
NGHIÊN
CỨU NHẬN THỨC CỦA NHÂN DÂN PHƯỜNG NHÂN CHÍNH-
QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐỐI VỚI
ĐỘNG KINH
Đinh
Đức Thiện, Lê Quang Cường.
Trường
Đại học Y Hà Nội.
Dinh
Duc Thien, Le Quang Cuong: Knowledge of community towards epilepsy: a survey
done at Nhan Chinh precinct, Thanh Xuan district, Ha Noi. Y hoc tp. Ho Chi Minh,
special issue of neurology, vol. 7, supplement of no 4, 2003: 125 – 130.
Đinh
Đức Thiện và Lê Quang Cường: Nghiên cứu nhận thức của nhân dân
phường Nhân Chính - quận Thanh Xuân - Hà Nội đối với động
kinh. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản số 4, năm 2003. trang
125-130.
TÓM
TẮT: Để xác định kiến
thức(Knowledge), thái độ (Attitude) và thực hành
(Pratice) của một quần thể nhân dân thuộc thành
phố Hà Nội về động kinh trên cơ sở so
sánh với các nghiên cứu trên thế giới, 1000 người
dân thuộc phường Nhân Chính- quận Thanh Xuân - Hà
Nội được chọn ngẫu nhiên để
trả lời phỏng vấn 10 câu hỏi đă
được áp dụng ở các nước trong khu
vực. Kết quả cho thấy 54,6% đă nghe nói đến
động kinh, 44,5% có quen biết người bị động
kinh, 49,2% đ• chứng kiến cơn co giật. Có 45,4%
chưa từng nghe nói đến động kinh, 56% không
đồng ư để con ḿnh lấy người bị
động kinh, 42,1% không đồng ư người bị
động kinh có công việc làm b́nh thường. Về
nguyên nhân, 77,8% nghỉ động kinh là bệnh của năo
nhưng c̣n 23,8% nhầm với mất trí. Về điều
trị, 91% muốn khám Bác sĩ, nhưng vẫn c̣n 5% tin vào
cúng bái. Kết luận :nghiên cứu cho thấy c̣n
gần nửa số người được phỏng
vấn c̣n chưa biết về động kinh, do vậy
thái độ và thực hành đối với loại
bệnh lư này c̣n nhiều điểm chưa đúng đắn.
ĐẶT
VẤN ĐỀ
Động
kinh là một bệnh mạn tính, theo ước tính
của Liên hội Quốc tế chống động kinh
(ILAE) năm 1996: hiện nay trên thế giới có khoảng
70 triệu bệnh nhân động kinh {trích từ 1}. Khi nói
về động kinh, nhiều người thường
nghỉ đến một căn bệnh gây co giật không
thể dự đoán được thời điểm
xuất hiện cũng như căn nguyên gây bệnh. Chính
do sự thiếu hiểu biết này đă dẫn đến
suy nghỉ cho rằng đây là một bệnh lư không
thể chữa khỏi, từ đó dẫn đến tâm
lư sợ hăi, tránh né và thậm chí các phản ứng tiêu
cực như dấu bệnh, từ chối khám bệnh,
không tuân thủ các nguyên tắc điều trị
của thầy thuốc. Các nghiên cứu trên thế
giới về kiến thức (Knowledge), thái độ
(Attitude) và thực hành (Practice) của xă hội đối
với động kinh đều cho rằng yếu tố
văn hoá và xă hội đóng vai tṛ quan trọng đối
với chất lượng điều trị cũng như
việc hoà nhập bệnh nhân với cộng đồng.
Ở Việt nam, cho đến nay, chúng tôi chưa
thấy tác giả nào đề cập đến việc
t́m hiểu nhận thức của người dân ở
cộng đồng đối với loại bệnh lư này.
Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên
cứu nhận thức nhân dân phường Nhân Chính-
Quận Thanh Xuân- Thành phố Hà Nội đối với
động kinh " với mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành
của quần thể nhân dân của cộng đồng này
về động kinh.
PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên
cứu được thiết kế theo phương pháp
cắt ngang mô tả.2 Cỡ mẫu được tính
theo công thức:
Trong
đó: n: Cỡ mẫu; Z(1-?/2): Hệ số tin cậy
mức xác suất 95% (= 1,96); p: Tỷ lệ người dân
có hiểu biết về động kinh (p = 90%); q: Tỷ
lệ người dân không hiểu biết về động
kinh (q = 10%) ;d: Độ chính xác mong muốn của nghiên
cứu (d = 2%) ; Cỡ mẫu nghiên cứu sẽ được
ước lượng 900 + 10% dự bị = 1000 người.
Phương
pháp xây dựng bộ câu hỏi: 10 câu
hỏi được thiết kế dựa trên các
bộ câu hỏi về K.A.P đối với động
kinh đă• được thực hiện thành công
tại một số nước Châu Aù và châu Âu.5,7,8
Kỹ
thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn trực
tiếp do các tác
giả thực hiện dưới sự hỗ trợ
của các cộng tác viên dân số. Người phỏng
vấn không áp đặt các câu trả lời mà chi
giải thích rơ ư nghỉa các câu hỏi trong trường
hợp cần thiết.
Số
người được phỏng vấn được
chọn ngẫu nhiên theo phương pháp bắt thăm
trong toàn bộ
số dân phường Nhân Chính.
Xử
lư và phân tích số liệu: Số liệu được
xử lư và phân
tích trên phần mền SPSS 10.0. theo phương pháp
thống kê mô tả ở mức tin cậy 95%.
Hạn
chế sai số: điều tra viên được tập
huấn trước
về kiến thức lâm sàng cơ bản của động
kinh, các kỹ năng phỏng vấn bộ câu hỏi và
hướng dẫn các quy định về ghi chép số
liệu điều tra. Trước khi điều tra
thực sự, tất cả các cộng tác viên đều
được điều tra thử và rút kinh nghiệm cũng
như bổ xung những khó khăn trong quá tŕnh phỏng
vấn và ghi chép số liệu. Phiếu điều tra
được thu hàng ngày, kiểm tra kỹ và trả
lại những phiếu chưa đạt yêu cầu để
cộng tác viên hoàn thiện và trả lại vào ngày hôm
sau.
Đạo
đức trong nghiên cứu: Cộng tác viên
tiếp xúc và giới thiệu mục đích của nghiên
cứu và hỏi ư kiến người được
phỏng vấn, nếu được đồng ư th́
mới tiến hành phỏng vấn. Các thông tin cá nhân
được giữ kín hoàn toàn bằng cách mă hoá.
KẾT
QUẢ
Một
số đặc điểm quần thể nghiên cứu.
Bảng
1. Một số đặc điểm quần thể nghiên
cứu
| Giới
|
Nam
|
380
|
| Nữ
|
620
|
| Tuổi
|
13-29
|
230
|
| 30-49
|
452
|
50
|
318
|
| Nghề
nghiệp
|
Cán
bộ
|
388
|
| Nông
dân
|
32
|
| HS
– SV
|
105
|
| Nghề
khác
|
475
|
| Tŕnh
độ văn hoá
|
Mù,
cấp 1
|
111
|
| Cấp
II
|
332
|
| Cấp
III trở lên
|
557
|
Nhận
xét: Tŕnh độ văn hoá quần thể nghiên
cứu chủ yếu từ cấp II trở lên chiếm
88,9%. Nông dân chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ
trong cộng đồng (3,2%).
Kết
quả điều tra K.A.P của người dân về
động kinh
Kiến
thức (K) của người dân về động kinh
Bảng
2. trả lời các câu hỏi liên quan đến kiến
thức về động kinh.
| Câu
hỏi 1
|
Câu
hỏi 2
|
Câu
hỏi 3
|
Câu
hỏi 4
|
| Có
(%)
|
Không
(%)
|
Có
(%)
|
Không
(%)
|
Có
(%)
|
Không
(%)
|
Có
(%)
|
Không
(%)
|
| 54,6
|
45,4
|
44,5
|
55,5
|
49,2
|
50,8
|
23,8
|
76,2
|
Câu
hỏi 1: Bạn đă từng nghe nói hoặc đọc
về động kinh không ?
