THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

DuPhong5

Home Up Feedback Contents Search

 

DuPhong6

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ & TÍNH AN TOÀN CỦA ASPIRIN

TRONG ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU NĂO CỤC BỘ CẤP

Nguyễn Huy Thắng ThS, BS khoa Nội Thần Kinh  BV Nhân Dân 115,

Lê Văn Thành GS, TS, BS nguyên chủ nhiệm bộ môn Thân Kinh học trường ĐHYD TpHCM, chủ nhiệm bộ môn Thần Kinh học Trung Tâm Đào Tạo và Bồi Dưỡng Cán Bộ Y tế TpHCM.

Bái đăng trong: tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 7, phụ bản của số 1, 2003: 56-62.

TÓM TẮT :

Aspirin từ lâu, đă chứng minh được tính hiệu quả trong việc pḥng ngừa thiếu máu năo cục boÄ ( TMNCB ) thứ phát. Gần đây, nhiều công tŕnh nghiên cứu sử dụng Aspirin ngay trong giai đoạn cấp, đă thu được những kết quả tốt trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong,  giảm nguy cơ  TMNCB tái phát sớm, và hạn chế mức độ tàn phế sau đột quỵ. Tuy vậy, vẫn c̣n nhiều tranh căi về tính an toàn của việc điều trị sớm Aspirin trong giai đoạn cấp.

Phương pháp : Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, so sánh điều trị nghiên cứu với điều trị quy chiếu. Aspirin được điều trị trong ṿng 48 giờ đầu sau khi khởi bệnh. Nhóm điều trị được sử dụng Aspirin uống 325mg/ ngày trong 30 ngày. Kết quả ở 2 nhóm được đánh giá vào ngày thứ 14, 30 và 90 sau nhập viện.

Kết quả : Qua khảo sát 92 bệnh nhân ( 61 điều trị, 31 chứng ), Aspirin được sử dụng trong điều trị TMNCB cấp trong ṿng 48 giờ đầu sau khởi phát các triệu chứng, mặc dù tạo được sự khác biệt có lợi, đă không cho thấy được hiệu qua rơ rệt trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ TMNCB tái phát và tỷ lệ bệnh nhân mất khả năng tự chăm sóc sau 3 tháng ( p > 0,01 ) ở nhóm điều trị so với nhóm chứng.   

Kết luận: Cần thực hiện đề tài với số liệu lớn hơn, nhằm đánh giá chính xác hiệu quả và tính an toàn của Aspirin trong TMNCB cấp tính.

Valuating the benefits and safety of Aspirin  in patients with acute ischemic stroke

Summary

Backgound and purpose :  Many large randomized trials have shown benefits when starting daily Aspirin promptly in patients with suspected acute ischemic stroke . However, some uncertainty remains about effects of early Aspirin in patients with acute stroke.

Method :  To acess the balance of benefits and risks of Aspirin  in patients with  acute ischemic stroke . 92 patients with  acute ischemic stroke were divided to 2 groups : 61 cases (Aspirin 325mg per day) and 31 controls

Results : There was no significant reduction of 6,45% in recurrent ischemic stroke (0% aspirin versus 6,45% control, p > 0,01 ) and had no significant difference between 2 groups about hemorrhagic stroke or gastrointestinal haemorrhage.

Conclusions :  There was no clearly benefit of early Aspirin in patients with  acute ischemic stroke. Need to repeat this study with larger patients for having exactly conclusions  about benefits  and risks of early Aspirin  in patients with  acute ischemic stroke

ĐẶT  VẤN  ĐỀ :

Từ cuối thập niên 70, Aspirin đă chứng minh được tính hiệu quả trong việc pḥng ngừa TMNCB thứ phát. Đến thập niên 80, việc sử dụng thành công thuốc chống kết tập tiểu cầu trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp, đă mang lại cho Aspirin thêm một vai tṛ mới.

