| |

ĐẶC
ĐIỂM LÂM SÀNG, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ
BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH TẠI KHOA THẦN KINH BỆNH
VIỆN CHỢ RẪY
Lê Văn Tuấn:
Đặc
điểm lâm sàng, nguyên nhân và điều trị bệnh nhân động kinh tại
khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y học TP Hồ Chí
Minh, tập 7, phụ bản của số 1, 2003. Trang 75-80.
BS
CKI Lê Văn Tuấn, cán bộ giảng, bộ môn thần
kinh trường ĐH Y Dược TP HCM
Tóm
tắt
Mục đích:
t́m hiểu các đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân và
điều trị bệnh nhân động kinh tại một
khoa thần kinh ở bệnh viện đa khoa. Đối
tượng và phương pháp nghiên cứu: đây là
nghiên cứu mô tả dựa trên bệnh án của
những bệnh nhân động kinh được
nhập vào khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy
từ 01-2002 đến 06-2002. Các yếu tố khảo sát
gồm các đặc điểm tuổi, giới, thời
gian nằm viện, tiền căn động kinh, nguyên nhân,
điện năo, h́nh ảnh học, loại cơn và điều
trị. Kết quả: có 79 bệnh nhân, 50 nam và 29 nữ;
tuổi trung b́nh là 33,39; thời gian nằm viện là 6,61
ngày; 52 trường hợp có tiền căn động
kinh; nguyên nhân thường gặp nhất là di chứng
chấn thương sọ năo và tai biến mạch máu năo;
loại cơn thường gặp nhất là cơn
cục bộ toàn thể hoá thứ phát; thuốc
được điều trị nhiều nhất là
phenytoin và thuốc được dùng phối hợp
nhiều nhất là phenobarbital. Kết
luận: bệnh ảnh hưởng
nhiều đến lứa tuổi lao động. Việc
điều trị cần được chọn
lựa đúng thuốc và nên được theo dơi
chặc chẽ.
Clinical,
Etiological And Therapeutic Characteristics Of Epileptics In The Department Of
Neurology At Cho Ray Hospital
Summary
Objective:
to understand the characteristics of epileptics at department of neurology in
the general hospital. Patients and methods: descriptive study based on past
medical records from 01-2002 to 06-2002 at Cho Ray hospital.
Studied factors include age, sex, duration of admission, past history of
epilepsy, causes, EEG, imaging, classification of seizures, and treatment.
Results: there are 79 patients, 50 males and 29 females; mean age is 33,39; mean
duration of hospitalization is 6,61 days; 52 trường hợpes
having past history of epilepsy; the most common causes are consequences of head
trauma and stroke; the most seizure type is secondarily generalized partial
seizure; phenytoin is the most common used antiepileptic drug; phenobarbital is
used as the most common associated drug. Conclusion: epilepsy touchs most in
working-age patients. The drugs should be choosen following the type of seizure
and should carefully be followed up during the treatment.
Đặt
vấn đề
Động
kinh (ĐK) là một t́nh trạng bệnh lư thường
gặp với tỉ lệ bệnh mới là 44/100.000 dân/năm,
tỉ lệ bệnh toàn bộ là 6,7/1000 dân (9). T́nh
trạng này hay gặp ở những bệnh nhân (bn)
trẻ với trên hai phần ba các trường hợp
khởi bệnh ở trẻ em, tuy nhiên bệnh cũng thường
gặp ở người trên 60 tuổi (18).
Trong
thực hành lâm sàng hàng ngày, bệnh nhân động kinh
thường được chẩn đoán và theo dơi
ngoại trú, tuy nhiên bn có thể vào viện do chính t́nh
trạng động kinh như trạng thái động
kinh, nhiều cơn giật xảy ra liên tiếp hay các cơn
động kinh chưa được kiểm soát tốt,
hay bệnh nhân động kinh vẫn có thể vào
viện v́ một lư do khác. Nghiên cứu này được
thực hiện nhằm mục đích t́m hiểu một
số đặc điểm về mặt lâm sàng như
loại cơn, nguyên nhân, các đặc điểm điều
trị cũng như một số các đặc điểm
cận lâm sàng như điện năo đồ ngoài cơn,
h́nh ảnh học liên quan trên những bệnh nhân động
kinh nội trú tại khoa Thần Kinh bệnh viện
Chợ Rẫy.
