bộ toàn thể hoá và đây có lẽ là lư do để bn nhập viện ngoài những lư do bệnh nặng so với những bn được điều trị ngoại trú.

Điện năo với sóng chậm thường gặp hơn với sóng ĐK. Điện năo giúp ích trong việc chẩn đoán ĐK, phân loại loại cơn, theo dơi đáp ứng với điều trị và giúp định vị vùng sinh ĐK. Nếu giải thích không thích hợp một bảng điện năo có thể bỏ sót chẩn đoán ĐK ở bệnh nhân có điện năo b́nh thường. Tuy nhiên, chẩn đoán ĐK là một chẩn đoán lâm sàng. Điện năo ngoài sọ cũng có một số hạn chế như: hoạt động sinh ĐK được tạo ra từ vỏ năo cách xa với các điện cực bề mặt, ví dụ như ổ ĐK ở hạnh nhân hay hăi mă có thể không có những thay đổi điện năo ngoài sọ ngoài cơn. Hoạt động sóng gai cũng giảm do ảnh hưởng của màng cứng, xương và da đầu cũng làm hạn chế độ nhạy của kỹ thuật này. Chỉ khoảng 20-70% sóng gai từ vỏ năo được ghi nhận trên điện năo da đầu. Điện năo ngoài sọ cũng định vị kém vùng sinh ĐK (3). Ngoài ra, điện năo bất thường ngoài cơn cũng được một số tác giả khảo sát bằng các sóng khác như  dao động gamma với tần số 30-100 Hz thường gặp sau các cơn ĐK toàn thể nguyên phát (19). Điện năo là phương pháp nhạy cảm nhất và là phương tiẹân thật sự cần thiết trong chẩn đoán động kinh, tuy nhiên, như những cận lâm sàng khác nó phải được dùng khi kết hợp với các dữ liệu lâm sàng (18).

Tỉ lệ bn được CCHT thấp và chỉ có 54,4% bn được CCLĐT. Đa số các tác giả đều có khuynh hướng CCHT cho những bn ĐK có chỉ định (10,15,18), đồng thời cũng cho biết CCHT là phương tiện chẩn đoán quan trọng nhất để khám phá những bất thường cấu trúc trên bệnh nhân động kinh (18). Tỉ lệ CCHT trong nghiên cứu này thấp có thể do t́nh h́nh kinh tế bn không cho phép chỉ định h́nh ảnh học rộng răi, ngoài ra có thể do bn được nhập vào cấp cứu nên được CCLĐT ngay lúc vào viện. Ngay cả với CCHT, không phải mọi trường hợp bất thường ở bn ĐK đều có thể thấy được. Độ nhạy chẩn đoán ở những người làm CCHT không chuyên là 39%, ở những người chuyên là 50% và ở những chuyên gia về ĐK là 91%. Xơ cứng hồi hải mă không được chẩn đoán trong 86% trường hợp ở người không chuyên. CCHT không chẩn đoán được sang thương sinh ĐK cục bộ trong 57% các trường hợp (10).

