THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

DongKinh8

Home Up Feedback Contents Search

 

DongKinh9

NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA NHÂN DÂN PHƯỜNG NHÂN CHÍNH- QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐỐI VỚI ĐỘNG KINH

Đinh Đức Thiện, Lê Quang Cường. Trường Đại học Y Hà Nội.

Dinh Duc Thien, Le Quang Cuong: Knowledge of community towards epilepsy: a survey done at Nhan Chinh precinct, Thanh Xuan district, Ha Noi. Y hoc tp. Ho Chi Minh, special issue of neurology, vol. 7, supplement of no 4, 2003: 125 – 130.

Đinh Đức Thiện và Lê Quang Cường: Nghiên cứu nhận thức của nhân dân phường Nhân Chính - quận Thanh Xuân - Hà Nội đối với động kinh. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản số 4, năm 2003. trang 125-130.

TÓM TẮT: Để xác định kiến thức(Knowledge), thái độ (Attitude) và thực hành (Pratice) của một quần thể nhân dân thuộc thành phố Hà Nội về động kinh trên cơ sở so sánh với các nghiên cứu trên thế giới, 1000 người dân thuộc phường Nhân Chính- quận Thanh Xuân - Hà Nội được chọn ngẫu nhiên để trả lời phỏng vấn 10 câu hỏi đă được áp dụng ở các nước trong khu vực. Kết quả cho thấy 54,6% đă nghe nói đến động kinh, 44,5% có quen biết người bị động kinh, 49,2% đ• chứng kiến cơn co giật. Có 45,4% chưa từng nghe nói đến động kinh, 56% không đồng ư để con ḿnh lấy người bị động kinh, 42,1% không đồng ư người bị động kinh có công việc làm b́nh thường. Về nguyên nhân, 77,8% nghỉ động kinh là bệnh của năo nhưng c̣n 23,8% nhầm với mất trí. Về điều trị, 91% muốn khám Bác sĩ, nhưng vẫn c̣n 5% tin vào cúng bái. Kết luận :nghiên cứu cho thấy c̣n gần nửa số người được phỏng vấn c̣n chưa biết về động kinh, do vậy thái độ và thực hành đối với loại bệnh lư này c̣n nhiều điểm chưa đúng đắn.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Động kinh là một bệnh mạn tính, theo ước tính của Liên hội Quốc tế chống động kinh (ILAE) năm 1996: hiện nay trên thế giới có khoảng 70 triệu bệnh nhân động kinh {trích từ 1}. Khi nói về động kinh, nhiều người thường nghỉ đến một căn bệnh gây co giật không thể dự đoán được thời điểm xuất hiện cũng như căn nguyên gây bệnh. Chính do sự thiếu hiểu biết này đă dẫn đến suy nghỉ cho rằng đây là một bệnh lư không thể chữa khỏi, từ đó dẫn đến tâm lư sợ hăi, tránh né và thậm chí các phản ứng tiêu cực như dấu bệnh, từ chối khám bệnh, không tuân thủ các nguyên tắc điều trị của thầy thuốc. Các nghiên cứu trên thế giới về kiến thức (Knowledge), thái độ (Attitude) và thực hành (Practice) của xă hội đối với động kinh đều cho rằng yếu tố văn hoá và xă hội đóng vai tṛ quan trọng đối với chất lượng điều trị cũng như việc hoà nhập bệnh nhân với cộng đồng. Ở Việt nam, cho đến nay, chúng tôi chưa thấy tác giả nào đề cập đến việc t́m hiểu nhận thức của người dân ở cộng đồng đối với loại bệnh lư này. Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu nhận thức nhân dân phường Nhân Chính- Quận Thanh Xuân- Thành phố Hà Nội đối với động kinh " với mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của quần thể nhân dân của cộng đồng này về động kinh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô tả.2 Cỡ mẫu được tính theo công thức:

Trong đó: n: Cỡ mẫu; Z(1-?/2): Hệ số tin cậy mức xác suất 95% (= 1,96); p: Tỷ lệ người dân có hiểu biết về động kinh (p = 90%); q: Tỷ lệ người dân không hiểu biết về động kinh (q = 10%) ;d: Độ chính xác mong muốn của nghiên cứu (d = 2%) ; Cỡ mẫu nghiên cứu sẽ được ước lượng 900 + 10% dự bị = 1000 người.

