
ĐÁNH
GIÁ HIỆU QUẢ & TÍNH AN TOÀN CỦA ASPIRIN
TRONG
ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU NĂO CỤC BỘ CẤP
Nguyễn
Huy Thắng ThS, BS khoa Nội Thần Kinh BV Nhân Dân 115,
Lê
Văn Thành GS, TS, BS nguyên chủ nhiệm bộ môn Thân
Kinh học trường ĐHYD TpHCM, chủ nhiệm
bộ môn Thần Kinh học Trung Tâm Đào Tạo và
Bồi Dưỡng Cán Bộ Y tế TpHCM.
Bái đăng trong: tạp chí
Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản của số 1, 2003:
56-62.
TÓM
TẮT :
Aspirin
từ lâu, đă chứng minh được tính hiệu
quả trong việc pḥng ngừa thiếu máu năo cục boÄ
( TMNCB ) thứ phát. Gần đây, nhiều công tŕnh nghiên
cứu sử dụng Aspirin ngay trong giai đoạn cấp,
đă thu được những kết quả tốt
trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong, giảm
nguy cơ TMNCB tái phát
sớm, và hạn chế mức độ tàn phế sau
đột quỵ. Tuy vậy, vẫn c̣n nhiều tranh căi
về tính an toàn của việc điều trị sớm
Aspirin trong giai đoạn cấp.
Phương
pháp : Qua nghiên
cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, so sánh điều
trị nghiên cứu với điều trị quy
chiếu. Aspirin được điều trị trong ṿng
48 giờ đầu sau khi khởi bệnh. Nhóm điều
trị được sử dụng Aspirin uống 325mg/ ngày
trong 30 ngày. Kết quả ở 2 nhóm được đánh
giá vào ngày thứ 14, 30 và 90 sau nhập viện.
Kết
quả : Qua khảo sát
92 bệnh nhân ( 61 điều trị, 31 chứng ), Aspirin
được sử dụng trong điều trị
TMNCB cấp trong ṿng 48 giờ đầu sau khởi phát các
triệu chứng, mặc dù tạo được sự
khác biệt có lợi, đă không cho thấy được
hiệu qua rơ rệt trong việc làm giảm tỷ lệ
tử vong, tỷ lệ TMNCB tái phát và tỷ lệ
bệnh nhân mất khả năng tự chăm sóc sau 3 tháng
( p > 0,01 ) ở nhóm điều trị so với nhóm
chứng.
Kết
luận:
Cần thực hiện đề tài với số liệu
lớn hơn, nhằm đánh giá chính xác hiệu quả
và tính an toàn của Aspirin trong TMNCB cấp tính.
Valuating the benefits
and safety of Aspirin in patients
with acute ischemic stroke
Summary
Backgound
and purpose : Many large
randomized trials have shown benefits when starting daily Aspirin promptly in
patients with suspected acute ischemic stroke . However, some uncertainty
remains about effects of early Aspirin in patients with acute stroke.
Method
: To acess the balance of
benefits and risks of Aspirin in
patients with acute ischemic stroke . 92 patients with
acute ischemic stroke were divided to 2 groups : 61 cases (Aspirin 325mg
per day) and 31 controls
Results
: There was no significant reduction of 6,45% in recurrent ischemic stroke
(0% aspirin versus 6,45% control, p > 0,01 ) and had no significant
difference between 2 groups about hemorrhagic stroke or gastrointestinal
haemorrhage.
Conclusions
: There was no clearly benefit
of early Aspirin in patients with acute
ischemic stroke. Need to repeat this study with larger patients for having
exactly conclusions about benefits and risks of early Aspirin
in patients with acute
ischemic stroke
ĐẶT
VẤN ĐỀ :
Từ
cuối thập niên 70, Aspirin đă chứng minh được
tính hiệu quả trong việc pḥng ngừa TMNCB thứ phát.
Đến thập niên 80, việc sử dụng thành công
thuốc chống kết tập tiểu cầu trong điều
trị nhồi máu cơ tim cấp, đă mang lại cho
Aspirin thêm một vai tṛ mới.