Về vấn đề điều trị, đa số bn nhập viện được điều trị bằng phenytoin, và đa số bn xuất viện cũng vậy. Thực tế  việc điều trị bằng phenytoin ít gặp các tác dụng phụ quan trọng như hội chứng Stevens-Johnson, ngoài ra số lần dùng trong ngày cũng đơn giản (từ một đến hai lần). Tuy nhiên phenytoin không phải là không có các tác dụng phụ quan trọng, trong đó có thể có những tác dụng phụ chết người. Các dụng phụ của phenytoin là: phản ứng quá mẫn bao gồm nổi ban, sốt, tăng eosinophilia và viêm đa động mạch. Nếu quá liều phenytoin sẽ gây ra thất điều, song thị và ngủ gà. Nếu dùng kéo dài có thể gây chứng rậm lông (chủ yếu ở nữ giới), tăng sản lợi, nét mặt thô. Ngộ độc măn tính phenytoin có thể gây ra bệnh thần kinh ngoại biên, thoái hoá tiểu năo (8,18). Carbamazepine và phenytoin là những thuốc được chọn lựa cho các cơn ĐK cục bộ. Ơû châu Aâu có khuynh hướng chọn valproate hơn phenytoin do nghĩ rằng tác dụng phụ ít hơn. Phenobarbital được dùng như là chọn lựa thứ hai. Đối với các cơn co cứng-co giật th́ valproate, phenytoin, và carbamazepine đều có hiệu quả. Valproate là thuốc chọn lựa cho bn với các cơn co cứng-co giật và phức hợp gai-sóng trên điện năo đồ và cho bn với các dạng ĐK toàn thể khác, đặc biệt là các cơn giật cơ và các cơn vắng. Carbamazepine có thể gây ra các phản ứng đặc dị, thường nhất là nổi ban, gặp trong khoảng 10%. Các phản ứng da ít gặp khác là hồng ban đa dạng và hội chứng Stevens-Johnson (2,5,15). Tỉ lệ bn tại khoa dùng carbamazepine thấp có lẽ do tâm lư sợ những tác dụng phụ quan trọng như hội chứng Stevens-Johnson. Tác dụng phụ nặng như gặp trong trường hợp dùng carbamazepine cũng có thể gặp trong trường hợp dùng các thuốc khác như trong hội chứng quá mẫn do thuốc chống ĐK, là một phản ứng nặng của thuốc với các phản ứng ở da và toàn thân (tỉ lệ từ 1/1000 đến 1/10.000). Các thuốc gây phản ứng này là những thuốc tạo ra arene oxide gồm phenytoin, carbamazepine và phenobarbital. Biểu hiện gồm sốt, nổi ban và hạch to kèm với những bất thường đa cơ quan. Tử vong thường do suy gan nặng. Nhận biết các dấu hiệu sớm cần phải ngưng thuốc ngay (4,15,17). Ngoài ra, đa số các tác dụng phụ do carbamazepine thường nhẹ, tạm thời, và có thể hồi phục. Các báo cáo trực tiếp của công ty Geigy trong giai đoạn 1975-1986 có tổng số 371 tác dụng phụ huyết học, 396 ở da, 156 ở gan và tụy trong tổng số hơn 4 triệu người dùng. Trong đó bao gồm 27 trường hợp thiếu máu vô sản, 10 trường hợp mất bạch cầu hạt. Trong một nghiên cứu tác dụng phụ trên 220 trẻ em dưới 16 tuổi mà dùng carbamazepine ghi nhận các triệu chứng buồn ngủ, thất điều, và chóng mặt là những tác dụng phụ thường nhất và gần như chỉ là tạm thời và liên quan đến liều dùng (12). Riêng về hiệu quả th́ carbamazepine và valproate hiệu quả và được dung nạp tốt trong những trường hợp ĐK mới được chẩn đoán (13). Theo Smith D và Chadwick D th́ carbamazepine hiệu quả hơn phenytoin và valproate trong các cơn ĐK cục bộ. Phản ứng dị ứng gặp trong 2-4% bn dùng carbamazepine, phenytoin, phenobarbitone hay lamotrigine. Hội chứng Stevens-Johnson hay hoại tử ngoại b́ cấp xảy ra trong 1-5/10000 người và tỉ lệ này ở trẻ em th́ cao hơn. Hiện tại, carbamazepine được chọn lựa đầu tiên trong các cơn cục bộ và valproate trong các cơn toàn thể. Carbamazepine có tác dụng phụ ít hơn và thường là thuốc đầu tiên được dùng bởi các bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Cả hai thuốc đều có tác dụng phụ, đặc biệt là valproate với tác dụng phụ thẩm mỹ và gây quái thai. Các thuốc mới như lamotrigine, gabapentin, topiramate, và oxcarbazepine là những thuốc có khả năng được chọn lựa thứ hai (16,18). Valproate có lẽ hơi kém hiệu quả hơn trong điều trị các cơn cục bộ phức tạp (18).

Các thuốc mới như lamotrigine, felbamate, gabapentine, vigabatrin, topiramate vẫn chưa được sử dụng tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy có lẽ do không có sẵn thuốc và ngoài ra có thể do tỉ lệ ĐK kháng trị được nhập viện thấp.