Sự phát triển các mô h́nh gây TMNCB trên động vật vào những năm 90 đă bổ sung những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh học của bệnh lư TMNCB. Trên cơ sở đó, nhiều phương pháp điều trị mới được đề xuất, như sử dụng các thuốc bảo vệ tế bào, thuốc kháng đông, và thuốc chống kết tập tiểu cầu ngay trong giai đoạn cấp của bệnh. Trong những năm gần đây nhiều công tŕnh nghiên cứu được tiến hành tại nhiều nước nhằm kiểm chứng vai tṛ mới của Aspirin, và phần nào đă cho thấy lợi ích của việc sử dụng Aspirin trong bệnh lư TMNCB cấp tính.

Ở Việt nam, Aspirin đă được đưa vào phác đồ điều trị TMNCB cấp một cách rộng răi tại các trung tâm thần kinh, tuy vậy, vẫn chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện nhằm kiểm chứng lại những lợi ích cũng như ảnh hưởng của Aspirin trên bệnh lư này. 

PHƯƠNG PHÁP :

Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, được thực hiện tại bệnh viện, so sánh điều trị nghiên cứu với một điều trị quy chiếu.

Các biến liên tục như : tuổi, huyết áp, điểm số Orgogozo, điểm số Barthel; được tŕnh bày dưới dạng trung b́nh và độ lệch chuẩn. Thay đổi cuả một biến liên tục ở từng thời điểm được đánh giá bằng phương pháp phân tích phương sai lập lại (repeated measure). Đồng thời phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) được dùng để so sánh  sự khác biệt của các biến liên tục độc lập ở một thời điểm.

Các biến định tính  không liên tục như : giới, tiền căn, vị trí tổn thương trên phim CT scanner, biến chứng; được tŕnh bày theo số lượng từng nhóm. Phép kiểm chi b́nh phương được dùng để khảo sát mối liên quan của các biến không liên tục.

CHỌN MẪU :

1.    Số bệnh nhân:

 Nghiên cứu nhận tổng số 92 bệnh nhân, chia làm hai nhóm: nhóm chứng (31 bệnh nhân) và nhóm điều trị (61 bệnh nhân). Trong nhóm điều trị, có 29 bệnh nhân được điều trị trong 24 giờ đầu và 32 bệnh nhân được điều trị trong ṿng 24-48 giờ kể từ khi khởi phát bệnh. 

2.    Tiêu chuẩn chọn bệnh :

·      Thỏa măn các tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán TMNCB dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, bằng chứng Nhồi máu năo trên phim chụp vi tính cắt lớp năo không cản quang hoặc không có bằng chứng chảy máu năo trên phim đối với bệnh nhân được đưa vào trước 24 giờ, nhập viện trong ṿng 48 giờ đầu sau khi khởi phát.

3.    Điều trị :

·      Các phương pháp điều trị cơ bản như: thông khí, nước điện giải, ổn định huyết áp, đường huyết, các thành phần lipit máu…

·      Aspirin dạng viên, hàm lượng 325mg, uống 1 viên mỗi ngày. 

·      Thời gian điều trị là 1 tháng (30 ngày).

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHẢO SÁT :

- Kết quả khảo sát được đánh giá vào ngày thứ nhất, ngày thứ 14, 30 và 90.

-T́nh trạng thương tổn thần kinh được đánh giá theo thang điểm Orgogozo, chức năng họat động hàng ngày được đánh giá bằnh chỉ số Barthel.

KẾT QUẢ

Mẫu nghiên cứu bao gồm 92 bệnh nhân, điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115 và Chợ Rẫy trong thời gian từ tháng 10/2000 đến tháng 12/2001, có chẩn đoán TMNCB cấp phù hợp với các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ đă nêu. Các bệnh nhân được chia nhóm một cách ngẫu nhiên : không điều trị bằng Aspirin, và điều trị Aspirin. Trong nhóm điều trị, chúng tôi có 2 lô : điều trị Aspirin trong ṿng 24 giờ đầu, và điều trị Aspirin trong ṿng 24-48 giờ đầu kể từ khi khởi phát bệnh.

