|
|
ASPIRIN TRONG PH̉NG
NGỪA ĐỘT QUỴ TIÊN PHÁT VÀ CÁC BIẾN CỐ
MẠCH MÁU LỚN - NHỮNG SIÊU PHÂN TÍCH VÀ GIẢ
THUYẾT (tiếp theo)
Roberg G. Hart, Jonathn L.Halperin, Ruth
McBirde, Oscar Benavrnte, Malcolm Man-Son-Hing, Richard A, Keonmal: Aspirin for
the Primary prevention of stroke and other major vascular events. Arch
Neurol./vol.57, Mar 2000, p:326-331. Người dịch: BS Bạch
Thanh Thủy BÀN LUẬN
Phân tích tổng quát 5 TNLS NN gồm
hơn 50.000 người tham gia điều trị thử
aspirin để PNTP thấy rằng không có hiệu quả
toàn diện trên ĐQ, một kết quả không phù
hợp với tác dụng rơ rệt của aspirin làm
giảm 25% ĐQ ở những người có bệnh
mạch máu. Nếu như tác dụng của aspirin phụ
thuộc vào sự hiện diện của bệnh mạch
máu biểu hiện trên lâm sàng, th́ sau đó có thể
tồn tại hợp lư một nhóm bệnh nhân trung gian:
nhóm này có yếu tố nguy cơ mạch máu nhưng không
biểu hiện bệnh. Trong khi những số liệu có
giá trị có thể bị bác bỏ bởi sự khác
biệt trong liều aspirin và sự phân chia giới tính, chúng
cũng ủng hộ giả thuyết rằng ở
những người có yếu tố nguy cơ mạch máu,
hiệu quả của aspirin trên ĐQ có thể trung gian
giữa những người có bệnh mạch máu và
những người không có bệnh mạch máu và cũng
không có yếu tố nguy cơ bệnh mạch máu (tranh 2) Trong 4 nghiên cứu quan sát, việc
sử dụng thường xuyên aspirin kết hợp
với tăng nguy cơ ĐQ ở cả đàn ông và
đàn bà là đáng chú ư. Dùng aspirin trong những nghiên
cứu này là tự chọn rộng răi và có thể
bị nhầm lẫn do sự phân bố không đều
của những người tham gia bị ĐQ khác mà không
thể loại trừ, thậm chí sau khi đă điều
chỉnh về mặt thống kê cho những khác biệt
đă được ghi nhận này. Xem xét bối cảnh
của những so sánh NN, dường như những nghiên
cứu quan sát này làm tăng giả thuyết về sự
kết hợp giữa liều cao aspirin dùng để
giảm đau và ĐQ ở người lớn tuổi và
những phụ nữ không có biểu hiện bệnh
mạch máu, điều này đă không thể hiện
đúng mức trong các TNLS NN cho đến ngày nay. Đáng chú ư rằng không có
sự giảm nhồi máu năo như mong đợi trong
những TNLS NN PNTP. Bên cạnh ức chế thromboxan
tiểu cầu là nền tảng cho tác dụng chống
huyết khối của aspirin, có thể có các tác dụng
cạnh tranh khác của aspirin. Đă có thông báo về
việc điều trị aspirin làm tăng huyết áp (đặc
biệt nếu huyết áp đo khi bệnh nhân nằm
ngửa) và hiệu quả đối kháng với một vài
loại thuốc hạ áp khác. Cao huyết áp là một
yếu tố rất nguy hiểm phổ biến cho cả
nhồi máu năo và xuất huyết năo. Tác dụng về
đông máu của aspirin có thể liên quan với việc
ức chế tổng hợp prostacyclin nội mạch đă
được thực nghiệm chứng minh, đặc
biệt với liều cao. Trong những bệnh nhân không có
triệu chứng bệnh vữa xơ mạch, sự
ức chế tổng hợp prostacyclin có thể đưa
đến huyết khối (the aspirin dilemma), nhưng
mối quan hệ lâm sàng của tác dụng này trong điều
trị aspirin th́ chưa được biết. Điều trị aspirin làm
giảm 25% NMCT và xu hướng chắc chắn giảm
tất cả các nguyên nhân tử vong, có cần thiết
sử dụng aspirin thường xuyên cho những người
lớn tuổi khoẻ mạnh không? Trong số những người
lớn tuổi khoẻ mạnh (không ghi nhận bệnh