Câu
hỏi 2: Bạn đă từng quen biết ai bị
động kinh không ?
Câu
hỏi 3: Bạn đă từng nh́n thấy ai bị co
giật hay động kinh không ?
Câu
hỏi 4: Bạn có nghỉ động kinh là bệnh
mất trí không ?
Nhận
xét: Gần một nửa số người được
phỏng vấn chưa bao giờ nghe, đọc về
bệnh động kinh, chiếm tỷ lệ 45,4%. Có 445 người
phỏng vấn cho biết họ có biết người
bị động kinh (44,5%) và 555 người trả
lời không biết ai bị động kinh (55,5%).
-
492 người
(49,2%) được phỏng vấn cho biết đă
từng chứng kiến người lên cơn co giật và
508 người (50,8%) chưa từng thấy ai động
kinh.
-
762 người
(76,2%) khẳng định động kinh không phải là
một dạng mất trí và 238 người (23,8%) nghỉ
rằng động kinh là một dạng mất trí.
Bảng
3. Tỉ lệ trả lời câu (5) liên quan đến
hiểu biết về nguyên nhân gây động kinh.
| Nguyên
nhân động kinh
|
Kết
quả
|
| Số
lượng
|
Tỷ
lệ (%)
|
| Di
truyền
|
190
|
19
|
| Bệnh
lư năo
|
778
|
77,8
|
| Rối
loạn cảm xúc
|
142
|
14,2
|
| Bất
thường khi sinh
|
72
|
7,2
|
| Rối
loạn máu
|
37
|
3,7
|
| Không
biết
|
66
|
6,6
|
Nhận
xét: 778 người (77,8%) người được
phỏng vấn cho rằng động kinh là do bệnh
của năo. Số
người cho rằng di truyền là nguyên nhân động
kinh chiếm 190(19%). Có 142 người (14,2%) nghỉ động
kinh là do rối loạn cảm xúc và 66 người không
biết ǵ về nguyên nhân của động kinh (6,6%).
Bảng
4. trả lời câu 6 : Động kinh biểu hiện dưới
h́nh thức nào ?
|
|
Kết
quả
|
| Số
lượng
|
Tỷ
lệ (%)
|
| Co
giật
|
875
|
87,5
|
| Mất
ư thức
|
335
|
33,5
|
| Rối
loạn hành vi
|
273
|
27,3
|
| Quên
|
179
|
17,9
|
| Không
biết
|
25
|
2,5
|
Nhận
xét: Số người nghỉ rằng biểu hiện
của cn động kinh là co giật là 875 (87,5%). Có 335 người
cho rằng mất ư thức là triệu chứng của cơn
động kinh (33,5%). C̣n lại 25 người không
biết biểu hiện của cơn động kinh là ǵ
(2,5%).
Thái
độ (A) của người dân đối với
động kinh.
Bảng
5. Trả lời câu 7: Bạn có đồng ư để
con bạn tiếp xúc với người bị động
kinh không
|
Thái
độ biểu hiện
|
Kết
quả
|
| Số
lượng
|
Tỷ
lệ (%)
|
| Đồng
ư
|
813
|
81,3
|
| Không
đồng ư
|
187
|
18,7
|
| Tổng
cộng
|
1000
|
100
|
Nhận
xét: đa số người được hỏi đồng
ư cho con cái họ tiếp xúc với người bị
động kinh, gồm 813 người (81,3%). C̣n lại 187
người phản đối điều này, chiếm
(18,7%)
Biểu
đồ 1. trả lời câu 8 : Bạn có đồng ư
để con bạn cưới một người bị
động kinh không
Nhận
xét: 560 người(56%) được phỏng vấn không
đồng ư cho con ḿnh cưới một người
bị động
kinh.