Sự
phát triển các mô h́nh gây TMNCB trên động vật vào
những năm 90 đă bổ sung những hiểu biết
mới về cơ chế bệnh sinh và giải phẫu
bệnh học của bệnh lư TMNCB. Trên cơ sở
đó, nhiều phương pháp điều trị mới
được đề xuất, như sử dụng các
thuốc bảo vệ tế bào, thuốc kháng đông, và
thuốc chống kết tập tiểu cầu ngay trong giai
đoạn cấp của bệnh. Trong những năm
gần đây nhiều công tŕnh nghiên cứu được
tiến hành tại nhiều nước nhằm kiểm
chứng vai tṛ mới của Aspirin, và phần nào đă
cho thấy lợi ích của việc sử dụng Aspirin
trong bệnh lư TMNCB cấp tính.
Ở
Việt nam, Aspirin đă được đưa vào phác
đồ điều trị TMNCB cấp một cách
rộng răi tại các trung tâm thần kinh, tuy vậy,
vẫn chưa có một nghiên cứu nào được
thực hiện nhằm kiểm chứng lại những
lợi ích cũng như ảnh hưởng của Aspirin
trên bệnh lư này.
PHƯƠNG
PHÁP :
Đây
là một nghiên cứu ngẫu nhiên, được
thực hiện tại bệnh viện, so sánh điều
trị nghiên cứu với một điều trị quy
chiếu.
Các
biến liên tục như : tuổi, huyết áp, điểm
số Orgogozo, điểm số Barthel; được tŕnh
bày dưới dạng trung b́nh và độ lệch
chuẩn. Thay đổi cuả một biến liên tục
ở từng thời điểm được đánh giá
bằng phương pháp phân tích phương sai lập
lại (repeated measure). Đồng thời phân tích phương
sai một yếu tố (ANOVA) được dùng để
so sánh sự khác biệt
của các biến liên tục độc lập ở
một thời điểm.
Các
biến định tính không
liên tục như : giới, tiền căn, vị trí
tổn thương trên phim CT scanner, biến chứng;
được tŕnh bày theo số lượng từng nhóm.
Phép kiểm chi b́nh phương được dùng để
khảo sát mối liên quan của các biến không liên
tục.
CHỌN
MẪU :
1.
Số bệnh nhân:
Nghiên cứu nhận tổng số 92 bệnh
nhân, chia làm hai nhóm: nhóm chứng (31 bệnh nhân) và nhóm
điều trị (61 bệnh nhân). Trong nhóm điều
trị, có 29 bệnh nhân được điều
trị trong 24 giờ đầu và 32 bệnh nhân được
điều trị trong ṿng 24-48 giờ kể từ khi
khởi phát bệnh.
2.
Tiêu chuẩn chọn bệnh :
·
Thỏa măn các tiêu chuẩn lâm sàng chẩn
đoán TMNCB dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới, bằng chứng Nhồi máu
năo trên phim chụp vi tính cắt lớp năo không cản
quang hoặc không có bằng chứng chảy máu năo trên
phim đối với bệnh nhân được đưa
vào trước 24 giờ, nhập viện trong ṿng 48
giờ đầu sau khi khởi phát.
3.
Điều trị :
·
Các phương pháp điều trị cơ
bản như: thông khí, nước điện giải,
ổn định huyết áp, đường huyết, các
thành phần lipit máu…
·
Aspirin dạng viên, hàm lượng 325mg, uống
1 viên mỗi ngày.
·
Thời gian điều trị là 1 tháng (30 ngày).
ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ KHẢO SÁT :
-
Kết quả khảo sát được đánh giá vào ngày
thứ nhất, ngày thứ 14, 30 và 90.
-T́nh
trạng thương tổn thần kinh được
đánh giá theo thang điểm Orgogozo, chức năng
họat động hàng ngày được đánh giá
bằnh chỉ số Barthel.
KẾT
QUẢ
Mẫu
nghiên cứu bao gồm 92 bệnh nhân, điều trị
tại bệnh viện Nhân Dân 115 và Chợ Rẫy trong
thời gian từ tháng 10/2000 đến tháng 12/2001, có
chẩn đoán TMNCB cấp phù hợp với các tiêu
chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ
đă nêu. Các bệnh nhân được chia nhóm một cách
ngẫu nhiên : không điều trị bằng Aspirin, và
điều trị Aspirin. Trong nhóm điều trị, chúng
tôi có 2 lô : điều trị Aspirin trong ṿng 24 giờ
đầu, và điều trị Aspirin trong ṿng 24-48
giờ đầu kể từ khi khởi phát bệnh.
