
NGUY
CƠ ĐỘT QUỴ VÀ PH̉NG CHỐNG
TS
Nguyễn Hữu Công, Trưởng khoa Nội Thần Kinh
(A7), Bệnh viện 175
Đột
quỵ là t́nh trạng đột ngột bị tổn thương
năo do căn nguyên mạch máu, c̣n gọi là tai biến
mạch máu năo. Thường đột quỵ là do
tắc nghẽn một mạch máu trong sọ, gây chết
một phần của năo, hoặc do vỡ mạch máu
trong sọ. Người bệnh đang b́nh thường
khoẻ mạnh, đột nhiên bị liệt nửa người,
hoặc tê dại nửa người, hoặc đột
ngột mất trí nhớ hoặc mất khả năng nói
và hiểu lời nói… T́nh trạng nặng, th́ bệnh
nhân đột ngột bị mê man bất tỉnh, có
thể tử vong. Đột quỵ là nguyên nhân tử
vong thứ ba, sau bệnh nhồi máu cơ tim và ung thư,
nhưng là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu trong các
loại bệnh. Do vậy cần đề pḥng đột
quỵ ngay khi c̣n đang cảm thấy trong người
khoẻ mạnh. Vậy trên một người có dáng
bề ngoài b́nh thường, làm sao biết được
có nguy cơ bị đột quỵ trong tương lai. Các
chuyên gia về đột quỵ nêu lên những yếu
tố nguy cơ sau đây: cao huyết áp, bệnh mạch
vành, rung nhĩ, bệnh tiểu đường, rối
loạn mỡ máu, hút thuốc lá, và hẹp động
mạch cảnh.
1.
Cao huyết áp: Có 2 số huyết áp, là huyết áp
tối đa hay huyết áp tâm thu (lúc tim co bóp và mạch
nẩy), và huyết áp tối thiểu hay huyết áp tâm
trương (lúc tim giăn ra và mạch ch́m xuống). Nếu
huyết áp tối đa trên mức 140 mm thủy ngân và
tối thiểu trên 90 mm thủy ngân (ta hay nói vắn
tắt là 140 trên 90, hay 14 trên 9), th́ coi là cao huyết áp.
Mức độ nguy cơ gây đột quỵ: mức
độ cao. Do vậy với người trên 40 tuổi,
mỗi lần đi khám tổng quát đều nên yêu
cầu được đo huyết áp, và nếu không có
cao huyết áp, th́ hàng năm cũng nên đo lại ít
nhất 1 lần. Nếu có cao huyết áp, th́ dự pḥng
đột quỵ bằng cách uống thuốc hạ
huyết áp theo hướng dẫn của bác sỹ, nên có
máy đo huyết áp trong nhà để tự kiểm tra thường
xuyên. Nhiều người Việt Nam, nhất là vùng quê,
có thói quen tai hại là chỉ uống thuốc khi cảm
thấy khó chịu, nếu trong người thấy
khoẻ mạnh là tự ư bỏ thuốc không uống
nữa. Nên nhớ bệnh cao huyết áp là bệnh
suốt đời, phải uống thuốc hàng ngày,
muốn bỏ thuốc phải đo huyết áp cẩn
thận và xin ư kiến bác sỹ. Có nhiều người
huyết áp rất cao nhưng trong người cảm
thấy b́nh thường, cơn đột quỵ xảy
ra giống như sét đánh giữa lúc trời quang mây
tạnh, là do ḿnh chủ quan không theo dơi và dự pḥng
từ trước. Nghiên cứu trên thế giới
thấy: nếu giảm huyết áp tối thiểu
thấp xuống 5-6 mm thủy ngân, là giảm nguy cơ
đột quỵ được 40%.
2.
Bệnh mạch vành: mạch vành là mạch máu nuôi tim, khi
bị bệnh mạch vành có thể thấy đau
ngực, ngợp thở khi gắng sức hay leo thang gác.
Nặng nhất là nhồi máu cơ tim do mạch vành
bị tắc. Trong ṿng 1 tháng sau khi bị nhồi máu cơ
tim, nguy cơ đột quỵ là trên 30%. Sau đó, nguy cơ
bị là 1-2% trong 1 năm. Sau khi bị nhồi máu cơ
tim, nên dùng Aspirin đều đặn, vừa dự pḥng
được tái phát nhồi máu cơ tim, vừa dự
pḥng được đột quỵ. Nếu dùng Aspirin
đều đặn, nguy cơ đột quỵ trong 1 năm
giảm xuống dưới 0,5%.
3.
Rung nhĩ : cũng gây nguy cơ đột quỵ ở
mức độ trung b́nh, v́ rung nhĩ tạo điều
kiện h́nh thành cục máu đông trong buồng tim,
cục máu này vỡ ra mảnh nhỏ phóng lên năo, gây
tắc mạch năo. Nếu người già trên 75 tuổi nên
dùng thuốc chống đông theo chỉ định
của bác sỹ tim mạch, nếu dưới tuổi
đó th́ dùng Aspirin đều đặn để dự
pḥng đột quỵ.