Bảng
6. Trả lời câu 9: Bạn có đồng ư để người
bị động kinh có việc làm như người b́nh
thường không ?
| Người
động kinh nên có việc làm như người
khác
|
Kết
quả
|
| Số
lượng
|
Tỷ
lệ (%)
|
| Đồng
ư
|
579
|
57,9
|
| Không
đồng ư
|
421
|
42,1
|
| Tổng
cộng
|
1000
|
100
|
Nhận
xét: 579 người (57,9%) được hỏi đồng
ư người
động kinh nên có việc làm như những người
khác. C̣n lại 421 người phản đối,
chiếm 42,1%.
Thực
hành (P) của người dân khi người thân hoặc
bạn bè bị động kinh
Bảng
7. Trả lời câu 10 : Khi bị động kinh, bạn
chọn phương pháp điều trị nào.
| Phương
pháp điều trị
|
Kết
quả
|
| Số
lượng
|
Tỷ
lệ (%)
|
| Hỏi
Bác sĩ
|
917
|
91,7
|
| Cúng
lễ
|
51
|
5,1
|
| Y
học cổ truyền
|
85
|
8,5
|
| Châm
cứu
|
128
|
12,8
|
| Không
cần điều trị
|
4
|
0,4
|
| Không
biết làm ǵ
|
20
|
2
|
| Không
điều trị được
|
34
|
3,4
|
Nhận
xét: Đa số người được hỏi lựa
chọn Bác sỹ và những người hành nghề y khi
có người thân
hoặc bạn bè bị động kinh, gồm 917 người
(91,7%) . Có 85 người được hỏi chọn y
học cổ truyền (8,5%), 12,8% tin tưởng vào châm
cứu 3,4%, người được hỏi nghỉ
rằng động kinh không chữa được và 2% không
biết phải làm ǵ.
BÀN
LUẬN.
Kiến
thức của người dân đối với động
kinh
T́m
hiểu về kiến thức động kinh của
cộng đồng dân phường Nhân Chính qua nghe, đọc,
quen biết và nh́n thấy người lên cơn co
giật, qua so sánh kết quả thu được với
một số nghiên cứu gần đây trong khu vực
(Bảng 2, 8) chúng tôi thấy 54,6% người được
hỏi trong nghiên cứu này đă từng nghe trên thông tin
đại chúng, đọc sách, báo... về động
kinh, 44,5% người được hỏi cho biết
họ có quen biết người bị động kinh,
49,2% đă từng chứng kiến người lên cơn
co giật. Tác giả Chong Tin Tan (Malaysia 2000) thấy 91% người
được hỏi đă từng nghe, đọc về
động kinh, 56% có quen biết người bị động
kinh và 33% đă từng chứng kiến người lên cơn
co giật.7 Tại New Zealand, M.D Hill và H.C Mackenzie (2002)
thấy 95% đă từng nghe đọc về bệnh
động kinh, 73% cho biết họ có quen biết người
bị động kinh, 67% đă từng chứng kiến người
lên cơn co giật.5 Theo nghiên cứu Nwe Nwe Win ở Myanma
cũng cho thấy số người đă nghe hoặc
đọc về động kinh chiếm tới 82% và
số người gặp cơn co giật là 78%.8
Bảng
8. So sánh kết quả về kiến thức đối
với động kinh với một số tác giả..
| Các
thông số
|
Việt
Nam
(2003)
|
Malaysia
(2000)
|
Myanmar
(2002)
|
New
Zealand (2002)
|
| Đă•nghe,
đọc về động kinh
|
54,6%
|
91,0%
|
82,0%
|
95,0%
|
| Có
quen biết người bị động kinh
|
44,5%
|
56,0%
|
25,0%
|
73,0%
|
| Đă
nh́n thấy người lên cơn co giật
|
49,2%
|
33,0%
|
78,0%
|
67,0%
|
Trong
nghiên cứu của chúng tôi, số người hiểu
biết về động kinh qua nghe và đọc thấp
hơn các tác giả trên (chỉ chiếm khoảng một
nửa dân số), đây là một điểm rất
đáng lưu ư. Điều này chứng tỏ kiến
thức về động kinh trong cộng đồng c̣n
hạn chế và mạng lưới truyền thông phổ
biến kiến thức y học cần chú trọng hơn
để có thể làm cho người dân có nhận
thức đúng về loại bệnh lư này.