Đối
tượng và phương pháp nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa
chọn: hồ
sơ bệnh án của tất cả những bệnh nhân
được chẩn đoán là
động kinh và được nhập vào khoa Thần
Kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01 đến
tháng 06 năm 2002.
Tiêu chuẩn loại
trừ:
những trường hợp co giật lần đầu,
những trường hợp co giật do rối
loạn chuyển hóa, ngộ độc thuốc và
những t́nh trạng khác mà không phải là động
kinh như giả vờ bệnh.
Các yếu tố
khảo sát:
tuổi, giới, cư ngụ ở thành phố Hồ Chí
Minh hay tại các tỉnh, thời
gian nằm viện, lư do nhập viện, tiền căn, t́nh
trạng lúc nhập viện, đặc điểm điện
giải đồ, các men gan, điện năo đồ, h́nh
ảnh học, loại cơn, các thuốc điều
trị, hiệu quả điều trị.
Các
số liệu được xử lư bằng chương
tŕnh thống kê SPSS 10.1.
Kết
quả
Có
79 bn, trong đó có 50 bn nam (63,6%) và 29 bn nữ (36,7%),
với tỉ lệ nam:nữ=1,7:1. Trung b́nh mỗi tháng có
13,1 bn. Thời gian nằm viện trung b́nh là 6,61 ngày
(từ 1-37 ngày), với tổng thời gian nằm viện
của tất cả bn là 522 ngày, trung b́nh mỗi tháng
tất cả bn ĐK nằm viện mất 87 ngày. Mỗi
ngày bn ĐK nằm mất 2,9 giường. Đối
với những bn bị trạng thái ĐK th́ ngày nằm
viện trung b́nh là 8,5 ngày so với nhóm bn không có
trạng thái ĐK là 6,3 ngày và không ghi nhận sự khác
biệt có ư nghĩa thống kê (P=0,319). Thời gian
nằm viện giữa nhóm có nguyên nhân và không có nguyên
nhân cũng không thấy có sự khác biệt có ư nghĩa
thống kê (P=0,803). Không có sự khác nhau về giới tính
đối với thời gian nằm viện (P=0,914).
Tuổi
trung b́nh của bn ĐK vào viện là 33,59; nhỏ tuổi
nhất là 14 và lớn nhất là 80. Không có sự khác
nhau về giới tính đối với tuổi bn.
Có
40% bn ở thành phố Hồ Chí Minh nhập vào bệnh
viện Chợ Rẫy so với 60% bn đến từ các
tỉnh.
Lư
do nhập viện thường nhất là các triệu
chứng vận động (91,1%), kế đó là rối
loạn tri giác (5,1%), và nguyên nhân khác (3,8%). Đa số bn
nhập viện từ cơn thứ hai trở lên (77,2%),
tuy nhiên có 11 trường hợp bn nhập viện sau cơn
đầu tiên (13,9%), c̣n lại 7 trường hợp không
rơ bn nhập viện sau cơn ĐK thứ mấy.
Tiền căn bị ĐK: có 52 trường hợp (65,8%)
có tiền căn ĐK và 27 (34,2%) không có tiền căn
ĐK. Khi so sánh giữa tuổi, giới, tiền căn
ĐK, nguyên nhân, tri giác lúc nhập viện, dấu
thần kinh cục bộ, loại cơn ĐK trong nhóm bn
ở tỉnh và ở thành phố không thấy có sự
khác biệt có ư nghĩa (với P lần lượt là
0,68; 0,213; 0,83; 0,296; 0,104; 0,674; 0,332).