Giữa các nhóm này không thấy sự khác biệt có ư nghĩa thông kê về các đặc điểm cơ bản : giới, tuổi, tiền căn bệnh, trị số huyết áp trung b́nh, điểm số Orgogozo, điểm số Barthel, và vị trí tổn thương theo động mạch cấp máu. Do vậy những thay đổi về kết

quả ở 3 nhóm sẽ phản ánh kết quả điều trị ở các nhóm. 

Bảng so sánh kết quả điều trị cuả các nhóm ở từng thời điểm

Kết quả điều trị tại thời điểm ngày thứ 14 :

·      So sánh  tỷ lệ tử vong và biến chứng của 3 nhóm

 

Tỷ lệ tử vong & biến chứng các nhóm nghiên cứu

Không điều trị Aspirin

(n = 31)

Điều trị Aspirin

0-24 giờ

(n = 29)

Điều trị Aspirin

24-48 giờ

(n = 32)

Tử vong

0

0

0

Xuất huyết tiêu hoá

0

0

1

Xuất huyết trong ổ nhồi máu

1

1

0

Nhồi máu năo tái phát

2

0

0

·      So sánh mức độ cải thiện vận động

 

Điểm Orgogozo

Điểm Barthel

Nhóm 1

58.55 ± 15.56

53.71 ± 15.16

Nhóm 2

59.48 ± 16.05

53.62 ± 15.64

Nhóm 3

58.75 ± 13.56

52.97 ±  12.30

 

P = 0.96

P = 0.97

Kết quả điều trị tại thời điểm ngày thứ 30

 

·      So sánh  tỷ lệ tử vong và biến chứng của 3 nhóm

Tỷ lệ tử vong & biến chứng các nhóm nghiên cứu

Không điều trị Aspirin

n = 31

Điều trị Aspirin

0- 24 giờ

n = 29

Điều trị Aspirin

24-48 giờ

n = 32

Tử vong

0

0

0

Xuất huyết tiêu hoá

0

1

1

Xuất huyết trong ổ nhồi máu

1

1

0

Nhồi máu năo tái phát

2

0

0

 

·      So sánh mức độ cải thiện vận động

 

Điểm Orgogozo

Điểm Barthel

Nhóm 1

70.48 ± 18.68

66.29± 18.71

Nhóm 2

70.09± 19.90

66.55± 20.00

Nhóm 3

70.16± 18.25

67.50±  18.40

 

P = 0.94

P = 0.96

 

Kết quả điều trị tại thời điểm ngày thứ 90 :

 

Tỷ lệ tử vong & biến chứng các nhóm nghiên cứu

Không điều trị Aspirin

n = 31

Điều trị Aspirin

0- 24 giờ

n = 29

Điều trị Aspirin

24-48 giờ

n = 32

Tử vong

0

0

0

Xuất huyết tiêu hoá

0

1

1

Xuất huyết trong ổ nhồi máu

1

1

0

Nhồi máu năo tái phát

2

0

0

 

·      So sánh mức độ cải thiện vận động

 

Điểm Orgogozo

Điểm Barthel

Nhóm 1

74.52 ± 20.14

71.94 ± 21.28

Nhóm 2

70.69 ± 19.09

71.25 ± 22.43

Nhóm 3

70.16± 18.25

72.85 ±  20.08

 

P = 0.93

P = 0.95

 

Phân nhóm khả năng tự lực theo điểm số Barthel sau 3 tháng :

 

Khả năng tự lực theo điểm số Barthel sau 3 tháng

100 + 100

85 – 100

60 - 80

< 60

Không điều trị Aspirin

16.12%

(5/31)

22.60%

(7/31)