mạch máu), tần suất ĐQ bằng hoặc lớn hơn
NMCT, với những người trẻ hơn th́ ngược
lại. Rơ ràng rằng điều trị aspirin làm tăng
chảy máu ngoài sọ nghiêm trọng với RR (relative risk)
trung b́nh bằng 1,5 trong những TNLS dùng liều giữa
75mg/ngày và 325mg/cách ngày. Tỷ lệ xuất huyết ngoài
sọ nghiêm trọng ở những bệnh nhân dùng
giả dược thay đổi giữa các TNLS PNTP ở
những người trung tuổi (0,15%-0,5%/năm) một
phần do các tiêu chuẩn khác nhau. Nguy cơ xuất
huyết ngoài sọ nghiêm trọng khi dùng aspirin có thể
liên quan với tuổi. Ở những người không
biểu hiện bệnh mạch máu, phân tích lợi
hại của việc điều trị aspirin rất
phức tạp và cần phải cân nhắc kỹ
giữa một bên là giảm NMCT và một bên là tăng
nhẹ chảy máu trong và ngoài sọ. Theo chúng tôi, tác
dụng của việc thường xuyên sử dụng
aspirin trong PNTP các biến cố mạch máu
ở người lớn tuổi khoẻ mạnh đă không
được đánh giá đầy đủ để
cho phép giới thiệu dùng rộng răi. Các tư
liệu có giá trị rơ ràng ủng hộ việc dùng
aspirin ở người trung tuổi đặc biệt
với nguy cơ NMCT. Những tiêu chuẩn riêng và kinh
nghiệm có ư nghĩa quan trọng trong việc cân nhắc
lợi hại. Một số giới hạn
của những phân tích này có thể bàn luận. Một
phần những người tham gia trong 5 TN PNTP được
ghi nhận có bệnh mạch máu (bảng 1) và người
ta không rơ họ đă ảnh hưởng tới đánh
giá của chúng ta về hiệu quả của điều
trị aspirin trong những người không có bệnh
mạch máu như thế nào. Đánh giá tầm quan
trọng của yếu tố nguy cơ mạch máu đă
bị nhầm lẫn do sự phân biệt dựa trên
liều aspirin và giới tính; điều này chỉ có
thể loại trừ được khi có kết quả
của Trung tâm nghiên cứu sức khoẻ phụ nữ.
Những hạn chế khác thường là những
hạn chế thông thường đối với các siêu
phân tích: Kết quả tổng quát của một số
nghiên cứu có ư nghĩa thống kê khi tất cả các
TNLS riêng biệt đều có ư nghĩa thống kê
chắc chắn; khi ngược lại, ta nên xem xét sự
phát sinh giả thuyết và bằng chứng không chắc
chắn. Chúng tôi đă cố gắng t́m tất cả
những TNLS thích hợp, mặc dù vậy không chắc
chắn là đă không bỏ sót các TNLS lớn, việc
bỏ sót có thể làm thống kê sai lệch. KẾT LUẬN Hiệu quả của aspirin với ĐQ có thể khác nhau dựa trên việc có hoặc không có bệnh vữa xơ mạch máu. Hiệu quả của việc sử dụng thường xuyên aspirin để PNTP các biến cố mạch máu ở người lớn tuổi th́ø chưa được hiểu biết hết v́ các TNLS NN gồm phần lớn những người trung niên, mà những người này th́ thường dễ bị NMCT hơn là bị ĐQ. Sử dụng aspirin lâu dài làm tăng nhẹ tỉ lệ xuất huyết năo (khoảng 1/2000 người dùng aspirin/năm ở người lớn tuổi). V́ tác dụng làm giảm NMCTû chắc chắn với giới hạn liều rộng nên aspirin trong PNTP có thể cần thiết nhất cho những người trung niên,những người có nguy cơ đặc biệt với NMCT (thí dụ những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường). Những tài liệu mới đây thường ưa dùng liều aspirin thấp (75-81mg/ngày) cho PNTP. Tác dụng của aspirin trên ĐQ là rất phức tạp, khác nhau ở những nhóm bệnh nhân khác nhau, và những hiểu biết về cơ chế khác biệt này có thể cho phép sử dụng tinh tế hơn thứ thuốc được dùng rộng răi nhất này.