Biểu
hiện tri giác lúc nhập viện: 52 (65,8%) bn tỉnh, và
26 (32,9%) bn rối loạn tri giác, và 1 trường hợp
không ghi nhận rơ. Dấu thần kinh cục bộ khi khám:
có 17 (21,5%) trường hợp, 61 (77,2%) không có dấu
cục bộ và 1 trường hợp không rơ.
Loại cơn ĐK khi nằm viện:
|
Cơn
cục bộ đơn giản
|
3,8%
|
|
Cơn
cục bộ phức tạp
|
7,6%
|
|
Cơn
cục bộ toàn thể hoá thứ phát
|
53,2%
|
|
Cơn
lớn
|
34,2%
|
|
Các
cơn toàn thể khác
|
1,3%
|
Biểu
hiện điện năo đồ: có 60 trường
hợp bn được làm điện năo đồ, trong
đó điện năo b́nh thường có 20 trường
hợp (25,3%) điện năo bất thường có 40 trường
hợp (50,6%). Điện năo đồ bất thường
gồm các sóng ĐK và các sóng chậm. Có 44 trường
hợp có nguyên nhân (có 14 trường hợp không làm
điện năo đồ) trong đó có 24 trường
hợp điện năo đồ bất thường, và 35
trường hợp không có nguyên nhân (có 5 trường
hợp không làm điện năo đồ) trong đó có 16
trường hợp điện năo đồ bất thường;
khi so sánh hai nhóm thấy có khác biệt có ư nghĩa
thống kê (P=0,28). Trong nhóm có làm điện năo th́ có
23,3% có sóng ĐK và 65% có sóng chậm.
H́nh
ảnh học: có 43 trường hợp chụp cắt
lớp điện toán (CCLĐT) trong đó có 27 b́nh thường
và 16 bất thường, và 15 trường hợp
chụp cộng hưởng từ (CCHT) trong đó có 9 b́nh
thường và 6 bất thường.
Nguyên
nhân của ĐK: có 44 (55,7%) trường hợp có nguyên
nhân, trong đó có 25 bn có tiền căn ĐK và 19 bn không
có tiền căn ĐK.
Nguyên
nhân ĐK gặp thường nhất là di chứng
của các bệnh sau: do chấn thương sọ năo
34,1%, kế đó là tai biến mạch máu năo 27,3%, viêm năo
13,6%, viêm màng năo 4,5%, u năo 2,3% và nguyên nhân khác là 18,2%.
Nếu tính theo lứa tuổi th́ chấn thương
sọ năo thường gặp bn ở lứa tuổi là
34,87 tuổi, tai biến mạch máu năo 52,92 tuổi, viêm năo
là 23,83 tuổi, viêm màng năo 26 tuổi, u năo 61 tuổi và
nguyên nhân khác là 23 tuổi.
Dùng
thuốc chống ĐK đầu tiên: có 2 trường
hợp bn không dùng thuốc và 77 trường hợp c̣n
lại bn được dùng thuốc, trong đó
|
Carbamazepine
|
3,8%
|
|
Phenytoin
|
67,1%
|
|
Valproate
|
17,7%
|
|
Phenobarbital
|
8,9%
|
60
bn xuất viện với 1 thuốc (75,9%), và 19 bn xuất
viện với 2 thuốc (24,1%). Trong nhóm bn xuất viện
với một thuốc
|
Thuốc
được dùng
|
Dùng
một thuốc
|
Dùng
hai thuốc
|
|
Carbamazepine
|
3,3%
|
5,3%
|
|
Phenytoin
|
68,3%
|
63,1%
|
|
Valproate
|
21,7%
|
26,3%
|
|
Phenobarbital
|
6,7%
|
94,7%
|
|
Oxcarbazepine
|
0%
|
5,2%
|
Dạng
thuốc phối hợp thường nhất là
Phenytoin-Phenobarbital. Không có trường hợp nào dùng
từ 3 thuốc chống ĐK trở lên. Liều dùng
trung b́nh của phenytoin trong đơn trị liệu là 229
mg. Liều dùng trung b́nh của phenobarbital trong đa trị
liệu là 140 mg. Hết cơn ĐK tại bệnh
viện: có 69 trường hợp hết cơn ĐK
tại khoa, và 10 trường hợp bn vẫn c̣n cơn nhưng
ngắn và nhẹ nên bn cũng được chuyển
viện hay xuất viện để điều trị
ngoại trú. Trạng thái ĐK: có 8 trường hợp
bn rơi vào trạng thái ĐK.