Tỷ
lệ người quen biết và chứng kiến người
lên cơn co giật của một số tác giả trong
khu vực tương đương với kết quả
của chúng tôi, nhưng thấp hơn nghiên cứu
của M.D Hill và H.C Mackenzie. Về sự khác biệt này có
thể có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng theo chúng tôi,
một trong những nguyên nhân làm tỉ lệ này thấp
ở nghiên cứu này có thể do nghiên cứu của chúng
tôi tiến hành tại một phường thuộc
Nội thành Hà Nội, mô h́nh sống khép kín hơn nên thông
tin về những người xung quanh có phần bị
hạn chế.
Đánh
giá hiểu biết về nguyên nhân gây động kinh
(Bảng 3.2,4.2.), trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ
lệ người nghỉ nguyên nhân động kinh là
bệnh lư của năo khá cao, điều đó có thể
liên quan đến tŕnh độ văn hoá của
quần thể nghiên cứu. Trong nghiên cứu của chúng
tôi (là những người sống trong một phường
của thủ đô) tỉ lệ người có tŕnh
độ văn hoá từ cấp hai trở lên chiếm
88,9% nên khi được phỏng vấn,việc suy
luận bản chất tổn thương năo của động
kinh không phải là vấn đề quá khó khăn.
Trong
nghiên cứu ở Myanmar (2002), tuy tŕnh độ văn hoá
của đối tượng được phỏng
vấn không thấy có nét khác biệt so với các đối
tượng của chúng tôi, nhưng chỉ có 39% người
phỏng vấn nghỉ bệnh của nảo là nguyên nhân
gây động kinh. Theo chúng tôi, sự khác nhau này c̣n
phụ thuộc vào mô h́nh bệnh tật của nước,
đây là yếu tố ảnh hưởng đến quan
niệm về nguyên nhân động kinh. Có thể do các thông
tin về bệnh lư nhiễm khuẩn thần kinh ở
Việt nam (Viêm màng năo, viêm năo..) và các bệnh lư
mạch máu năo mà các phương tiện thông tin đại
chúng hay đề cập có ảnh hưởng đáng
kể đến quan niệm về bản chất tổn
thương năo của động kinh.
Bảng
9. So sánh với các tác giả nước ngoài về
hiểu biết nguyên nhân động kinh.
| Các
thông số
|
Việt
Nam
(2003)
|
Malaysia
(2000)[7]
|
Myanmar
(2002)[8]
|
New
Zealand (2002)[5]
|
| Di
truyền
|
19%
|
69%
|
23%
|
7%
|
| Bệnh
lư năo
|
77,8%
|
30%
|
33%
|
39%
|
| Bất
thường khi sinh
|
7,2%
|
13%
|
42%
|
2%
|
| Rối
loạn cảm xúc
|
14,2%
|
24%
|
36%
|
-
|
| Rối
loạn máu
|
3,7%
|
6%
|
13%
|
-
|
| Không
biết
|
6,6%
|
17%
|
27%
|
-
|
Do
một trong những biểu hiện của động kinh
là các cơn quên (động kinh thùy trước trán) và
rối loạn tâm thần nên làm nhiều người dân
nghỉ động kinh là một dạng của mất trí.
Mặt khác, do hoàn cảnh lịch sử, hiện nay
bệnh động kinh vẫn do chuyên ngành Tâm thần
quản lư nên việc nhầm lẫn giữa động
kinh và mất trí-một loại bệnh tâm thần có
thể xảy ra. T́m hiểu về quan niệm này, chúng tôi
thấy 76,2% số người được hỏi cho
rằng động kinh không phải là một dạng
mất trí. Chong Tin TAN thấy 77% người được
hỏi có quan điểm như trên.7 Tại New Zealand (2002)
các tác giả thấy 96% đồng ư rằng động
kinh không phải là một dạng mất trí.5 Với
kết quảnày chúng tôi thấy việc xem xét động
kinh không phải là một dạng mất trí của
cộng đồng chúng ta tương đương
với khu vực và một số nước châu Âu. Tuy
nhiên, tỉ lệ 23,8% (Bảng 9) người được
hỏi vẫn nhầm giữa động kinh và mất trí
cũng là một tỉ lệ cần phải khắc
phục.