TÁC DỤNG CỦA ASPIRIN VẪN KHÓ
ĐÁNH GIÁ TRONG PH̉NG NGỪA ĐQ TIÊN PHÁT
(Bài của ban biên tập) HJM Barnett, Michael Eliasziw: Aspirin
benefit remains elusive in primary stroke prevention. Arch Neurol./vol.57, May
2000, p:306-308. Người dịch: BS Bạch
Thanh Thủy Dường như những câu
hỏi đơn giản về aspirin vẫn chưa có câu
trả lời mặc dù các nhà lâm sàng đă nghiên
cứu trong nhiều thập niên. Chẳng bao lâu nữa, 35
năm sẽ trôi qua từ khi những tính chất ức
chế tiểu cầu của aspirin được thông báo,
25 năm từ khi thử nghiệm pḥng ngừa bệnh
thứ phát đầu tiên, và 10 năm từ khi những
thông báo bất lợi về PNTP của aspirin được
thông báo. Hàng ngh́n bệnh nhân đă được
chọn NN trong các nghiên cứu pḥng ngừa ĐQ tiên phát
và thứ phát, nhưng câu hỏi quan trọng vẫn c̣n
tồn tại. Trong số phát hành này của
tạp chí Archivers, Hart và CS đă đóng góp đầu tiên
bằng một siêu phân tích các thử nghiệm dùng aspirin
cho những người không triệu chứng, 2 TN gồm
những người không có bệnh mạch máu được
biết, 3 TN gồm những người có nguy cơ cao. Kết luận: Aspirin không có
hiệu quả PNTP ở nam giới không có triệu
chứng hoặc nguy cơ bệnh mạch máu cao, và có
hiệu quả ở những người không triệu
chứng nhưng có nguy cơ cao hơn và có khả năng
pḥng ngừa ĐQ thứ phát. Những kết luận này
thật đáng khích lệ. Các cách điều trị khác
cũng đă mang lại những ích lợi to lớn hơn
cho những người có nguy cơ cao nhất. Ví dụ,
ở Bắc Mỹ và Châu Âu người ta đă thử
nghiệm cắt bỏ lớp áo trong động mạch
ở những người có nguy cơ cao nhất và
thấy có tác dụng nhất ở nhóm người này. Phải chăng số liệu đă
được Hart và CS xem xét và những kết luận
đă bác bỏ việc coi aspirin như là một công
cụ pḥng ngừa ĐQ tiên phát? Liệu có phải
aspirin với liều bất kỳ sẽ pḥng ngừa
được ĐQ ở những người khoẻ
mạnh bất kỳ không? Trong những thập niên khi mà
cả hai giới có nhiều khả năng bị ĐQ
nhất, người ta không thấy bằng chứng
về ích lợi của aspirin cho những người không
có bệnh mạch máu. Chỉ trong những TN NN lớn
aspirn được so sánh với giả dược,
ở Hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy
thuốc, tuổi trung b́nh của những người tham
gia là 53. Tất cả là đàn ông, ở thập niên mà
họ thường bị NMCT, chứ không phải dễ
bị ĐQ nhất. Trong những nghiên cứu khác
tuổi trung b́nh được xem xét vẫn chỉ là 57.