Không
có trường hợp tử vong.
Bàn
luận
ĐK
không phải là t́nh trạng bệnh lư hiếm gặp, và
đa phần bệnh nhân đều được khám và
điều trị ngoại trú (80% theo Morgan)(9). Tần
số trạng thái ĐK ở Mỹ là 102.000-152.000
mỗi năm, trong đó có khoảng 55.000 trường
hợp tử vong (7). Tuy nhiên, một số bệnh nhân do
t́nh trạng bệnh quá nặng hay do không kiểm soát
được tốt các cơn ĐK nên cũng cần
được điều trị nội trú, ngoài ra
một số bn nhập viện do t́nh trạng quá lo
lắng về cơn ĐK hoặc có thể do săn sóc lúc
đầu chưa tốt.
Bệnh
viện Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối
nên nhận nhiều bn đến từ các tỉnh với
tỉ lệ cao hơn bn ở thành phố Hồ Chí Minh là
3/2. Tuy nhiên khi xét đến các đặc điểm có
thể ảnh hưởng đến lư do nhập viện
như tuổi, giới, tiền căn ĐK, nguyên nhân, tri
giác lúc nhập viện, loại cơn ĐK không thấy
có sự khác biệt giữa hai nhóm bn này. Điều này
có thể do tâm lư của bn muốn được nằm
điều trị ở tuyến trên hoặc do tuyến dưới
chuyển lên tuyến trên để điều trị theo
chuyên khoa.
Trung
b́nh thời gian nằm viện mỗi tháng là 87 ngày so
với lượng bn mỗi ngày từ 80-110 bn (tỉ
lệ 2,6-3,6%). Theo Morgan và cs th́ tỉ lệ bn ĐK trong 1
năm là 1 so với 279 bn nhập viện (9).
Bệnh
viện Chợ Rẫy là một bệnh viện đa khoa
và không có khoa nhi nên tuổi trung b́nh vào viện của bn
ĐK là 30. Nhóm bn với nguyên nhân ĐK do di chứng
chấn thương sọ năo có lứa tuổi trung b́nh là
34,87. Điều này cũng cho thấy nguyên nhân chấn thương
sọ năo thường gặp nhất ở những bn
ĐK lứa tuổi này. Theo Anneger, nguy cơ ĐK sau
chấn thương đầu kín khoảng 3-7%. ĐK thường
xảy ra trong những trường hợp chấn thương
đầu kèm mất ư thức, quên hay vỡ xương
sọ. Khoảng 12% trường hợp chấn thương
đầu nặng với các sang thương choáng chổ
trong sọ hay mất ư thức hơn 24 giờ sẽ phát
triển ĐK. Tỉ lệ ĐK tăng trong 10 năm
đầu sau chấn thương đầu kín, tuy nhiên
với những chấn thương đầu hở th́
nguy cơ này sẽ tồn tại suốt đời. Ngoài
mức độ nặng của chấn thương đầu,
các cơn xuất hiện sớm sau chấn thương
đầu cũng là yếu tố nguy cơ chính. Nguy cơ
cao nhất là 36% ở bệnh nhân bị chấn thương
đầu nặng với các cơn xuất hiện
sớm. Người lớn với chấn thương
đầu nặng mà không có các cơn sớm và trẻ
em với chấn thương đầu nặng có hay không
có các cơn sớm có nguy cơ xuất hiện ĐK
khoảng 10% (1).
