|
|
PH̉NG
NGỪA NHỒI MÁU NĂO TIÊN PHÁT
BS
Đào Tiến Xuân,Trưởng khoa Thần kinh, BV Đa
Khoa Kiên Giang MỞ
ĐẦU
Đột
quỵ năo (ĐQN) là bệnh lư đứng hàng thứ
ba trong các bệnh gây tử vong tại Hoa Kỳ. Có
khoảng 700.000 ca đột quỵ mỗi năm1,2.
Hội Tim Mạch Học Hoa Kỳ ước luợng gánh
nặng chi phí cho điều trị đột quỵ là
55 tỉ đô la (1999)3. Mặc dù đă có nhiều
tiến bộ trong điều trị ĐQN nhưng phương
cách tốt nhất để giảm gánh nặng này
vẫn là pḥng ngừa4,5. Việc nên làm là xác định
những cá thể có nguy cơ cao bị ĐQN
và từ đó có kế hoạch điều
trị đặc hiệu6. Điểm này rất quan
trọng v́ các dữ liệu dịch tễ học cho
thấy hiện có sự suy giảm tỉ lệ tử
vong nhưng tỉ lệ
mắc bệnh lại tăng7,8. Chuyên
đề này nhằm điểm lại các vấn đề
liên quan đến công tác pḥng ngừa đột
quỵ năo đang tiến hành trên thế giới để
từ đó rút ra được những bài học cho
công tác pḥng bệnh trong điều kiện thực
tế của nước ta. CÁC
YẾU TỐ NGUY CƠ
Các
yếu tố nguy cơ không thể thay đổi Mặc
dù những yếu tố nguy cơ (YTNC) này không thể
thay đổi được nhưng cũng giúp xác
định những người có nguy cơ bị đột
quỵ cao nhất và những người sẽ có
nhiều lợi ích nếu áp dụng phương pháp pḥng
ngừa chặt chẽ hoặc trong điều trị các
YTNC có thể thay đổi được. Tuổi:
Tác động chồng chất của yếu
tố tuổi tác lên hệ tuần hoàn và trên trạng
thái tiến triển của các YTNC của ĐQN trong
một thời gian dài thực tế đă làm tăng
nguy cơ bị đột quỵ. Nguy cơ bị đột
quỵ năo tăng gấp đôi cho mỗi thập niên
sau độ tuổi 55 trở đi8,9. Giới
tính: Đột
quỵ năo phổ biến hơn ở nam giới so
với nữ giới8. Nói chung nam giới bị ĐQN
khi cao tuổi nhiều hơn nữ giới ngoại
trừ ở độ tuổi 35-44 và trên 85 th́ nữ
lại bị đột quỵ hơi nhiều hơn
nam10. Tuy nhiên số trường hợp tử vong có liên
quan đến ĐQN lại cao hơn ở nữ
giới. Trong năm 1977 tỉ lệ tử vong do đột
quỵ ở nữ là 60,8%2. Nói chung có 1 trong 6 nam sẽ
chết do ĐQN so với 1 trong 25 nữ sẽ chết do
ung thư vú11. Việc sử dụng thuốc ngừa thai
và thai nghén tạo nên nguy cơ ĐQN ở nữ
giới12,13. Chủng
tộc: Người
da đen1,10,14 và một số người Mỹ gốc Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha14,15 có tỉ lệ mắc ĐQN
và có tử vong cao hơn người da trắng. Tỉ
lệ ĐQN và tử vong cao trên người da đen có
thể là do sự tăng phổ biến các bệnh tăng
huyết áp, béo ph́ và đái tháo đường trong
cộng đồng người da đen16,17. Các cộng
đồng người Nhật và Trung Quốc cũng có
một tỉ suất bị ĐQN cao18. Tiền
sử gia đ́nh: Cả bố và mẹ bị ĐQN
có thể làm tăng nguy cơ bị đột quỵ
ở con19. Sự tăng nguy cơ này có thể thông qua
một số cơ chế di truyền bẩm sinh của các
yếu tố nguy cơ, sự thừa kế các tác động
của các yếu tố này, tính tương đồng
của nếp sinh hoạt , môi trường và cung cách
sống của gia đ́nh và sự tương tác giữa
các yếu tố di truyền và môi trường20. Các
khảo sát về các cặp sinh đôi cho thấy các
bằng chứng thừa kế bệnh lư đột
quỵ của gia đ́nh. Tỉ lệ bị ĐQN đặc
biệt cao hơn hẳn ở các cặp sinh đôi cùng
trứng so với các cặp sinh đôi hai trứng21. Các
yếu tố nguy cơ đủ chứng cứ có thể
thay đổi được Nhiều
YTNC của ĐQN đủ chứng cứ có thể thay
đổi đuợc Tăng
huyết áp: Tăng
huyết áp (HA) là một YTNC chủ yếu cho cả hai
thể nhồi máu năo (NMN) và xuất huyết năo22. Tỉ
lệ mắc bệnh của ĐQN tăng tương
ứng với sự tăng HA tâm thu và tâm trương.