Phương pháp xây dựng bộ câu hỏi: 10 câu hỏi được thiết kế dựa trên các bộ câu hỏi về K.A.P đối với động kinh đă• được thực hiện thành công tại một số nước Châu Aù và châu Âu.5,7,8

Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp do các tác giả thực hiện dưới sự hỗ trợ của các cộng tác viên dân số. Người phỏng vấn không áp đặt các câu trả lời mà chi giải thích rơ ư nghỉa các câu hỏi trong trường hợp cần thiết.

Số người được phỏng vấn được chọn ngẫu nhiên theo phương pháp bắt thăm trong toàn bộ số dân phường Nhân Chính.

Xử lư và phân tích số liệu: Số liệu được xử lư và phân tích trên phần mền SPSS 10.0. theo phương pháp thống kê mô tả ở mức tin cậy 95%.

Hạn chế sai số: điều tra viên được tập huấn trước về kiến thức lâm sàng cơ bản của động kinh, các kỹ năng phỏng vấn bộ câu hỏi và hướng dẫn các quy định về ghi chép số liệu điều tra. Trước khi điều tra thực sự, tất cả các cộng tác viên đều được điều tra thử và rút kinh nghiệm cũng như bổ xung những khó khăn trong quá tŕnh phỏng vấn và ghi chép số liệu. Phiếu điều tra được thu hàng ngày, kiểm tra kỹ và trả lại những phiếu chưa đạt yêu cầu để cộng tác viên hoàn thiện và trả lại vào ngày hôm sau.

Đạo đức trong nghiên cứu: Cộng tác viên tiếp xúc và giới thiệu mục đích của nghiên cứu và hỏi ư kiến người được phỏng vấn, nếu được đồng ư th́ mới tiến hành phỏng vấn. Các thông tin cá nhân được giữ kín hoàn toàn bằng cách mă hoá.

KẾT QUẢ

Một số đặc điểm quần thể nghiên cứu.

Bảng 1. Một số đặc điểm quần thể nghiên cứu

Giới Nam 380
Nữ 620
Tuổi 13-29 230
30-49 452
 50 318
Nghề nghiệp Cán bộ 388
Nông dân 32
HS – SV 105
Nghề khác 475
Tŕnh độ văn hoá Mù, cấp 1 111
Cấp II 332
Cấp III trở lên 557

Nhận xét: Tŕnh độ văn hoá quần thể nghiên cứu chủ yếu từ cấp II trở lên chiếm 88,9%. Nông dân chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong cộng đồng (3,2%).

Kết quả điều tra K.A.P của người dân về động kinh

 Kiến thức (K) của người dân về động kinh

Bảng 2. trả lời các câu hỏi liên quan đến kiến thức về động kinh.

Câu hỏi 1 Câu hỏi 2 Câu hỏi 3 Câu hỏi 4

(%)

Không

(%)

(%)

Không

(%)

(%)

Không

(%)

(%)

Không

(%)

54,6 45,4 44,5 55,5 49,2 50,8 23,8 76,2

Câu hỏi 1: Bạn đă từng nghe nói hoặc đọc về động kinh không ?

Câu hỏi 2: Bạn đă từng quen biết ai bị động kinh không ?

Câu hỏi 3: Bạn đă từng nh́n thấy ai bị co giật hay động kinh không ?

Câu hỏi 4: Bạn có nghỉ động kinh là bệnh mất trí không ?

Nhận xét: Gần một nửa số người được phỏng vấn chưa bao giờ nghe, đọc về bệnh động kinh, chiếm tỷ lệ 45,4%. Có 445 người phỏng vấn cho biết họ có biết người bị động kinh (44,5%) và 555 người trả lời không biết ai bị động kinh (55,5%).

-        492 người (49,2%) được phỏng vấn cho biết đă từng chứng kiến người lên cơn co giật và 508 người (50,8%) chưa từng thấy ai động kinh.

-        762 người (76,2%) khẳng định động kinh không phải là một dạng mất trí và 238 người (23,8%) nghỉ rằng động kinh là một dạng mất trí.