Các
nguyên nhân như di chứng viêm năo hay viêm màng năo thường
gặp ở những bn nhỏ tuổi hơn. Ngược
lại nhóm bn lớn tuổi th́ nguyên nhân thường
nhất là di chứng tai biến mạch máu năo. Tỉ
lệ bn ĐK do u năo không cao có lẽ do những bn bị
u năo thường được nằm điều
trị tại khoa phẩu thuật thần kinh. Trong nghiên
cứu này không thấy tỉ lệ cao ĐK do nhiễm kư
sinh trùng năo, điều này có thể do những bn bị
nhiễm kư sinh trùng năo ít có biểu hiện ĐK,
hoặc thường chỉ được theo dơi điều
trị ngoại trú, hoặc có thể do bỏ sót chẩn
đoán. Theo Pal và cs th́ ĐK là triệu chứng thường
gặp nhất trong 0-75% bn bị cysticercosis hệ thần
kinh trung ương và đa số bn ĐK thường
dễ được kiểm soát bằng một thuốc
chống ĐK (11).
Theo
Lowenstein, 20-30% ĐK ở người lớn được
chẩn đoán đầu tiên do nhập viện v́
trạng thái ĐK. Trạng thái ĐK được
chẩn đoán khi cơn ĐK kéo dài (đa số đều
dùng khoảng thời gian tối thiểu là 20-30 phút)(7),
tuy nhiên một số tác giả chẩn đoán trạng
thái ĐK co cứng- co giật toàn thể khi cơn kéo dài
trên 5 phút v́ thường cơn này không kéo dài quá vài phút,
hoặc là nhiều cơn lập lại nhưng bn không
hồi phục sau cơn (14). Tỉ lệ tử vong
khoảng 20% (7,14). Đây là một trong những nguyên nhân
gây tử vong trực tiếp v́ ĐK (6). Tuy nhiên không có
trường hợp nào tử vong trong nghiên cứu này v́
có thể do những bn tử vong hoặc là ở khoa khác,
hoặc tử vong nhưng với chẩn đoán khác (như
rối loạn chuyển hoá).
Loại
cơn ĐK thường gặp nhất là các cơn ĐK
cục bộ và điều này phù hợp với đa
số các tác giả (15,18), trong đó đa số là các cơn
cục bộ toàn thể hoá và đây có lẽ là lư do
để bn nhập viện ngoài những lư do bệnh
nặng so với những bn được điều
trị ngoại trú.
Điện
năo với sóng chậm thường gặp hơn với sóng
ĐK. Điện năo giúp ích trong việc chẩn đoán
ĐK, phân loại loại cơn, theo dơi đáp ứng
với điều trị và giúp định vị vùng
sinh ĐK. Nếu giải thích không thích hợp một
bảng điện năo có thể bỏ sót chẩn đoán
ĐK ở bệnh nhân có điện năo b́nh thường.
Tuy nhiên, chẩn đoán ĐK là một chẩn đoán lâm
sàng. Điện năo ngoài sọ cũng có một số
hạn chế như: hoạt động sinh ĐK
được tạo ra từ vỏ năo cách xa với các
điện cực bề mặt, ví dụ như ổ
ĐK ở hạnh nhân hay hăi mă có thể không có
những thay đổi điện năo ngoài sọ ngoài cơn.
Hoạt động sóng gai cũng giảm do ảnh hưởng
của màng cứng, xương và da đầu cũng làm
hạn chế độ nhạy của kỹ thuật này.
Chỉ khoảng 20-70% sóng gai từ vỏ năo được
ghi nhận trên điện năo da đầu. Điện năo
ngoài sọ cũng định vị kém vùng sinh ĐK (3).