25.81% (8/31)

35.48% (11/31)

Aspirin trong 24 giờ

18.24% (5/29)

24.13% (7/29)

24.13% (7/29)

34.48% (10/29)

Aspirin từ 24-48 giờ

18.75% (6/32)

25.00% (8/32)

21.88% (7/32)

34.38% (11/32)

Tỷ lệ chung cuả 2 nhóm điều trị aspirin

18.51% (11/61)

24.59% (15/61)

22.95% (14/61)

34.43% (21/61)

 

BÀN LUẬN

1. Tỷ lệ tử vong :

Trong cả 3 nhóm nghiên cứu, không có trường hợp nào tử vong (0%). Theo nghiên cứu IST, tỷ lệ tử vong trong 6 tháng ở nhóm điều trị Aspirin là 11,3%, so với nhóm chứng là 12,4%. Trong nghiên cứu CAST, tỷ lệ tử vong trong 4 tuần là 3,3% và 3,9%.

Theo Nguyễn Thi  Hùng, tỷ lệ tử vong sau 4 tháng đối với vị trí tổn thương động mạch năo giữa nông và sâu (chiếm hầu hết trong nghiên cứu của chúng tôi) là 3/36, trong đó 1 trường hợp tử vong do nguyên nhân nội khoa, 2 trường hợp c̣n lại có thể tích ổ nhồi máu trung b́nh là 100,9cm3

Nguyên nhân dẩn đến sự khác biệt về tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi chỉ bao gồm những bệnh nhân có mức độ đột quỵ nhẹ và vừa, tất cả đều nhập viện trong t́nh trạng tỉnh táo, thể tích ổ nhồi máu trung b́nh tương đối nhỏ, điểm Orgogozo trung b́nh khi nhập viện là 48,93. Mặt khác, những bệnh nhân có kèm theo các bệnh lư nặng trước đó đă bị loại ra trong tiêu chuẩn chọn bệnh của chúng tôi.  

2. Tỷ lệ TMNCB tái phát :

- Đặc điểm chung kết quả của 2 nhóm được điều trị bằng Aspirin là không có trường hợp TMNCB tái phát, chiếm tỷ lệ tỷ lệ 0%, so với nhóm chứng, tỷ lệ này là 2/31 = 6,45%.

- Số liệu Ngân hàng đột quỵ (Stroke Data Bank) cho thấy, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 7 ngày đầu sau TMNCB là 1%. C̣n trong nghiên cứu IST với 19.435 bệnh nhân TMNCB, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 14 ngày đầu ở nhóm điều trị Aspirin là 2,8%, nhóm chứng là 3,9%.Với nghiên cứu CAST th́ tỷ lệ này là 1,6% (nhóm điều trị), và 2,1% (nhóm chứng).

- Ở những bệnh nhân TMNCB do lấp mạch năo có nguồn gốc từ tim, th́ tỷ lệ TMNCB tái phát cao hơn rất nhiều lần. Một nghiên cứu tại trường Đại học Colombia cho thấy : tỷ lệ TMNCB tái phát trong 90 ngày đầu sau lần đầu là 7,4%, riêng ở những bệnh nhân rung nhĩ tỷ lệ TMNCB tái phát trong 30 ngày đầu là 16,7% so với nhóm chứng 1,7%. Mặt khác TMNCB tái phát đă nâng tỷ lệ tử vong lên đến 31,8%, so với nhóm chứng là 2,9%.

- Kết quả nghiên cứu của chúng tôi :

+ Có sự khác biệt về tỷ lệ TMNCB tái phát giữa nhóm điều trị và nhóm chứng

+ Không có sự khác biệt về tỷ lệ TMNCB tái phát giữa 2 nhóm điều trị Aspirin sớm và muộn.

Điều này phần nào, đă chứng tỏ được hiệu quả của Aspirin trong điều trị pḥng ngừa thứ phát TMNCB.