Bảng 3. Tỉ lệ trả lời câu (5) liên quan đến hiểu biết về nguyên nhân gây động kinh.

Nguyên nhân động kinh Kết quả
Số lượng Tỷ lệ (%)
Di truyền 190 19
Bệnh lư năo 778 77,8
Rối loạn cảm xúc 142 14,2
Bất thường khi sinh 72 7,2
Rối loạn máu 37 3,7
Không biết 66 6,6

Nhận xét: 778 người (77,8%) người được phỏng vấn cho rằng động kinh là do bệnh của năo. Số người cho rằng di truyền là nguyên nhân động kinh chiếm 190(19%). Có 142 người (14,2%) nghỉ động kinh là do rối loạn cảm xúc và 66 người không biết ǵ về nguyên nhân của động kinh (6,6%).

Bảng 4. trả lời câu 6 : Động kinh biểu hiện dưới h́nh thức nào ?

  Kết quả
Số lượng Tỷ lệ (%)
Co giật 875 87,5
Mất ư thức 335 33,5
Rối loạn hành vi 273 27,3
Quên 179 17,9
Không biết 25 2,5

Nhận xét: Số người nghỉ rằng biểu hiện của cn động kinh là co giật là 875 (87,5%). Có 335 người cho rằng mất ư thức là triệu chứng của cơn động kinh (33,5%). C̣n lại 25 người không biết biểu hiện của cơn động kinh là ǵ (2,5%).

Thái độ (A) của người dân đối với động kinh.

Bảng 5. Trả lời câu 7: Bạn có đồng ư để con bạn tiếp xúc với người bị động kinh không

Thái độ biểu hiện

Kết quả

Số lượng Tỷ lệ (%)
Đồng ư 813 81,3
Không đồng ư 187 18,7
Tổng cộng 1000 100

Nhận xét: đa số người được hỏi đồng ư cho con cái họ tiếp xúc với người bị động kinh, gồm 813 người (81,3%). C̣n lại 187 người phản đối điều này, chiếm (18,7%)

Biểu đồ 1. trả lời câu 8 : Bạn có đồng ư để con bạn cưới một người bị động kinh không

Nhận xét: 560 người(56%) được phỏng vấn không đồng ư cho con ḿnh cưới một người bị động kinh.

Bảng 6. Trả lời câu 9: Bạn có đồng ư để người bị động kinh có việc làm như người b́nh thường không ?

Người động kinh nên có việc làm như người khác Kết quả
Số lượng Tỷ lệ (%)
Đồng ư 579 57,9
Không đồng ư 421 42,1
Tổng cộng 1000 100

Nhận xét: 579 người (57,9%) được hỏi đồng ư người động kinh nên có việc làm như những người khác. C̣n lại 421 người phản đối, chiếm 42,1%.

Thực hành (P) của người dân khi người thân hoặc bạn bè bị động kinh

Bảng 7. Trả lời câu 10 : Khi bị động kinh, bạn chọn phương pháp điều trị nào.

Phương pháp điều trị Kết quả
Số lượng Tỷ lệ (%)
Hỏi Bác sĩ 917 91,7
Cúng lễ 51 5,1
Y học cổ truyền 85 8,5
Châm cứu 128 12,8
Không cần điều trị 4 0,4
Không biết làm ǵ 20 2
Không điều trị được 34 3,4

Nhận xét: Đa số người được hỏi lựa chọn Bác sỹ và những người hành nghề y khi có người thân hoặc bạn bè bị động kinh, gồm 917 người (91,7%) . Có 85 người được hỏi chọn y học cổ truyền (8,5%), 12,8% tin tưởng vào châm cứu 3,4%, người được hỏi nghỉ rằng động kinh không chữa được và 2% không biết phải làm ǵ.

BÀN LUẬN.

