
THÀNH
LẬP TRUNG TÂM ĐỘT QUỴ TRONG L̉NG BỆNH VIỆN
SẼ LÀM GIẢM TỬ VONG VÀ TÀN PHẾ
(Tin
tức trên internet)
Ư
kiến chưa từng được đề cập trước
kia của các chuyên gia về đột quỵ đăng
trong tạp chí của Hội Nội khoa Hoa Kỳ (JAMA:
Journal of the American Medical Association), phát hành ngày 21 tháng 6 năm
2000.
Vài
nét khái quát:
Tiến
sĩ Bethesda, 1 thành viên thuộc “Liên minh chuyên trách
về đột quỵ quốc gia” (National Stroke Coalition),
hiện nay đă tuyên bố tán thành việc thành lập
các trung tâm đột quỵ (stroke center) hoặc các chương
tŕnh chuyên về đột quỵ khác ở tất
cả các bệnh viện nhằm giảm thiểu tử
vong và tàn phế do đột quỵ gây ra.
Trong
số phát hành ngày 21 tháng 6 năm 2000, JAMA đă dành
phần chủ yếu để nói về các trung tâm
đột quỵ trong ḷng bệnh viện, 1 đề tài
từ trước đến nay chưa từng được
đề cập đến. Tác giả bài viết là các
thành viên thuộc “Liên minh chuyên trách về bệnh năo”
(Brain Attack Coalition), bao gồm một nhóm các giáo sư,
những người t́nh nguyện và các tổ chức chính
phủ. Họ đă hiến kế các phương sách
nhằm góp phần vào việc cải thiện công tác
điều trị và ngăn ngừa đột quỵ.
Tiến
sĩ Mark J.Alberts, chủ biên của tạp chí, đă nói
rằng: “Những đề nghị của chúng tôi th́ cũng
tương tự như những đề nghị đă
được chỉ đạo cho các trung tâm chấn thương
(trauma center) – nhằm thu nhận bệnh nhân vào nơi
thuận lợi mà ở đó có bác sĩ chuyên khoa, có cơ
sở hạ tầng phù hợp để đánh giá và
điều trị bệnh một cách nhanh chóng. Vậy
nếu như đă có thể phối hợp được
những điều kiện thuận lợi cho việc
trị liệu bệnh nhân chấn thương th́ tại
sao chúng ta không làm giống như thế đối
với bệnh nhân đột quỵ”. Tiến sĩ
Albert cũng là chủ tịch của “Liên hiệp
quản lư đột quỵ” (Stroke Belt Consortium) và là
chủ nhiệm “Đơn vị săn sóc đột
quỵ giai đoạn cấp” (Stroke Acute Care Unit) thuộc
“Trung tâm Y khoa Đại học Duke” (Duke University Medical
Center).
Có
nhiều loại thuốc và nhiều phương pháp điều
trị khác làm tan cục huyết khối giúp đẩy
lui các triệu chứng của đột quỵ. Tuy
vậy, nhiều bệnh viện vẫn thiếu nhân
sự và dụng cụ cần thiết để tổ
chức và điều trị theo cách nhanh và hiệu
quả vốn được đ̣i hỏi khi điều
trị bệnh nhân đột quỵ. Điều trị làm
tan cục huyết khối đă thành lập phải
tiến hành trong ṿng 3 giờ đầu kể từ khi
khởi phát triệu chứng th́ mới an toàn và hiệu
quả.
2
mục tiêu chính của trung tâm đột quỵ
được đề cập trong bài viết là: (1)
cải thiện mức săn sóc bệnh nhân đột
quỵ và (2) tiêu chuẩn hóa về một vài phương
diện khi săn sóc bệnh nhân đó trong giai đoạn
cấp. Bài viết cũng tŕnh bày một qui tŕnh các khâu
cần thiết đối với một bệnh viện
để phục vụ cho trung tâm đột quỵ và tŕnh
bày chi phí ước chừng cho các khâu khác (phác họa
trong trang gắn kèm). Trong bài viết, các tác giả bày
tỏ hy vọng rằng sự tiếp thu những đề
nghị này của họ sẽ làm thúc đẩy việc
sử dụng các phương tiện chẩn đoán và
điều trị thích hợp và làm gia giảm những
biến chứng do đột quỵ gây ra.