3.Tỷ lệ biến chứng :

3.1 Xuất huyết năo :

+ Trong nghiên cứu của chúng tôi, xuất huyết năo ở nhóm điều trị chiếm tỷ lệ 1/ 61 = 1,6%, nhóm chứng là 1/31 = 3,2%.

+ Xét giữa 2 nhóm điều trị, xuất huyết năo ở nhóm điều trị  sớm chiếm tỷ lệ 1/29 = 3,4%, so với nhóm điều trị muộn là 0%

So sánh với các nghiên cứu khác :

- Nghiên cứu CAST, tỷ lệ xuất huyết năo ở nhóm điều trị Aspirin là 1%,  so với nhóm chứng là 0,8%.

- Nghiên cứu IST, tỷ lệ xuất huyết năo ở nhóm điều trị Aspirin là 0,9%, nhóm chứng là 0,8%.

- Theo Nguyễn Thi Hùng th́ tỷ lệ nhồi máu năo xuất huyết là 4,5%.

Sự khác biệt này có thể là do khác nhau về cỡ mẫu nghiên cứu.

    Về cơ chế gây xuất huyết năo do các thuốc chống huyết khối chưa đươc làm rơ, một giả thuyết được đưa ra là do tác dụng làm tổn thương các mạch máu và ức chế quá tŕnh làm lành các tổn thương ở mạch máu (30). Theo Wong & cộng sự, qua khảo sát 1251 trường hợp xuất huyết năo có và không dùng Aspirin, đă thấy rằng : xuất huyết năo có liên quan đến Aspirin thường chiếm tỷ lệ cao vị trí ở các thùy năo ( 32,8% so với nhóm chứng 10,3% ). Trong nghiên cứu này, do số lượng mẫu nhỏ, nên chúng tôi không có điều kiện để kiểm chứng ư kiến này.Tuy nhiên, trong 1 nghiên cứu tại Uùc (1999), A. Thrift và cộng sự đă kết luận rằng : Không có sự gia tăng nguy cơ xuất huyết năo ở những bệnh nhân sử dụng Aspirin liều thấp hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác. Điều này cũng được thấy trong nghiên cứu của chúng tôi.

3.2 Xuất huyết tiêu hoá :

Trong 2 nhóm được điều trị bằng Aspirin, đều có 1 trường hợp xuất huyết tiêu hoá nhẹ, chiếm tỷ lệ chung 2/61 = 3,2%, so với 0% ở nhóm chứng.

Một số kết quả nghiên cứu khác :

- Theo Nguyễn Kim Anh, tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá trên bệnh nhân nhồi máu năo tại bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 1996 là 2,34%, tại bệnh viện Trưng Vương là 3,12% (8).

- Kay và cộng sự ghi nhận tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá ở 105 bệnh nhân TMNCB là 0,95%.

Theo Patrono, có sự thay đổi theo tỷ lệ thuận giữa tỷ lệ xuất huyết tiêu hoá và liều sử dụng Aspirin, đặc biệt là ở những bệnh nhân trên 60 tuổi. Cùng ư kiến trên, Derry và Loke thấy rằng: tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa với liều 325mg/ngày trong thời gian 60 tháng là 0,3%, với liều 1g/ngày trong 36 tháng là 0,6%, và 0,9% với liều 2,5g trong 2 tháng.Không thống nhất với ư kiến trên, nghiên cứu tại Hà Lan (The Dutch trial) lại cho rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa ở 2 liều 30mg/ngày và 283mg/ngày.

3.3 Mức độ cải thiện vận động :

3.3.1          Giữa nhóm điều trị Aspirin và nhóm chứng :

- Không có sự thay đổi có ư nghĩa về điểm số Orgogozo và Barthel giữa 2 nhóm vào các thời điểm 14 ngày, 30 ngày và 90 ngày.