4.
Tiểu đường: nguy cơ đột quỵ ở
mức độ thấp, nhưng tiểu đường
cùng có với cao huyết áp, th́ tăng nguy cơ đột
quỵ. Điều trị tiểu đường làm
giảm nguy cơ bị đột quỵ. Để phát
hiện sớm bệnh tiểu đường, mỗi năm
nên kiểm tra đường máu 1 lần, nhất là
những người trên 40 tuổi. Nếu có bệnh
tiểu đường, th́ khám và dùng thuốc theo bác
sỹ chuyên khoa nội tiết hoặc nội tổng quát.
5.
Hẹp động mạch cảnh: cũng là nguy cơ gây
đột quỵ. Người ta khuyên mổ chữa
hẹp động mạch cảnh nếu hẹp trên 60%, dù
hẹp đó chưa gây tai hại trước mắt nào.
6.
Tăng mỡ máu: Mỡ máu
gồm nhiều chất và phải xét nghiệm máu rồi
so với chuẩn của người b́nh thường, th́
mới kết luận có mỡ máu cao hay không. Nguy cơ
bị đột quỵ sẽ tăng cao nếu tăng
mỡ máu cùng lúc với bệnh mạch vành. Người
ta khuyên là nếu đă từng bị nhồi máu cơ
tim, mà Cholesterol máu không cao lắm, dưới mức 240
mg%, th́ nên dùng Pravastatin. Nếu Cholesterol cao hơn mức
đó th́ nên dùng Simvastatin (Zocor).
7.
Hút thuốc lá: gây tăng huyết áp và tăng nguy cơ
đột quỵ. Hăy ngừng hút thuốc lá càng sớm
càng tốt. Sau khi ngưng hút thuốc lá, trong ṿng 2 đến
5 năm, nguy cơ bị đột quỵ sẽ giảm
dần xuống tương đương như người
chưa từng hút thuốc lá bao giờ.
8.
Uống bia rượu: Có 2 kiểu uống rượu bia:
uống lượng nhỏ đều đặn hàng ngày,
và nốc rượu bia kiểu "dzô" hay
"100%". Hai kiểu uống có tác dụng lên nguy cơ
đột quỵ ngược nhau. Uống đều
dặn mỗi ngày một lượng nhỏ sẽ có tác
dụng tốt trên Cholesterol, lên tiểu cầu và lên
Fibrinogen, là những yếu tố có liên quan tới nguy cơ
đột quỵ. Do vậy uống rượu với lượng
nhỏ và đều đặn hàng ngày làm giảm nguy cơ
bị đột quỵ. Nhưng ngược lại,
nếu uống rượu bia với lượng nhiều,
sẽ có tác dụng rất xấu, uống càng nhiều càng
có nguy cơ đột quỵ cao. Các bác sỹ khuyên
những người vốn không ưa rượu th́
đừng tập thói quen uống rượu, c̣n
những người đang uống rượu lượng
nhỏ hàng ngày th́ có thể cứ uống tiếp
tục, miễn là không có vấn đề khác. Ví dụ
nếu có bệnh gan,
thận mạn tính th́ phải bỏ uống, không thể
viện cớ uống rượu bia để pḥng
ngừa đột quỵ.
9.
Tập thể dục: nên tập thể dục ở
mức độ trung b́nh, ví dụ đi bộ. Nên đi
bộ nhanh trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần và mỗi
tuần ít nhất 5 ngày tập đi bộ.
10.
Ăn mặn và ăn nhiều mỡ: cũng làm tăng nguy cơ
đột quỵ. Cần giảm lượng mắm
muối trong thức ăn, tránh ăn mỡ heo, mỡ ḅ.
Nên ăn nhiều trái cây và rau.
Tóm
lại để tránh bị đột quỵ trong tương
lai, cần có cuộc sống hoạt động không ́
trệ, ăn uống đúng cách, không uống nhiều rượu
và không hút thuốc lá. Với những người trên 40
tuổi, nên định kỳ kiểm tra huyết áp,
mỡ máu và đường trong máu, ít nhất cũng nên
1 lần mỗi năm. Nếu kiểm tra định
kỳ phát hiện có vấn đề, th́ cần dùng
thuốc nghiêm chỉnh theo chỉ định của bác
sỹ chuyên khoa.
Các
số liệu nêu trong bài báo này được dẫn
từ số liệu của Hội đột quỵ
quốc gia - National Stroke Association, Hoa kỳ.
Tháng
4 năm 2001
Từ
khóa: du phong dot quy , dot qui
, cao huyet ap , hep dong mach .