Để
t́m hiểu kiến thức của người Việt Nam
về các biểu hiện lâm sàng của một cơn
động kinh, chúng tôi cũng muốn so sánh với
một số tác giả trong khu vực (Bảng 10).
Bảng
10. So sánh với các tác giả nước ngoài hiểu
biết về biểu hiện động kinh.
| Các
thông số
|
Việt
Nam
(2003)
|
Malaysia
(2000)
|
Myanmar
(2002)
|
| Co
giật
|
87,5%
|
81%
|
76%
|
| Mất
ư thức
|
33,5%
|
62%
|
60%
|
| Rối
loạn hành vi
|
27,3%
|
18%
|
39%
|
| Quên
|
19,7
|
16%
|
40%
|
| Không
biết
|
2,5%
|
7%
|
11%
|
Triệu
chứng co giật hay được nói đến
nhất trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ này
tương đương với kết quả nghiên
cứu của Chong Tin TAN7 và Nwe Nwe Win.8 Tuy nhiên có điểm
cần chú ư là triệu chứng rối loạn ư thức
lại ít được người dân để ư trong
nghiên cứu của chúng tôi, điều này cũng nói lên
được những kiến thức về triệu
chứng động kinh mà người dân biết
được mang tính quan sát tự phát nhiều hơn là
do được giáo dục. Như vậy một lần
nữa việc tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng
về động kinh cần phi được quan tâm hơn
nữa.
Thái
độ (A) của quần thể nghiên cứu đối
với động kinh.
T́m
hiểu về thái độ của người được
phỏng vấn khi con cái họ tiếp xúc hoặc
muốn cưới một người bị động
kinh, trong nghiên cứu của chúng tôi 81,3% đồng ư cho
con cái tiếp xúc, 44% đồng ư cho con cái cưới
một người bị động kinh. Kết quả này
cao hơn kết quả nghiên cứu của Nwe Nwe Win 8 (56%
đồng ư cho tiếp xúc, 29% đồng ư cho cưới).
Kết quả của chúng tôi tương tự với
số liệu của Chong Tin TAN 7 khi tác giả thấy 80%
đồng ư cho con cái chơi, 52% đồng ư cho con cái cưới
người bị động kinh. So với nghiên cứu
tại New Zealand (97% đồng ư cho tiếp xúc, 91% đồng
ư cho cưới)5, tỉ lệ của chúng tôi thấp hơn.
Về việc này, trên thực tế khó có thể nói
nhận thức của người dân Việt Nam về
động kinh đă gần với các nước trong khu
vực v́ trên thực tế khi trả lời câu hỏi
1, có đến một nửa số người được
phỏng vấn (45,4%) chưa hề nghe nói đến
loại bệnh lư này. Như vậy, tỉ lệ đồng
ư cho con cái quan hệ với người bị động
kinh cao có thể là do chưa hiểu biết ǵ về
động kinh chứ không phải do đă có kiến
thức đúng đắn về loại bệnh lư này.
Về
quan niệm đối với việc làm dành cho người
bị động kinh, trong nghiên cứu này có 57,9% người
cho rằng người động kinh nên có việc làm như
những người khác. Trong khi đó ở Myanmar8, theo
Nwe Nwe Win chỉ có 14% và Chong Tin TAN7 có 42% đồng t́nh
với quan điểm trên. Nghiên cứu của M.D Hill và
H.C Mackenzie là 69%5 .