- Ghi nhận có sự khác biệt về tỷ lệ số bệnh nhân hồi phục vận động hoàn toàn (Barthel 100 điểm) giữa nhóm điều trị Aspirin và nhóm chứng (18,03% và 16,12%)

- Ghi nhận có sự khác biệt về tỷ lệ số bệnh nhân hồi phục vận động tốt (Barthel 85-100 điểm) giữa nhóm điều trị Aspirin và nhóm chứng (24,59% và 22,60%)

- Số trường hợp bệnh nhân phụ thuộc (điểm số Barthel< 60) chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm chứng không điều trị Aspirin so với nhóm điều trị (35,48% và 34,43%).

Những khác biệt này không có ư nghĩa thông kê (p>0,01). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu IST và CAST. Trong 2 nghiên cứu này, các tác giả cũng ghi nhận được những kết quả tương tự, mặc dù sự khác biệt đó không có ư nghĩa trong thống kê.

Giải thích tại sao Aspirin có thể làm thay đổi được khả năng cải thiện vận động ở bệnh nhân TMNCB, theo chúng tôi có những nguyên nhân sau :

- Aspirin có tác dụng chống lại sự kết dính của các tiểu cầu, do vậy có thể làm giới hạn bớt phần nào kích thước ổ nhồi máu(29). Trong những nghiên cứu gần đây, đă cho thấy Aspirin có tác dụng làm ly giải cục máu đông qua trung gian plasminogen môtrên thực nghiệm mô h́nh gây tắc mạch năo ở thỏ, mặc dù cơ chế chính xác chưa được làm rơ (22)

- Aspirin làm giảm tỷ lệ TMNCB tái phát. Theo Moroney và cộng sự, tỷ lệ TMNCB tái phát trong 90 ngày đầu sau đột quỵ là 7,4%.

- Aspirin làm giảm từ 20-25% tỷ lệ chung các biến cố về mạch máu khác như : nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực không ổn định, thuyên tắc mạch phổi  và các mạch máu khác. Trong nghiên cứu The US Physician’Health Study cho thấy khi sử dụng Aspirin liều 325mg cách ngày, làm giảm 44% nguy cơ nhồi máu cơ tim lần đầu. Nghiên cứu PEP Trial, aspirin làm giảm 36% nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch sâu và thuyên tắc mạch máu phổi. 

    Theo Dobkin, các yếu tố trên có ảnh hưởng tiên lượng đến tỷ lệ tử vong và khả năng cải thiện vận động của bệnh nhân TMNCB. 

3.3.2          Giữa nhóm điều trị Aspirin trong 24 giờ đầu và nhóm điều trị Aspirin từ 24-48 giờ :

- Không có sự thay đổi có ư nghĩa về điểm số Orgogozo và Barthel giữa 2 nhóm có điều trị Aspirin sớm và muộn vào từng thời điểm 14 ngày, 30 ngày và 90 ngày.

- Không ghi nhận sự khác biệt có ư nghĩa về tỷ lệ bệnh nhân tự lực và phụ thuộc.

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Chen và cộng sự, khi nhận xét rằng không có sự khác biệt về kết quả giữa 2 nhóm điều trị Aspirin trong 24 giờ đầu và 24-48 giờø.

Giải thích kết quả này, chúng tôi cho rằng có những nguyên nhân sau :

- Mục tiêu quan trọng nhất trong điều trị TMNCB chính là can thiệp, trợ giúp mô năo đang trong t́nh trạng thiếu máu và ngưng hoạt động ở vùng tranh tối, tranh sáng được phục hồi càng nhiều càng tốt. Do vậy, cửa sổ điều trị chuyên biệt tối đa chỉ nằm trong khoảng từ 3-6 giờ đầu sau đột quỵ. Thời gian bắt đầu tiến hành điều trị trung b́nh trong nghiên cứu của chúng tôi là khoảng 16 giờ ( đối với nhóm điều trị sớm ), cho nên sự khác biệt giữa 2 nhóm không nhiều.