Những bằng chứng có sức thuyết phục
về tác dụng bất lợi của aspirin th́ không liên
quan với lỗi thuộc về thống kê, cần có
một thử nghiệm trực tiếp ở cả nam và
nữ (nữ nhiều hơn nam 10 năm hoặc thậm chí
hơn 15 năm). Sự hiểu biết về ĐQ
mà không để ư đến nguyên nhân của nó đă
thúc đẩy sự quan tâm trong những TN điều
trị. Người ta có thể phân biệt ĐQ động
mạch lớn, động mạch nhỏ (lỗ
khuyết) hoặc ĐQ do những nguyên nhân từ tim. Các
tác nhân chống đông máu th́ hiệu quả với
ĐQ không giống nhau. Aspirin đă chứng tỏ
được khả năng pḥng ngừa nhồi máu năo
và ít có khả năng pḥng ngừa ĐQ do nghẽn
mạch từ tim. Sự phê phán hướng về tác
dụng bất lợi của aspirin do Trung tâm thử
nghiệm ĐQ quốc tế bởi v́ ĐQ đă không
được phân loại theo nguyên nhân. Tác dụng có
lợi của điều trị chống đông có
thể đă được nhận rơ nếu trong TN này
đột quị được phân loại theo nguyên nhân.
Hiệu quả của aspirin với ĐQ nguồn gốc
từ tim có thể đă đưa đến một phát
hiện riêng biệt. Một nghiên cứu hồi cứu
cho thấy trong 216 thầy thuốc nam bị ĐQ trong TN
của Hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy
thuốc, đă có 181 người bị ĐQ không
phải do xuất huyết: 63 (43%) do cục nghẽn, 49
(17%) là do huyết khối động mạch lớn, 58 người
không thể phân biệt rơ là nhồi máu hay xuất
huyết. 9 người đă không được biết
(unknoun). 49 người ĐQ là quá ít để kiểm tra
hiệu quả của điều trị aspirin. Trong thử nghiệm của
hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy
thuốc gồm những người đàn ông trẻ hơn
(tuổi trung b́nh là 53), trong số 11034 người dùng
giả dược có 98 người (0,9%) bị ĐQ. So sánh
với thử nghiệm của những thầy thuốc
nam người Anh (tuổi trung b́nh là 61), trong số 1710 người
không dùng aspirin có 39 người (2,3%) bị ĐQ. Trong
thử nghiệm Anh, cả hai loại ĐQ là111 người,
chỉ có 28 người bị ĐQ thiếu máu năo, 83 người
không được xác định rơ nguyên nhân. Kết
luận về điều trị là rất khó khi mà nguyên
nhân ĐQ không dược định rơ. Aspirin có thể không hoạt động
như nhau trên tất cả các giường động
mạch đối với chứng nghẽn mạch do
huyết khối. Tuyên bố rằng "huyết khối
là huyết khối trong giường mạch máu bất
kỳ" là một giả thuyết trong siêu phân tích
của Hiệp Hội Những Nhà Thử Nghiệm
Thuốc Ức Chế Tiểu Cầu (Antiplatelet Trialists’
collaboration). Những giả thuyết như vậy đă
được làm trong thử nghiệm mới đây
với yếu tố ức chế tiểu cầu
clopidogrel. Các bệnh nhân với triệu chứng ở 3 cơ
quan đích đă được phân biệt rơ ràng: tác
dụng bất lợi trong 6302 bệnh nhân tuổi trung b́nh
58 tham gia sau khi bị NMCT, không có hiệu quả rơ rệt
trong 6431 bệnh nhân tuổi trung b́nh 65 tham gia sau khi bị
nhồi máu năo, hiệu quả rơ rệt trên 6462 bệnh
nhân tuổi trung b́nh 64 với bệnh thứ yếu.