Với
kết quả trên chúng tôi thấy ở một số nước
châu Âu tỉ lệ người đồng ư để người
bị động kinh làm việc như người b́nh thường
cao hơn ở châu Á. So với các nước trong khu
vực, mặc dù tỉ lệ này của chúng ta cao hơn
Malaysia và Myanma nhưng cũng không thể đơn
giản nói hiểu biết về động kinh của nhân
dân Việt Nam tốt hơn hai nước nêu trên v́ ngay
cả khi không biết ǵ về động kinh th́ cũng
không thể có được ư kiến xác thực
được. Tuy nhiên, một điều đáng chú ư là
trong số những người đồng ư rằng người
bị động kinh nên có việc làm th́ chúng tôi
thấy cũng đă có ư kiến cho rằng nên tạo
những việc làm thích hợp cho người bị
động kinh, đặc biệt tránh những nghề có
tính nguy hiểm khi bệnh nhân lên cơn co giật như
nghề thợ lặn, lái xe tải, lái máy bay hay trèo
cao....Như vậy, mặc dù tỉ lệ biết về
động kinh c̣n chưa cao nhưng ít nhất trong nhóm người
này đă có những kiến thức cơ bản về
loại bệnh này.
Thực
hành (P) của người dân về việc lựa
chọn phương pháp điều trị
Qua
bảng 11 chúng tôi thấy: đa số người dân
trong nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn phương
pháp điều trị đúng là hỏi Bác sỹ và
những người hành nghề y. Sự lựa chọn này
cao hơn cả các nghiên cứu trong khu vực và một vài
nghiên cứu ở châu Âu. Trong nghiên cứu của chúng tôi,
tỉ lệ chọn Y học cổ truyền là phương
pháp điều trị thấp hơn của các tác
giả trong khu vực. Theo chúng tôi phải chăng địa
bàn nghiên cứu của chúng tôi thuộc địa bàn
thủ đô nên quan niệm dùng thuốc tây y đă
trở thành thói quen.
Tuy
tỉ lệ nói phải hỏi Bác sĩ khá cao , nhưng
trên thực tế vẫn c̣n một bộ phận nhỏ
tin vào mê tín dị đoan (5,1%), không biết làm ǵ (2%)
hoặc nghỉ không chữa được (3,4%). Như
vậy, chúng ta thấy, ngay cả những người
chọn phương pháp điều trị đúng th́ cũng
chưa hoàn tin vào phương pháp này. Điều này
một lần nữa cho thấy do chưa có hiểu
biết tốt về động kinh nên thực hành
của người dân trong quần thể nghiên cứu
của chúng tôi chưa hoàn toàn đúng đắn.
Bảng
11. So sánh với các tác giả nước ngoài về
lựa chọn điều trị động kinh.
| Các
thông số
|
Việt
Nam (2003)
|
Malaysia
(2000)
|
Myanmar
(2002)
|
New
Zealand (2002)
|
| Hỏi
Bác sĩ
|
91,7%
|
78%
|
74%
|
60%
|
| Cúng
lễ, cầu chúa
|
5,1%
|
52%
|
46%
|
-
|
| Y
học cổ tuyền
|
8,5%
|
16%
|
27%
|
-
|
| Châm
cứu
|
12,8%
|
8%
|
5%
|
-
|
| Không
chữa được
|
3,4%
|
2%
|
9%
|
-
|
| Không
biết làm ǵ
|
2%
|
5%
|
16%
|
-
|
KẾT
LUẬN
Kiến
thức của quần thể nhân dân xă Nhân Chính- một
cộng đồng dân cư của Hà Nội về động
kinh c̣n chưa đầy đủ, có thể từ đó
đă dẫn đến thái độ và cách xử trí
mỗi khi đứng trước một trường
hợp động kinh c̣n chưa đúng. Cần có
một điều tra trên diện rộng, ở các vùng
đặc trưng văn hoá khác nhau để có thể
đưa ra được phương hướng giáo
dục truyền thông, giúp cho người dân hiểu
biết tốt hơn về động kinh, qua đó nâng
cao được chất lượng quản lư và chăm
sóc người bệnh.