Giữa
các nhóm này không thấy sự khác biệt có ư nghĩa thông
kê về các đặc điểm cơ bản : giới,
tuổi, tiền căn bệnh, trị số huyết áp
trung b́nh, điểm số Orgogozo, điểm số
Barthel, và vị trí tổn thương theo động
mạch cấp máu. Do vậy những thay đổi về
kết
quả
ở 3 nhóm sẽ phản ánh kết quả điều
trị ở các nhóm.
Bảng
so sánh kết quả điều trị cuả các nhóm
ở từng thời điểm
Kết
quả điều trị tại thời điểm ngày
thứ 14 :
·
So sánh tỷ lệ tử vong và biến chứng
của 3 nhóm
BÀN
LUẬN
1.
Tỷ lệ tử vong :
Trong
cả 3 nhóm nghiên cứu, không có trường hợp nào
tử vong (0%). Theo nghiên cứu IST, tỷ lệ tử vong
trong 6 tháng ở nhóm điều trị Aspirin là 11,3%, so
với nhóm chứng là 12,4%. Trong nghiên cứu CAST, tỷ
lệ tử vong trong 4 tuần là 3,3% và 3,9%.
Theo
Nguyễn Thi Hùng, tỷ
lệ tử vong sau 4 tháng đối với vị trí
tổn thương động mạch năo giữa nông và
sâu (chiếm hầu hết trong nghiên cứu của chúng tôi)
là 3/36, trong đó 1 trường hợp tử vong do nguyên
nhân nội khoa, 2 trường hợp c̣n lại có thể
tích ổ nhồi máu trung b́nh là 100,9cm3
Nguyên
nhân dẩn đến sự khác biệt về tỷ
lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi có
thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi chỉ bao
gồm những bệnh nhân có mức độ đột
quỵ nhẹ và vừa, tất cả đều nhập
viện trong t́nh trạng tỉnh táo, thể tích ổ
nhồi máu trung b́nh tương đối nhỏ, điểm
Orgogozo trung b́nh khi nhập viện là 48,93. Mặt khác,
những bệnh nhân có kèm theo các bệnh lư nặng trước
đó đă bị loại ra trong tiêu chuẩn chọn
bệnh của chúng tôi.
2.
Tỷ lệ TMNCB tái phát :
-
Đặc điểm chung kết quả của 2 nhóm
được điều trị bằng Aspirin là không có
trường hợp TMNCB tái phát, chiếm tỷ lệ
tỷ lệ 0%, so với nhóm chứng, tỷ lệ này là
2/31 = 6,45%.
-
Số liệu Ngân hàng đột quỵ (Stroke Data Bank) cho
thấy, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 7 ngày đầu sau
TMNCB là 1%. C̣n trong nghiên cứu IST với 19.435 bệnh nhân
TMNCB, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 14 ngày đầu ở
nhóm điều trị Aspirin là 2,8%, nhóm chứng là
3,9%.Với nghiên cứu CAST th́ tỷ lệ này là 1,6% (nhóm
điều trị), và 2,1% (nhóm chứng).
-
Ở những bệnh nhân TMNCB do lấp mạch năo có
nguồn gốc từ tim, th́ tỷ lệ TMNCB tái phát cao
hơn rất nhiều lần. Một nghiên cứu tại
trường Đại học Colombia cho thấy : tỷ
lệ TMNCB tái phát trong 90 ngày đầu sau lần đầu
là 7,4%, riêng ở những bệnh nhân rung nhĩ tỷ
lệ TMNCB tái phát trong 30 ngày đầu là 16,7% so với
nhóm chứng 1,7%. Mặt khác TMNCB tái phát đă nâng tỷ
lệ tử vong lên đến 31,8%, so với nhóm chứng
là 2,9%.
-
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi :
+
Có sự khác biệt về tỷ lệ TMNCB tái phát
giữa nhóm điều trị và nhóm chứng
+
Không có sự khác biệt về tỷ lệ TMNCB tái phát
giữa 2 nhóm điều trị Aspirin sớm và muộn.