Hiệu quả khác biệt đă được nhận
thấy trong TN của hiệp hội nghiên cứu sức
khoẻ thầy thuốc: tác dụng 42% trong NMCT, không tác
dụng trong ĐQ. Tất cả 3 nhóm có nguy cơ cao trong
bài báo của Hart và CS, mà trong đó liều aspirin hàng ngày
là 75mg,75mg và 650mg đă được xem xét thực
nghiệm làm giảm NMCT, nhưng không làm giảm ĐQ.
Giả thuyết về sự b́nh đẳng đối
với các giường mạch máu trở nên khó
được tin tưởng. Liều tối đa aspirin trong
cả hai PNTP và thứ phát đă là chủ đề
để tranh luận. Ở mức độ nhất
định, số phát hành này đă thống nhất là
liều thấp. Bài báo của Hart và CS đă giới
thiệu liều aspirin 81mg/ngày cho PNTP các biến cố
mạch máu, pḥng ngừa các biến cố khác khác
liều c̣n chưa rơ ràng. Sự tranh luận làm tăng
hiểu biết v́ hai lư do. Thứ nhất, đă có
mối liên quan với dung nạp dạ dày ruột ở
liều cao, thứ hai, các nhà nghiên cứu trong thử
nghiệm kháng đông đă không thiết kế những
nghiên cứu trong tương lai để cho thấy
hiệu quả ức chế tự phát của aspirin trên
men cyclooxygenase trong tiểu cầu và trên tế bào nội
mạch: hoạt động đông máu bị ức
chế bởi tác dụng ức chế tự phát của
aspirin trên men cyclooxygenase trong tiểu cầu và hoạt
động kháng đông bị ức chế bởi tác
dụng ức chế tự phát của aspirin trên tế bào
nội mạch. Liều aspirin trong những TN sớm này
được giới hạn từ 900-1300mg/tuần,
liều cao hơn gây huyết khối thực nghiệm,
giả thuyết rằng huyết khối có thể
xuất hiện ở những người dùng liều
1300mg, một số thử nghiệm sử dụng liều
thấp trong những bệnh nhân đe dọa NMCT và ĐQ.
Hiệu quả rơ rệt nhất
của aspirin xuất hiện ở những bệnh nhân
nguy cơ cao với đau ngực không ổn định.
Liều 81-1300mg/ngày dă được chứng minh có
hiệu quả như nhau trong pḥng ngừa NMCT. Hiệu
quả bị giới hạn bởi nguy cơ: trong nghiên
cứu của Anh, nhóm dùng giả duợc nguy cơ ĐQ hàng
năm chỉ bằng một nửa ở nhóm thử
nghiệm dùng liều aspirin lớn hơn (1200). Liều
được so sánh với giả dược là 300mg
hoặc 1200mg, không có sự khác biệt quan trọng
giữa các liều, và nhóm dùng giả dược th́ ít tác
dụng. Các siêu phân tích đă được
sử dụng để cố gắng t́m kiếm hiệu
quả pḥng ngừa ĐQ , và cũng thay thế cho
bằng chứng trực tiếp về liều tối
đa. Các siêu phân tích cũng đă khẳng định tác
dụng của các yếu tố ức chế tiểu
cầu trong bệnh mạch máu. Điều này cũng
thấy từ những TN lớn không phân biệt nguyên nhân
của ĐQ. Cả hai phương pháp đều có
thể che lấp thông tin của các bệnh nhân nhóm
phụ đặc biệt. Một thông báo mới đây
gồm những siêu phân tích của 14 thử nghiệm
đă xác định rằng calcium pḥng ngừa chứng
co giật. Một thử nghiệm lớn kế tiếp
giới hạn ở những người phụ nữ
khoẻ mạnh không dùng calcium. Các siêu phân tích được
phân chia theo nguy cơ, hiệu quả đă được
t́m thấy trong các nhóm có nguy cơ cao chứ không
phải trong nhóm nguy cơ thấp. Bàn luận khuyến cáo