Kiến thức của người dân đối với động kinh

T́m hiểu về kiến thức động kinh của cộng đồng dân phường Nhân Chính qua nghe, đọc, quen biết và nh́n thấy người lên cơn co giật, qua so sánh kết quả thu được với một số nghiên cứu gần đây trong khu vực (Bảng 2, 8) chúng tôi thấy 54,6% người được hỏi trong nghiên cứu này đă từng nghe trên thông tin đại chúng, đọc sách, báo... về động kinh, 44,5% người được hỏi cho biết họ có quen biết người bị động kinh, 49,2% đă từng chứng kiến người lên cơn co giật. Tác giả Chong Tin Tan (Malaysia 2000) thấy 91% người được hỏi đă từng nghe, đọc về động kinh, 56% có quen biết người bị động kinh và 33% đă từng chứng kiến người lên cơn co giật.7 Tại New Zealand, M.D Hill và H.C Mackenzie (2002) thấy 95% đă từng nghe đọc về bệnh động kinh, 73% cho biết họ có quen biết người bị động kinh, 67% đă từng chứng kiến người lên cơn co giật.5 Theo nghiên cứu Nwe Nwe Win ở Myanma cũng cho thấy số người đă nghe hoặc đọc về động kinh chiếm tới 82% và số người gặp cơn co giật là 78%.8

Bảng 8. So sánh kết quả về kiến thức đối với động kinh với một số tác giả..

Các thông số Việt Nam

(2003)

Malaysia (2000) Myanmar (2002) New Zealand (2002)
Đă•nghe, đọc về động kinh 54,6% 91,0% 82,0% 95,0%
Có quen biết người bị động kinh 44,5% 56,0% 25,0% 73,0%
Đă nh́n thấy người lên cơn co giật 49,2% 33,0% 78,0% 67,0%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số người hiểu biết về động kinh qua nghe và đọc thấp hơn các tác giả trên (chỉ chiếm khoảng một nửa dân số), đây là một điểm rất đáng lưu ư. Điều này chứng tỏ kiến thức về động kinh trong cộng đồng c̣n hạn chế và mạng lưới truyền thông phổ biến kiến thức y học cần chú trọng hơn để có thể làm cho người dân có nhận thức đúng về loại bệnh lư này.

Tỷ lệ người quen biết và chứng kiến người lên cơn co giật của một số tác giả trong khu vực tương đương với kết quả của chúng tôi, nhưng thấp hơn nghiên cứu của M.D Hill và H.C Mackenzie. Về sự khác biệt này có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân làm tỉ lệ này thấp ở nghiên cứu này có thể do nghiên cứu của chúng tôi tiến hành tại một phường thuộc Nội thành Hà Nội, mô h́nh sống khép kín hơn nên thông tin về những người xung quanh có phần bị hạn chế.

Đánh giá hiểu biết về nguyên nhân gây động kinh (Bảng 3.2,4.2.), trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ người nghỉ nguyên nhân động kinh là bệnh lư của năo khá cao, điều đó có thể liên quan đến tŕnh độ văn hoá của quần thể nghiên cứu. Trong nghiên cứu của chúng tôi (là những người sống trong một phường của thủ đô) tỉ lệ người có tŕnh độ văn hoá từ cấp hai trở lên chiếm 88,9% nên khi được phỏng vấn,việc suy luận bản chất tổn thương năo của động kinh không phải là vấn đề quá khó khăn.

Trong nghiên cứu ở Myanmar (2002), tuy tŕnh độ văn hoá của đối tượng được phỏng vấn không thấy có nét khác biệt so với các đối tượng của chúng tôi, nhưng chỉ có 39% người phỏng vấn nghỉ bệnh của nảo là nguyên nhân gây động kinh. Theo chúng tôi, sự khác nhau này c̣n phụ thuộc vào mô h́nh bệnh tật của nước, đây là yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm về nguyên nhân động kinh. Có thể do các thông tin về bệnh lư nhiễm khuẩn thần kinh ở Việt nam (Viêm màng năo, viêm năo..) và các bệnh lư mạch máu năo mà các phương tiện thông tin đại chúng hay đề cập có ảnh hưởng đáng kể đến quan niệm về bản chất tổn thương năo của động kinh.

Bảng 9. So sánh với các tác giả nước ngoài về hiểu biết nguyên nhân động kinh.

Các thông số Việt Nam

(2003)

Malaysia (2000)[7] Myanmar (2002)[8] New Zealand (2002)[5]
Di truyền 19% 69% 23% 7%
Bệnh lư năo 77,8% 30% 33% 39%
Bất thường khi sinh 7,2% 13% 42% 2%
Rối loạn cảm xúc 14,2% 24% 36% -
Rối loạn máu 3,7% 6% 13%