Điều
này phần nào, đă chứng tỏ được
hiệu quả của Aspirin trong điều trị pḥng
ngừa thứ phát TMNCB.
3.Tỷ
lệ biến chứng :
3.1
Xuất huyết năo :
+
Trong nghiên cứu của chúng tôi, xuất
huyết năo ở nhóm điều trị chiếm tỷ
lệ 1/ 61 = 1,6%, nhóm chứng là 1/31 = 3,2%.
+
Xét
giữa 2 nhóm điều trị, xuất huyết năo
ở nhóm điều trị sớm
chiếm tỷ lệ 1/29 = 3,4%, so với nhóm điều
trị muộn là 0%
So
sánh với các nghiên cứu khác :
-
Nghiên cứu CAST, tỷ lệ xuất huyết năo ở nhóm
điều trị Aspirin là 1%, so
với nhóm chứng là 0,8%.
-
Nghiên cứu IST, tỷ lệ xuất huyết năo ở nhóm
điều trị Aspirin là 0,9%, nhóm chứng là 0,8%.
-
Theo Nguyễn Thi Hùng th́ tỷ lệ nhồi máu năo
xuất huyết là 4,5%.
Sự
khác biệt này có thể là do khác nhau về cỡ
mẫu nghiên cứu.
Về cơ chế gây xuất huyết năo do các
thuốc chống huyết khối chưa đươc làm
rơ, một giả thuyết được đưa ra là
do tác dụng làm tổn thương các mạch máu và
ức chế quá tŕnh làm lành các tổn thương
ở mạch máu (30). Theo Wong & cộng sự, qua
khảo sát 1251 trường hợp xuất huyết năo có
và không dùng Aspirin, đă thấy rằng : xuất
huyết năo có liên quan đến Aspirin thường
chiếm tỷ lệ cao vị trí ở các thùy năo ( 32,8%
so với nhóm chứng 10,3% ). Trong nghiên cứu này, do
số lượng mẫu nhỏ, nên chúng tôi không có
điều kiện để kiểm chứng ư kiến này.Tuy
nhiên, trong 1 nghiên cứu tại Uùc (1999), A. Thrift và
cộng sự đă kết luận rằng : Không có
sự gia tăng nguy cơ xuất huyết năo ở
những bệnh nhân sử dụng Aspirin liều thấp
hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác. Điều này
cũng được thấy trong nghiên cứu của chúng
tôi.
3.2
Xuất huyết tiêu hoá :
Trong
2 nhóm được điều trị bằng Aspirin,
đều có 1 trường hợp xuất huyết tiêu hoá
nhẹ, chiếm tỷ lệ chung 2/61 = 3,2%, so với 0%
ở nhóm chứng.
Một
số kết quả nghiên cứu khác :
-
Theo Nguyễn Kim Anh, tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá
trên bệnh nhân nhồi máu năo tại bệnh viện
Chợ Rẫy trong năm 1996 là 2,34%, tại bệnh
viện Trưng Vương là 3,12% (8).
-
Kay và cộng sự ghi nhận tỷ lệ xuất
huyết tiêu hoá ở 105 bệnh nhân TMNCB là 0,95%.
Theo
Patrono, có sự thay đổi theo tỷ lệ thuận
giữa tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá và liều
sử dụng Aspirin, đặc biệt là ở những
bệnh nhân trên 60 tuổi. Cùng ư kiến trên, Derry và Loke
thấy rằng: tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa
với liều 325mg/ngày trong thời gian 60 tháng là 0,3%,
với liều 1g/ngày trong 36 tháng là 0,6%, và 0,9% với
liều 2,5g trong 2 tháng.Không thống nhất với ư
kiến trên, nghiên cứu tại Hà Lan (The Dutch trial)
lại cho rằng không có sự khác biệt về tỷ
lệ xuất huyết tiêu hóa ở 2 liều 30mg/ngày và
283mg/ngày.
3.3
Mức độ cải thiện vận động :
3.3.1
Giữa nhóm điều trị Aspirin và nhóm chứng
:
-
Không có sự thay đổi có ư nghĩa về điểm
số Orgogozo và Barthel giữa 2 nhóm vào các thời điểm
14 ngày, 30 ngày và 90 ngày.