Tiến
sĩ Michael D.Walker, chủ tịch liên minh và là nguyên giám
đốc chương tŕnh nghiên cứu về đột
quỵ, chấn thương và bệnh lư thoái hóa thần
kinh thuộc “Viện nghiên cứu các rối loạn
thần kinh và đột quỵ quốc gia” (NINDS: National
Institute of Neurological Disorders and Stroke) trực thuộc
“Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia” (National
Institute of Health) đă nói: “Những đề nghị này
là một ví dụ hoàn hảo cho những ǵ mà “Liên minh
chuyên trách về bệnh năo” đă cộng tác với
nhau làm được: phát
triển những cách thức để làm giảm tử
vong và tàn phế do đột quỵ gây ra. Bài viết
của chúng tôi đă tŕnh bày cách thức dành cho các
bệnh viện nhằm cải thiện đáng kể tiên
lượng dành cho bệnh nhân đột quỵ bằng
cách hiến kế cần thiết để làm thế nào
chẩn đoán và điều trị bệnh nhân trong ṿng
3 giờ đầu kể từ khi khởi phát”.
Các
tác giả bài viết xác định 2 dạng trung tâm
đột quỵ được thành lập: (1)Trung tâm
đột quỵ sơ khởi (primary stroke center) nhằm
giúp bệnh nhân đạt được trạng thái
ổn định và dành cho họ một sự săn sóc
tích cực; (2)Trung tâm đột quỵ toàn diện
(comprehensive stroke center) nhằm săn sóc toàn diện cho
hầu hết các trường hợp có biến chứng.
Bài
viết đang được đề cập đặt
trọng tâm chủ yếu vào trung tâm đột quỵ sơ
khởi bởi lẽ hầu hết bệnh nhân là
nhập viện lần đầu và được săn
sóc hầu hết tại trung tâm sơ khởi. Các tác
giả có kế hoạch trong tương lai sẽ viết
một bài đề cập đến trung tâm đột
quỵ toàn diện.
“Liên
minh chuyên trách về bệnh năo” là một nhóm các giáo sư,
người t́nh nguyện và các tổ chức chính
phủ mà sứ mệnh của họ là làm giảm
thiểu sự xuất hiện, tàn phế và tử vong liên
quan đến đột quỵ. Mục tiêu của liên
minh, được sự chỉ đạo của NINDS, là
củng cố và tăng cường mối giao lưu
giữa các tổ chức thành viên. Các thành viên của liên
minh bao gồm: Viện hàn lâm thần kinh học Hoa Kỳ
(American Academy of Neurology), Hiệp hội phẫu thuật viên
thần kinh Hoa Kỳ (American Association of Neurological Surgeons),
Hiệp hội điều dưỡng thần kinh Hoa
Kỳ (American Association Neuroscience Nurses), Hiệp hội đột
quỵ Hoa Kỳ (American Stroke Association) trực thuộc
Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association),
Hội phóng xạ thần kinh Hoa Kỳ (American Society of
Neuroradiology), Hội phẫu thuật viên thần kinh
(Congress of Neurological Surgeons), Viện nghiên cứu các rối
loạn thần kinh và đột quỵ quốc gia (NINDS),
Hiệp hội đột quỵ quốc gia (National Stroke
Association), Liên hiệp quản lư đột quỵ (Stroke
Belt Consortium).
Những
đề nghị cho việc thành lập trung tâm đột
quỵ sơ khởi:
11
phương diện chính trong săn sóc bệnh nhân đột
quỵ giai đoạn cấp dành cho trung tâm đột
quỵ sơ khởi theo đề nghị của “Liên
minh chuyên trách về bệnh năo”:
1.
Đội chuyên trách về đột quỵ trong giai
đoạn cấp: (Acute Stroke Team)
Mỗi
đội chuyên trách về đột quỵ trong giai
đoạn cấp nên bao gồm tối thiểu 2 người:
1 nhân viên y tế có kinh nghiệm trong chẩn đoán và
điều trị bệnh mạch máu năo và 1 nhân viên
phục vụ chăm sóc sức khỏe khác. Đội
hoạt động cơ bản là ở bệnh viện và
nên tổ chức hoạt động theo nguyên tắc xoay
ṿng (around-the-clock) liên tục 7 ngày trong tuần, nhiệm
vụ là đánh giá trong ṿng 15 phút tất cả bệnh
nhân nghi ngờ bị đột quỵ.
2.
Qui tŕnh săn sóc được viết sẵn: (Written
Care Protocol)
Các
bệnh viện nên có những qui tŕnh đă được
viết sẵn để thống nhất phương
thức và thúc đẩy công tác chẩn đoán và điều
trị bệnh nhân đột quỵ. Vệc thiết
lập sẵn qui tŕnh săn sóc như vậy là bước
mấu chốt (key) để rút ngắn thời gian điều
trị cũng như làm giảm biến chứng do điều
trị gây ra.
3.