Ngoài ra, điện năo bất thường ngoài cơn cũng
được một số tác giả khảo sát
bằng các sóng khác như dao
động gamma với tần số 30-100 Hz thường
gặp sau các cơn ĐK toàn thể nguyên phát (19). Điện
năo là phương pháp nhạy cảm nhất và là phương
tiẹân thật sự cần thiết trong chẩn đoán
động kinh, tuy nhiên, như những cận lâm sàng khác
nó phải được dùng khi kết hợp với các
dữ liệu lâm sàng (18).
Tỉ
lệ bn được CCHT thấp và chỉ có 54,4% bn
được CCLĐT. Đa số các tác giả đều
có khuynh hướng CCHT cho những bn ĐK có chỉ định
(10,15,18), đồng thời cũng cho biết CCHT là phương
tiện chẩn đoán quan trọng nhất để khám
phá những bất thường cấu trúc trên bệnh nhân
động kinh (18). Tỉ lệ CCHT trong nghiên cứu này
thấp có thể do t́nh h́nh kinh tế bn không cho phép
chỉ định h́nh ảnh học rộng răi, ngoài ra có
thể do bn được nhập vào cấp cứu nên
được CCLĐT ngay lúc vào viện. Ngay cả
với CCHT, không phải mọi trường hợp
bất thường ở bn ĐK đều có thể
thấy được. Độ nhạy chẩn đoán
ở những người làm CCHT không chuyên là 39%, ở
những người chuyên là 50% và ở những chuyên gia
về ĐK là 91%. Xơ cứng hồi hải mă không
được chẩn đoán trong 86% trường hợp
ở người không chuyên. CCHT không chẩn đoán
được sang thương sinh ĐK cục bộ trong
57% các trường hợp (10).
Về
vấn đề điều trị, đa số bn
nhập viện được điều trị bằng
phenytoin, và đa số bn xuất viện cũng vậy.
Thực tế việc
điều trị bằng phenytoin ít gặp các tác
dụng phụ quan trọng như hội chứng
Stevens-Johnson, ngoài ra số lần dùng trong ngày cũng
đơn giản (từ một đến hai lần). Tuy
nhiên phenytoin không phải là không có các tác dụng phụ
quan trọng, trong đó có thể có những tác dụng
phụ chết người. Các dụng phụ của
phenytoin là: phản ứng quá mẫn bao gồm nổi ban,
sốt, tăng eosinophilia và viêm đa động mạch.
Nếu quá liều phenytoin sẽ gây ra thất điều,
song thị và ngủ gà. Nếu dùng kéo dài có thể gây
chứng rậm lông (chủ yếu ở nữ giới), tăng
sản lợi, nét mặt thô. Ngộ độc măn tính
phenytoin có thể gây ra bệnh thần kinh ngoại biên,
thoái hoá tiểu năo (8,18). Carbamazepine và phenytoin là những
thuốc được chọn lựa cho các cơn ĐK
cục bộ. Ơû châu Aâu có khuynh hướng chọn
valproate hơn phenytoin do nghĩ rằng tác dụng phụ
ít hơn. Phenobarbital được dùng như là chọn
lựa thứ hai. Đối với các cơn co cứng-co
giật th́ valproate, phenytoin, và carbamazepine đều có
hiệu quả. Valproate là thuốc chọn lựa cho bn
với các cơn co cứng-co giật và phức hợp
gai-sóng trên điện năo đồ và cho bn với các
dạng ĐK toàn thể khác, đặc biệt là các cơn
giật cơ và các cơn vắng. Carbamazepine có thể gây
ra các phản ứng đặc dị, thường
nhất là nổi ban, gặp trong khoảng 10%. Các phản
ứng da ít gặp khác là hồng ban đa dạng và
hội chứng Stevens-Johnson (2,5,15). Tỉ lệ bn tại
khoa dùng carbamazepine thấp có lẽ do tâm lư sợ
những tác dụng phụ quan trọng như hội
chứng Stevens-Johnson. Tác dụng phụ nặng như
gặp trong trường hợp dùng carbamazepine cũng có
thể gặp trong trường hợp dùng các thuốc khác
như trong hội chứng quá mẫn do thuốc chống