-
Ghi nhận có sự khác biệt về tỷ lệ số
bệnh nhân hồi phục vận động hoàn toàn
(Barthel 100 điểm) giữa nhóm điều trị Aspirin
và nhóm chứng (18,03% và 16,12%)
-
Ghi nhận có sự khác biệt về tỷ lệ số
bệnh nhân hồi phục vận động tốt
(Barthel 85-100 điểm) giữa nhóm điều trị
Aspirin và nhóm chứng (24,59% và 22,60%)
-
Số trường hợp bệnh nhân phụ thuộc (điểm
số Barthel< 60) chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm
chứng không điều trị Aspirin so với nhóm điều
trị (35,48% và 34,43%).
Những
khác biệt này không có ư nghĩa thông kê (p>0,01). Kết
quả này phù hợp với các nghiên cứu IST và CAST.
Trong 2 nghiên cứu này, các tác giả cũng ghi nhận
được những kết quả tương tự,
mặc dù sự khác biệt đó không có ư nghĩa trong
thống kê.
Giải
thích tại sao Aspirin có thể làm thay đổi được
khả năng cải thiện vận động ở
bệnh nhân TMNCB, theo chúng tôi có những nguyên nhân sau :
-
Aspirin có tác dụng chống lại sự kết dính
của các tiểu cầu, do vậy có thể làm giới
hạn bớt phần nào kích thước ổ nhồi máu(29).
Trong những nghiên cứu gần đây, đă cho thấy
Aspirin có tác dụng làm ly giải cục máu đông qua
trung gian plasminogen môtrên thực nghiệm mô h́nh gây tắc
mạch năo ở thỏ, mặc dù cơ chế chính xác
chưa được làm rơ (22)
-
Aspirin làm giảm tỷ lệ TMNCB tái phát. Theo Moroney và
cộng sự, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 90 ngày đầu
sau đột quỵ là 7,4%.
-
Aspirin làm giảm từ 20-25% tỷ lệ chung các biến
cố về mạch máu khác như : nhồi máu cơ tim,
cơn đau thắt ngực không ổn định, thuyên
tắc mạch phổi và
các mạch máu khác. Trong nghiên cứu The US Physician’Health
Study cho thấy khi sử dụng Aspirin liều 325mg cách ngày,
làm giảm 44% nguy cơ nhồi máu cơ tim lần đầu.
Nghiên cứu PEP Trial, aspirin làm giảm 36% nguy cơ thuyên
tắc tĩnh mạch sâu và thuyên tắc mạch máu
phổi.
Theo Dobkin, các yếu tố trên có ảnh hưởng
tiên lượng đến tỷ lệ tử vong và
khả năng cải thiện vận động của
bệnh nhân TMNCB.
3.3.2
Giữa nhóm điều trị Aspirin trong 24 giờ
đầu và nhóm điều trị Aspirin từ 24-48
giờ :
-
Không có sự thay đổi có ư nghĩa về điểm
số Orgogozo và Barthel giữa 2 nhóm có điều trị
Aspirin sớm và muộn vào từng thời điểm 14
ngày, 30 ngày và 90 ngày.
-
Không ghi nhận sự khác biệt có ư nghĩa về
tỷ lệ bệnh nhân tự lực và phụ thuộc.
Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Chen và
cộng sự, khi nhận xét rằng không có sự khác
biệt về kết quả giữa 2 nhóm điều
trị Aspirin trong 24 giờ đầu và 24-48 giờø.
Giải
thích kết quả này, chúng tôi cho rằng có những nguyên
nhân sau :
-
Mục tiêu quan trọng nhất trong điều trị
TMNCB chính là can thiệp, trợ giúp mô năo đang trong t́nh
trạng thiếu máu và ngưng hoạt động ở vùng
tranh tối, tranh sáng được phục hồi càng
nhiều càng tốt. Do vậy, cửa sổ điều
trị chuyên biệt tối đa chỉ nằm trong
khoảng từ 3-6 giờ đầu sau đột quỵ.
Thời gian bắt đầu tiến hành điều
trị trung b́nh trong nghiên cứu của chúng tôi là
khoảng 16 giờ ( đối với nhóm điều
trị sớm ), cho nên sự khác biệt giữa 2 nhóm không
nhiều.