về sự lạm dụng của các siêu phân tích đă
xuất hiện trong số mới đây của những
tạp chí quan trọng. Bị phê phán bởi tạp chí
Lancet, "các siêu phân tích không thể luôn luôn đúng,
kết luận lâm sàng của nó cũng không thể vượt
quá thiết kế thử nghiệm đầu tiên". Chúng
tôi lo lắng về liều thuốc được
đưa ra bởi mỗi một siêu phân tích hoặc
bởi các thử nghiệm lớn với những kết
qủa tác động rộng lớn. Bị ảnh hưởng bởi
kết quả từ các nghiên cứu tim mạch, bởi
sự hiểu biết trọn vẹn về sự ức
chế kết tập tiểu cầu với liều
nhỏ đơn độc và với sự tham gia của
những biến chứng có liên quan với liều lượng,
những thử nghiệm mới đây phần lớn dùng
liều nhỏ. Thử nghiệm của Hiệp hội nhiên
cứu sức khoẻ thầy thuốc đă sử
dụng liều 325mg cách ngày và hiệp hội nghiên
cứu sức khoẻ phụ nữ đă dùng 100mg cách ngày
so sánh với giả dược. V́ tỉ lệ bệnh
tim mạch ở đàn bà thấp hơn đàn ông
rất nhiều, 40.000 nữ điều dưỡng sau măn
kinh đă đang được t́m kiếm. Những người
phụ nữ bị ĐQ hoặc NMCT thường sau
những người đàn ông cùng lứa tuổi 10 năm.
Nếu như trong những TN này, aspirin không có hiệu
quả trong pḥng ngừa ĐQ, câu hỏi về tuổi,
liều và sự không chắc chắn về nguyên nhân
ĐQ có thể thừa nhận như là một bằng
chứng rằng ĐQ không thể ngăn chặn
được ở những người phụ nữ không
triệu chứng trong những thập niên mà họ có nguy
cơ cao nhất. Aspirin đă trở thành đối
lập chuẩn cho việc đánh giá các tác nhân ức
chế tiểu cầu pḥng ngừa ĐQ mới mà không có
liều tối đa được tán thành. Ví dụ,
trong kiểm tra hiệu quả của ticlopidine hydrocloride,
1300mg aspirin đă được dùng, với clopidogrel người
ta sử dụng 325mg aspirin . Có thể có liều tối ưu
chuẩn bằng cách so sánh trực tiếp từ thử
nghiệm t́m kiếm tác dụng kết hợp bằng cách
thêm dipyridamole vào điều trị aspirin. 3 thử
nghiệm mới đây gồm 1774 bệnh nhân toàn bộ
900 tới 1300mg cho thấy không có tác dụng kết
hợp. Thử nghiệm gần đây nhất với 6602
bệnh nhân nhưng với liều aspirin bằng 1/20
của 3 TN trên, hiệu quả của sự kết
hợp được khẳng định. Cơ hội
kiểm tra tác dụng của hai liều aspirin đă không
được quan tâm. Thay vào đó một liều không
bao giờ cho thấy có hiệu quả so sánh với
giả dược trong pḥng ngừa ĐQ (25mg hai lần
mỗi ngày) đă được dùng. Thử nghiệm
lớn này kết hợp cùng với Hiệp Hội
Thử Nghiệm Pḥng Ngừa cơn thiếu Máu Năo
Thoảng Qua Liên Hiệp Anh đưa ra số lượng
người tham gia lớn nhất trong những siêu phân tích
mà nó cho phép Trung tâm quản lư thuốc và lương
thực được quyền sản xuất để
khẳng định rằng điều trị aspirin
liều thấp sẽ pḥng ngừa ĐQ. Những nhà quan
sát khác th́ hoài nghi hơn. Dyken đă phê phán rằng "
thử nghiệm này không chứng minh rằng dipyridamole
với sự kết hợp bất kỳ th́ tốt hơn
aspirin với liều bất kỳ", điều này
gợi ư rằng "dipyridamole có thể có hiệu
quả với aspirin liều rất thấp". Việc không dung nạp điều