ĐK, là một phản ứng nặng của thuốc
với các phản ứng ở da và toàn thân (tỉ
lệ từ 1/1000 đến 1/10.000). Các thuốc gây
phản ứng này là những thuốc tạo ra arene oxide
gồm phenytoin, carbamazepine và phenobarbital. Biểu hiện
gồm sốt, nổi ban và hạch to kèm với những
bất thường đa cơ quan. Tử vong thường
do suy gan nặng. Nhận biết các dấu hiệu sớm
cần phải ngưng thuốc ngay (4,15,17). Ngoài ra, đa
số các tác dụng phụ do carbamazepine thường
nhẹ, tạm thời, và có thể hồi phục. Các báo
cáo trực tiếp của công ty Geigy trong giai đoạn
1975-1986 có tổng số 371 tác dụng phụ huyết
học, 396 ở da, 156 ở gan và tụy trong tổng
số hơn 4 triệu người dùng. Trong đó bao
gồm 27 trường hợp thiếu máu vô sản, 10 trường
hợp mất bạch cầu hạt. Trong một nghiên
cứu tác dụng phụ trên 220 trẻ em dưới 16
tuổi mà dùng carbamazepine ghi nhận các triệu chứng
buồn ngủ, thất điều, và chóng mặt là
những tác dụng phụ thường nhất và gần
như chỉ là tạm thời và liên quan đến
liều dùng (12). Riêng về hiệu quả th́ carbamazepine và
valproate hiệu quả và được dung nạp tốt
trong những trường hợp ĐK mới được
chẩn đoán (13). Theo Smith D
và Chadwick D th́ carbamazepine hiệu quả hơn phenytoin và
valproate trong các cơn ĐK cục bộ. Phản
ứng dị ứng gặp trong 2-4% bn dùng carbamazepine,
phenytoin, phenobarbitone hay lamotrigine. Hội chứng Stevens-Johnson
hay hoại tử ngoại b́ cấp xảy ra trong 1-5/10000
người và tỉ lệ này ở trẻ em th́ cao hơn.
Hiện tại, carbamazepine được chọn lựa
đầu tiên trong các cơn cục bộ và valproate trong
các cơn toàn thể. Carbamazepine có tác dụng phụ ít hơn
và thường là thuốc đầu tiên được
dùng bởi các bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Cả hai
thuốc đều có tác dụng phụ, đặc
biệt là valproate với tác dụng phụ thẩm mỹ
và gây quái thai. Các thuốc mới như lamotrigine,
gabapentin, topiramate, và oxcarbazepine là những thuốc có
khả năng được chọn lựa thứ hai (16,18).
Valproate có lẽ hơi kém hiệu quả hơn trong
điều trị các cơn cục bộ phức tạp
(18).
Các
thuốc mới như lamotrigine, felbamate, gabapentine, vigabatrin,
topiramate vẫn chưa được sử dụng
tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy có
lẽ do không có sẵn thuốc và ngoài ra có thể do
tỉ lệ ĐK kháng trị được nhập
viện thấp.
Các
phương pháp điều trị khác như phẩu
thuật ĐK, kích thích thần kinh lang thang và chế
độ ăn uống sinh keto vẫn chưa được
áp dụng tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Kết
luận
ĐK
là một t́nh trạng bệnh lư thường gặp
tại khoa thần kinh của bệnh viện đa khoa.
Đa số bệnh ảnh hưởng ở lứa
tuổi lao động, do đó ảnh hưởng
nhiều đến sinh hoạt, cuộc sống và công
việc của bệnh nhân. Bệnh nhân ĐK vào viện
thường có tiền căn ĐK và các t́nh trạng
bệnh lư ảnh hưởng đến năo. Việc
chẩn đoán nguyên nhân thường dựa nhiều vào
h́nh ảnh học đặc biệt là CCHT, và cần
nhiều chuyên gia hơn về h́nh ảnh học ĐK. Công
việc điều trị phụ thuộc nhiều các
loại cơn ĐK và cần được theo dơi
chặc chẽ hơn các tác dụng phụ để
ngừa những biến chứng nặng xảy ra sau đó.