-
Tỷ lệ các biến cố về mạch máu trong ṿng
24 giờ đầu là rất thấp (1%), số liệu
nghiên cứu của chúng tôi nhỏ, do vậy rất khó
để thấy được sự khác biệt.
Trong
nghiên cứu IST và CAST, mặc dù chưa chứng minh
được sự lợi ích rơ rệt nhưng các tác
giả vẫn đề nghị không nên tŕ hoăn việc
điều trị sớm Aspirin ở những bệnh nhân
TMNCB, một khi đă lọai trừ xuất huyết năo
bằng h́nh ảnh học.
KẾT
LUẬN
+
Aspirin được sử dụng trong điều
trị TMNCB cấp trong ṿng 48 giờ đầu sau khởi
phát các triệu chứng, mặc dù tạo được
sự khác biệt có lợi, đă không cho thấy
được hiệu qua rơ rệt trong việc làm
giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ TMNCB tái phát và
tỷ lệ bệnh nhân mất khả năng tự chăm
sóc sau 3 tháng. Bên cạnh đó, một số tác dụng
phụ của Aspirin được ghi nhận với
tần suất thấp, và sẽ càng an ṭan hơn nếu
chúng ta sử dụng thuốc ở liều thấp . Do
vậy, tác dụng phụ của Aspirin ít gây ảnh hưởng
đến tiên lượng chung của bệnh.
+
Mặc dù chưa thấy
được lợi ích cụ thể giữa 2 nhóm điều
trị sớm trong 24 giờ đầu và 24-48 giờ, chúng
tôi vẫn ủng hộ việc điều trị sớm
Aspirin một khi bệnh nhân đă được chẩn
đoán TMNCB trên lâm sàng, và loại trừ Xuất
huyết năo bằng h́nh ảnh học.
Với
số liệu khiêm tốn, đây chỉ là nghiên cứu
bước đầu trong việc kiểm chứng về
hiệu quả và tính an toàn của Aspirin trong bệnh lư
TMNCB. Qua những kết quả thu được, Chúng tôi
hy vọng rằng trong thời gian tới sẽ có thêm
điều kiện để mở rộng đề tài
này với quy mô lớn hơn
và được thực hiện tại nhiều trung tâm
thần kinh, nhằm đánh giá chính xác hiệu
quả và tính an toàn của Aspirin trong điều trị
bệnh lư thiếu máu năo cục bộ cấp.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
KHỐI
TIẾNG VIỆT
1.
Nguyễn Văn Đăng. Tai biến thiếu máu năo
cục bộ. Trong Tai biến mạch máu năo. Nhà xuất
bản Y học 1996 : 83 - 101.
2.
Lê Văn Thành và Cộng sự. Nghiên cứu sơ
bộ về dịch tể học bệnh tai biến
mạch máu năo tại ba tỉnh thành phía nam : TP. Hồ Chí
Minh, Tiền Giang và Kiên Giang. Công tŕnh nghiên cứu khoa
học 1994 –1995. Đại học Y dược TP. Hồ
Chí Minh.
3.
Lê Văn Thành và
Cộng sự. Nhồi máu năo : Lâm sàng và điều
trị 883 ca tại khoa thần kinh Bệnh viện Chợ
Rẫy từ 1990-1997. Hội thảo Y Dược Pháp-Việt
lần thứ ba.
4.
Nguyễn Thi Hùng.
Một số nhận xét về đặc điểm h́nh
thái học và tiên lượng của nhồi máu năo qua
kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính
KHỐI
TIẾNG ANH
5.
Adams RD, Victor M, Ropper
AH. Cerebrovascular Disease. In Principles Of
Neurology. Mcgraw – Hill. 5ed. 1993 : 669 – 676.
6.
Babette B. Weksler. Platelet Function And Antiplatelet Agent. In Stroke :
Pathophysiology, Diagnosis, And Management. Churchill Livingstone. 3ed. 1998 :
1041 – 1051.
7.
Easton DJ, Hauser SL, Martin
JB. Cerebrovascular Disease. In Harrison ‘S Principles Of Internal Medicine.
Mcgraw – Hill. 14ed. 1998 : 2325 – 2347.