trị aspirin là một lư do để chấp nhận
liều hiệu quả thấp nhất. Trong Hiệp
Hội Thử Nghiệm Cắt Bỏ Lớp Áo Trong ĐM
Cảnh Triệu Chứng Bắc Mỹ tất cả các
bệnh nhân đă đáp ứng với aspirin được
bao tan trong ruột và dă dùng từ 325mg-1300mg/ngày, trung b́nh
là 600mg (Hiệp Hội Thử Nghiệm Cắt Bỏ
Lớp Áo Trong Động Mạch Cảnh Triệu
Chứng Bắc Mỹ, Richard Muson, MD, số liệu không
được công bố, 1997).Không dung nạp thuốc do
yếu tố dạ dày ruột chiếm 1/3 trong hiệp
hội Thử nghiệm aspirin ở Canada, ở đó
aspirin đă được dùng thường xuyên. Trong
11400 bệnh nhân-năm của những TN phát triển
về sau, xuất huyết trong sọ, nhồi máu xuất
huyết và những vết thương gây tụ máu không
b́nh thường, tất cả đều liên quan đến
liều. Đă có một xu hướng, dù thiếu ư nghĩa
thống kê, cho biết 650-1300mg đă làm cho chảy máu
dạ dày ruột nghiêm trọng hơn. Xuất hiện
một trường hợp : bệnh nhân đă uống
325mg aspirin và chảy máu dạ dày ruột gây tử vong.
Bằng chứng đă được công bố về
biến chứng dạ dày ruột nghiêm trọng mà
tất cả các dạng điều trị aspirin đều
có khuynh hướng bị là không thuyết phục
dựa trên một thiểu số người dùng
thuốc với lớp bọc có thành phần khác nhau.
Những quan sát của Hiệp Hội Thử Nghiệm
Cắt Bỏ Lớp Áo Trong Động Mạch Cảnh
Triệu Chứng Bắc Mỹ th́ có thể tin cậy
nếu aspirin được nghiên cứu và so sánh lớn
hơn với liều nhỏ hơn. Liều aspirin tối đa trong
chiến lược pḥng ngừa ĐQ vẫn chưa
được biết là luận điểm của chúng
ta. Liều có tính chất quan trọng. Nếu chúng ta
tiếp tục dùng liều thấp cho pḥng ngừa thứ
phát, chúng ta có thể phủ nhận tác dụng lớn hơn
cho những bệnh nhân mà những người này với
một liều lớn hơn có thể là tốt nhất.
Việc dùng liều thấp như là đối lập
chuẩn để kiểm tra những thuốc mới có
thể làm cho kết luận sai lầm và dẫn đến
việc sử dụng những thuốc đắt tiền
với tác dụng phụ nguy hiểm khi một thứ
thuốc cũ và được biết với tác
dụng phụ vừa phải có thể có tác dụng tương
đương. Trong số phát hành này, liều
tối đa và những người tham gia lư tưởng
cho nghiên cứu vẫn c̣n chưa ổn định. C̣n
tồn tại các ư kiến khác biệt rơ rệt. Nhà thơ
Roberg Graves diễn tả:"con người cùng nh́n lên
bầu trời, có người nh́n chỉ thấy mây
đen, có người thấy những ngôi sao". Cần có hai TN NN quyết định
để rửa sạch mây đen. Thử nghiệm
thứ nhất nên gồm đủ số lựơng,
gồm cả nam và nữ không có bệnh mạch máu,
tuổi giới hạn cho nam thấp hơn là 65, tuổi
của nữ xu hướng lớn hơn nam 10 tuổi. TN
thứ hai nên bao gồm những bệnh nhân bị
thiếu máu năo thoảng qua và ĐQ nhỏ. aspirin tan trong
ruột với liều khác nhau nên được dùng
ngẫu nhiên trong cả hai thử nghiệm. (Có 2 trang vẽ minh họa, không tŕnh bày ở đây) Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài tổng quan của BS Lê Văn Nam. Từ khóa: aspirin , dot qui , dot quy , tai bien mach mau nao , du phong
|