Tài
liệu tham khảo
1.
Annegers JF (1993). The Epidemiology Of Epilepsy. In: Wyllie E (ed). The
Treatment Of Epilepsy: Principles And Practice. Lea & Febiger, Pennylvania,
pp: 157-164.
2.
Brodie MJ, Dichter M (1996). Antiepileptic Drugs.
N Engl J Med ;334:168-175.
3.
Trường hợpcino GD, Herkes GK (1993). Interpretation Of
Interictal EEG. In: Wyllie E (ed). The Treatment Of Epilepsy: Principles And
Practice. Lea & Febiger, Pennylvania, pp: 249-260.
4.
De Vriese AS, Philippe J, Van Renterghem DM et al (1995). Carbamazepine
Hypersensitivity Syndrome: Report Of 4 Trường hợpes And Review
Of The Literature. Medicine (Baltimore) May;74(3):144-51. (abstract)
5.
Gorlin JB, Ferry JA (1996). Trường
hợpe 26-1996. N Engl J Med ;335:557-584.
6.
Langan Y, Nashef L, Sander JWAS
(2002). Certification Of Deaths Attributable To Epilepsy. J Neurol
Neurosurg Psychiatry; 73: 751-752.
7.
Lowenstein DH, Alldredge BK,
Pharm D (1998). Status
Epilepticus. N Engl J Med
338: 970-976.
8.
Mahadeva U, Al-Mrayat M, Steer K, Leen E (1999).
Fatal Phenytoin Hypersensitivity Syndrome. Postgrad Med J; 75: 734-737.
9.
Morgan CLI, Ahmed Z, Kerr MP (2000). Social Deprivation And Prevalence Of
Epilepsy And Associated Health Usage. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 69: 13-17.
10.
Oertzen JV, Urbach H, Jungbluth S et al (2002). Standard Magnetic
Resonance Maging Is Inadequate For Patients With Refractory Focal Epilepsy. J
Neurol Neurosurg Psychiatry; 73: 643-647.
11.
Pal DK, Carpio A, Sander JWAS (2000). Neurocysticercosis And Epilepsy In
Developing Countries. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 68: 137-143.
12.
Pellock JM (1987). Carbamazepine Side Effects In Children And Adults.
Epilepsia;28 Suppl 3: S64-70. (abstract)
13.
Richens A, Davidson DL, Cartlidge NE, Easter DJ (1994). A Multicentre
Comparative Trial Of Sodium Valproate And Carbamazepine In Adult Onset Epilepsy.
Adult EPITEG Collaborative Group. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 57: 682-687.
14.
Scott RC, Surtees RAH, Neville BGR
(1998). Status Epilepticus:
Pathophysiology, Epidemiology, And Outcomes. Arch Dis Child; 79:73-77.
15.
Shorvon S.D (2000). Handbook of Epilepsy Treatment. Blackwell Science,
London.
16.
Smith D, Chadwick D (2001). The
Management Of Epilepsy. J
Neurol Neurosurg Psychiatry; 70(Suppl
2):ii15-ii21.
17.
Vittorio CC, Muglia JJ (1995). Anticonvulsant Hypersensitivity Syndrome. Arch Intern
Med;155(21):2285-90. (abstract)
18.
Victor M, Ropper A.H. Epilepsy and Other Seizure Disorders (2001). In:
Principles Of Neurology. 7th ed, McGraw-Hill,
New York, pp: 331-365.
19.
Willoughby JO, Fitzgibbon SP, Pope KJ at al (2003). Persistent
Abnormality Detected In The Non-Ictal Electroencephalogram In Primary
Generalised Epilepsy. J Neurol Neurosurg Psychiatry; 74: 51-55.

|