Bộ phận y tế khẩn cấp: (EMS: Emergency Medical
Service)
EMS
có vai tṛ quan trọng trong việc vận chuyển nhanh và
cứu sống bệnh nhân đột quỵ. Sự
hợp tác tốt đẹp giữa bệnh viện và EMS
là nền tảng trong hoạt động của một
trung tâm đột quỵ sơ khởi. Cơ sở
của một hệ thống vận hành tốt thường
là sự hợp tác có hiệu quả giữa các nhân viên
thuộc EMS với trung tâm đột quỵ trong suốt
quá tŕnh vận chuyển bệnh nhân đột quỵ.
4.
Khoa cấp cứu: (Emergency Department)
Nhân
viên khoa cấp cứu nên có kiến thức về
chẩn đoán, điều trị đột quỵ và nên
có một hệ thống mối quan hệ tốt với
cả EMS lẫn đội chuyên trách về đột
quỵ trong giai đoạn cấp.
5.
Đơn vị đột quỵ: (Stroke Unit)
Một
trung tâm đột quỵ sơ khởi khi được
kỳ vọng đảm nhiệm thêm chức năng
săn sóc bệnh nhân sau giai đoạn đe dọa
tính mạng ban đầu th́ nên có sự hỗ trợ
bởi đơn vị đột quỵ, ở đó
bệnh nhân có thể được theo dơi và được
săn sóc chuyên khoa. Một số bệnh viện có
thể chọn ra những bệnh nhân đă ổn định
và chuyển họ đến khoa khác có điều
kiện chăm sóc thích hợp.
6.
Chỉ định phẫu thuật thần kinh: (Neurosurgical
Service)
Trung
tâm đột quỵ sơ khởi nên có khả năng
thiết lập được chỉ định phẫu
thuật thần kinh cho bệnh nhân đột quỵ trong
ṿng 2 giờ khi cảm thấy điều đó là
cần thiết.
7.
Tổ chức hỗ trợ về y tế: (Support of Medical
Organization)
Các
khoa khác trong bệnh viện có điều kiện phù
hợp và cán bộ nhân viên trong khoa của họ, kể
cả ban chủ nhiệm khoa, nên cộng tác với trung tâm
đột quỵ sơ khởi. Sự cộng tác trên tinh
thần hiểu biết lẫn nhau như thế đảm
bảo mang đến cho bệnh nhân đột quỵ
một sự chăm sóc hiệu quả và có chất lượng
cao.
8.
H́nh ảnh học thần kinh: (Neuroimaging)
Khả
năng thực hiện được các xét nghiệm h́nh
ảnh học năo cho bệnh nhân đột quỵ trong
giai đoạn cấp là tối cần thiết đối
với bác sĩ lâm sàng để chẩn đoán nhanh và
chính xác các trường hợp đột quỵ. CT scan
nằm trong số các xét nghiệm đó. Một trung tâm
đột quỵ sơ khởi phải có khả năng
thực hiện được xét nghiệm h́nh ảnh
học trong ṿng 25 phút kể từ khi có chỉ định
của bác sĩ lâm sàng. Kết quả xét nghiệm nên
được đánh giá trong ṿng 20 phút bởi bác sĩ
lâm sàng.
9.
Xét nghiệm cận lâm sàng: (Laboratory Services)
Các
xét nghiệm cận lâm sàng thường qui nên được
thực hiện xoay ṿng 7 ngày trong tuần tại trung tâm
đột quỵ sơ khởi. Các xét nghiệm này bao
gồm đếm tế bào máu, sinh hóa máu, chức năng
đông máu được thực hiện một cách nhanh
chóng. Một trung tâm đột quỵ sơ khởi cũng
nên có khả năng làm nhanh ECG và X-quang ngực.
10.
Cải tiến công tác và hiệu quả điều
trị: (Outcome/Quality Improvement)
Trung
tâm đột quỵ sơ khởi nên có cơ sở
dữ liệu bằng máy vi tính hoặc có sổ ghi chép
để lưu lại số lượng và loại đột
quỵ mà ḿnh đă thu nhận, các phương pháp mà ḿnh
đă điều trị, thời điểm tiến hành
điều trị đúng lúc và một vài cơ sở lượng
giá về tiên lượng của bệnh nhân.
11.
Các chương tŕnh giáo dục: (Educational Programs)
Nhân
viên chuyên nghiệp thuộc trung tâm đột quỵ sơ
khởi nên dành ra ít nhất 8 giờ mỗi năm cho
việc củng cố kiến thức từ chứng
chỉ giáo dục y khoa. Bên cạnh chương tŕnh giáo
dục dành cho các nhân viên chuyên nghiệp, trung tâm đột
quỵ sơ khởi nên lập ra kế hoạch và
tiến hành thực hiện ít nhất là 2 chương tŕnh
hàng năm để giáo dục cho cộng đồng
về việc ngăn ngừa, chẩn đoán và sẵn sàng
xử trí cấp cứu bệnh nhân đột quỵ.