Các phương pháp điều trị khác như phẩu thuật ĐK, kích thích thần kinh lang thang và chế độ ăn uống sinh keto vẫn chưa được áp dụng tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Kết luận

ĐK là một t́nh trạng bệnh lư thường gặp tại khoa thần kinh của bệnh viện đa khoa. Đa số bệnh ảnh hưởng ở lứa tuổi lao động, do đó ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, cuộc sống và công việc của bệnh nhân. Bệnh nhân ĐK vào viện thường có tiền căn ĐK và các t́nh trạng bệnh lư ảnh hưởng đến năo. Việc chẩn đoán nguyên nhân thường dựa nhiều vào h́nh ảnh học đặc biệt là CCHT, và cần nhiều chuyên gia hơn về h́nh ảnh học ĐK. Công việc điều trị phụ thuộc nhiều các loại cơn ĐK và cần được theo dơi chặc chẽ hơn các tác dụng phụ để ngừa những biến chứng nặng xảy ra sau đó.

Tài liệu tham khảo

1.       Annegers JF (1993). The Epidemiology Of Epilepsy. In: Wyllie E (ed). The Treatment Of Epilepsy: Principles And Practice. Lea & Febiger, Pennylvania, pp: 157-164.

2.       Brodie MJ, Dichter M (1996). Antiepileptic Drugs. N Engl J Med ;334:168-175.

3.       Trường hợpcino GD, Herkes GK (1993). Interpretation Of Interictal EEG. In: Wyllie E (ed). The Treatment Of Epilepsy: Principles And Practice. Lea & Febiger, Pennylvania, pp: 249-260.

4.       De Vriese AS, Philippe J, Van Renterghem DM et al (1995). Carbamazepine Hypersensitivity Syndrome: Report Of 4 Trường hợpes And Review Of The Literature. Medicine (Baltimore) May;74(3):144-51. (abstract)

5.       Gorlin JB, Ferry JA (1996). Trường hợpe 26-1996. N Engl J Med ;335:557-584.

6.       Langan Y, Nashef L, Sander JWAS (2002). Certification Of Deaths Attributable To Epilepsy. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 73: 751-752.

7.       Lowenstein DH, Alldredge BK, Pharm D (1998). Status Epilepticus. N Engl J Med 338: 970-976.

8.       Mahadeva U, Al-Mrayat M, Steer K, Leen E (1999).  Fatal Phenytoin Hypersensitivity Syndrome. Postgrad Med J; 75: 734-737.

9.       Morgan CLI, Ahmed Z, Kerr MP (2000). Social Deprivation And Prevalence Of Epilepsy And Associated Health Usage. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 69: 13-17.

10.   Oertzen JV, Urbach H, Jungbluth S et al (2002). Standard Magnetic Resonance Maging Is Inadequate For Patients With Refractory Focal Epilepsy. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 73: 643-647.

11.   Pal DK, Carpio A, Sander JWAS (2000). Neurocysticercosis And Epilepsy In Developing Countries. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 68: 137-143.

12.   Pellock JM (1987). Carbamazepine Side Effects In Children And Adults. Epilepsia;28 Suppl 3: S64-70. (abstract)

13.   Richens A, Davidson DL, Cartlidge NE, Easter DJ (1994). A Multicentre Comparative Trial Of Sodium Valproate And Carbamazepine In Adult Onset Epilepsy. Adult EPITEG Collaborative Group. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 57: 682-687.

14.   Scott RC, Surtees RAH, Neville BGR (1998).  Status Epilepticus: Pathophysiology, Epidemiology, And Outcomes. Arch Dis Child; 79:73-77.

15.   Shorvon S.D (2000). Handbook of Epilepsy Treatment. Blackwell Science, London.

16.   Smith D, Chadwick D (2001). The Management Of Epilepsy. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 70(Suppl 2):ii15-ii21.

17.   Vittorio CC, Muglia JJ (1995). Anticonvulsant Hypersensitivity Syndrome. Arch Intern Med;155(21):2285-90. (abstract)

18.   Victor M, Ropper A.H. Epilepsy and Other Seizure Disorders (2001). In: Principles Of Neurology. 7th ed, McGraw-Hill,  New York, pp: 331-365.

19.    Willoughby JO, Fitzgibbon SP, Pope KJ at al (2003). Persistent Abnormality Detected In The Non-Ictal Electroencephalogram In Primary Generalised Epilepsy. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 74: 51-55.