- Tỷ lệ các biến cố về mạch máu trong ṿng 24 giờ đầu là rất thấp (1%), số liệu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ, do vậy rất khó để thấy được sự khác biệt.

Trong nghiên cứu IST và CAST, mặc dù chưa chứng minh được sự lợi ích rơ rệt nhưng các tác giả vẫn đề nghị không nên tŕ hoăn việc điều trị sớm Aspirin ở những bệnh nhân TMNCB, một khi đă lọai trừ xuất huyết năo bằng h́nh ảnh học.

KẾT LUẬN

+ Aspirin được sử dụng trong điều trị TMNCB cấp trong ṿng 48 giờ đầu sau khởi phát các triệu chứng, mặc dù tạo được sự khác biệt có lợi, đă không cho thấy được hiệu qua rơ rệt trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ TMNCB tái phát và tỷ lệ bệnh nhân mất khả năng tự chăm sóc sau 3 tháng. Bên cạnh đó, một số tác dụng phụ của Aspirin được ghi nhận với tần suất thấp, và sẽ càng an ṭan hơn nếu chúng ta sử dụng thuốc ở liều thấp . Do vậy, tác dụng phụ của Aspirin ít gây ảnh hưởng đến tiên lượng chung của bệnh.

+ Mặc dù chưa thấy được lợi ích cụ thể giữa 2 nhóm điều trị sớm trong 24 giờ đầu và 24-48 giờ, chúng tôi vẫn ủng hộ việc điều trị sớm Aspirin một khi bệnh nhân đă được chẩn đoán TMNCB trên lâm sàng, và loại trừ Xuất huyết năo bằng h́nh ảnh học.

Với số liệu khiêm tốn, đây chỉ là nghiên cứu bước đầu trong việc kiểm chứng về hiệu quả và tính an toàn của Aspirin trong bệnh lư TMNCB. Qua những kết quả thu được, Chúng tôi hy vọng rằng trong thời gian tới sẽ có thêm điều kiện để mở rộng đề tài này với  quy mô lớn hơn và được thực hiện tại nhiều trung tâm  thần kinh, nhằm đánh giá chính xác hiệu quả và tính an toàn của Aspirin trong điều trị bệnh lư thiếu máu năo cục bộ cấp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

KHỐI TIẾNG VIỆT

1.    Nguyễn Văn Đăng. Tai biến thiếu máu năo cục bộ. Trong Tai biến mạch máu năo. Nhà xuất bản Y học 1996 : 83 - 101.

2.    Lê Văn Thành và Cộng sự. Nghiên cứu sơ bộ về dịch tể học bệnh tai biến mạch máu năo tại ba tỉnh thành phía nam : TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang và Kiên Giang. Công tŕnh nghiên cứu khoa học 1994 –1995. Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.

3.      Lê Văn Thành và Cộng sự. Nhồi máu năo : Lâm sàng và điều trị 883 ca tại khoa thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy từ 1990-1997. Hội thảo Y Dược Pháp-Việt lần thứ ba.

4.     Nguyễn Thi Hùng. Một số nhận xét về đặc điểm h́nh thái học và tiên lượng của nhồi máu năo qua kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính

KHỐI TIẾNG ANH

5.     Adams RD, Victor M, Ropper AH. Cerebrovascular Disease. In Principles Of  Neurology. Mcgraw – Hill. 5ed. 1993 : 669 – 676.

6.    Babette B. Weksler. Platelet Function And Antiplatelet Agent. In Stroke : Pathophysiology, Diagnosis, And Management. Churchill Livingstone. 3ed. 1998 : 1041 – 1051.

7.     Easton DJ, Hauser SL, Martin JB. Cerebrovascular Disease. In Harrison ‘S Principles Of Internal Medicine. Mcgraw – Hill. 14ed. 1998 : 2325 – 2347.