Huyết áp, đặc biệt là HA tâm thu, tăng theo
tuổi tác. Tăng HA tâm thu đơn thuần là một
yếu tố nguy cơ quan trọng của ĐQN ở người
cao tuổi (HA tâm thu (160 mmHg và HA tâm trương( 90 mmHg)23. Trong
hơn 30 năm qua đă có những bằng chứng đầy
tính thuyết phục cho sự kiểm soát đuợc tăng
HA đă ngăn ngừa đuợc ĐQN cũng như ngăn
ngừa hoặc giảm thiểu tổn thương các cơ
quan đích ( suy tim mất bù, suy thận )24,25. Một phân
tích tổng hợp 18 nghiên cứu ngẫu nhiên dài hạn
cho thấy liệu pháp ức chế bêta và lợi
tiểu liều cao có hiệu quả pḥng chống ĐQN26.
Trong 10 năm qua , việc kiểm soát được tăng
HA tâm thu nhằm ngừa ĐQN trên người cao tuổi
đă đuợc nghiên
cứu nhiều. Trong một nghiên cứu27 trên 4695 bệnh
nhân (BN) bị tăng HA tâm thu đơn thuần đuợc
điều trị ngẫu nhiên (bằng nitrendipine và có
thể với enalapril hoặc hydrochlorothiazide để
hạ 20 mmHg HA tâm thu ) so với nhóm dùng giả dược.
Nghiên cứu đă ngưng khi có sự giảm tỉ
lệ ĐQN là 42% trong nhóm dùng thuốc. Chương tŕnh
Tăng HA Tâm thu trên Người cao tuổi ( The Systolic
Hypertension in the Elderly Program ) cho thấy có sự giảm 36%
tỉ lệ mắc bệnh ĐQN với thuốc hạ
HA ( chlorthalidone hoặc atenolol )28. Tuy nhiên dù có nhiều
nỗ lực trong công tác tuyên truyền giáo dục
sức khoẻ cho cộng đồng nhưng vẫn c̣n
một số luợng đáng kể BN tăng HA trong
cộng đồng không được chẩn đoán và
điều trị đúng đắn. Hút
thuốc lá: Việc
hút thuốc lá đă đuợc nhận thức là
một yếu tố nguy cơ chủ yếu của ĐQN.
Tác động sinh lư bệnh học của việc hút
thuốc xảy ra trên cả hệ mạch máu toàn thân và
sự lưu thông của máu. Thuốc là làm mạch máu kém
căng phồng và giảm đáp ứng cung cấp máu do
làm cứng thành mạch29. Thuốc lá cũng kết
hợp với tăng kết dính tiểu cầu, tăng
thể tích huyết cầu và giảm mức
cholesterol mật độ cao (HDL cholesterol)30. Một
phân tích tổng hợp trên 22 nghiên cứu cho thấy có
sự tăng gấp đôi nguy cơ NMN ở những người
hút thuốc so với nguời không hút 31. Một ước
đoán về sự tăng 1,8 lần của nguy cơ
ĐQN kết hợp với thuốc lá ( sau khi đă
loại các yếu tố nguy cơ khác) của Nghiên
cứu tim mạch Framingham xác định sự gia tăng
nguy cơ này32. Việc
đă từng hút thuốc vẫn làm tăng nguy cơ
bị ĐQN làm cho nỗ lực ngăn chặn việc
bắt đầu hút thuốc trở nên vô cùng quan
trọng cho việc đề pḥng ĐQN. Nguy cơ tương
đối (relative risk) của ĐQN ở người
đă từng hút thuốc là
1,34ù trong Khảo sát Sức khỏe Điều dưỡng33.
Tuy nguy cơ bị ĐQN trên những người đă
từng hút thuốc sẽ giảm dần khi thời gian ngưng
thuốc tăng dần nhưng khảo sát Framingham 34 cho
thấy nguy cơ ĐQN vẫn hiện diện trong
thời gian 5 năm sau khi đă ngưng hút thuốc.
Một báo cáo khác33 cho thấy nguy cơ bị NMN biến
mất từ 2 đến 4 năm sau khi ngưng hút
thuốc và lợi ích của việc ngưng hút này độc
lập với tuổi bắt đầu hút và số
luợng thuốc hút mỗi ngày. Việc
tránh hít phải khói thuốc lá trong môi trường
sống cũng có vai tṛ trong việc pḥng ngừa ĐQN.
Việc phát hiện nicotine trong huyết thanh của
khoảng 90% người không hút thuốc được
cho là do phơi nhiễm trong môi trường có khói
thuốc lá 35. Người ta cho rằng việc phơi
nhiễm này làm tăng nguy cơ bị bệnh mạch vành
từ 20%-70% và ước đoán có khoảng 62.000 tử
vong do bệnh mạch vành trong năm 1985 là do nhiễm khói
thuốc lá trong môi trường sống 35. T́nh
trạng xơ vữa mạch có thể dẫn đến
ĐQN và bệnh mạch vành nên rất hợp lư khi cho
rằng việc hít phải khói thuốc trong môi trướng
là nguyên nhân của một số trường hợp
ĐQN. Bonita và cs36 t́m thấy có sự tăng gấp 1,8
lần nguy cơ bị ĐQN trên người không hút
thuốc nhưng có sống dài ngày trong môi trường
nhiều khói thuốc và nguy cơ này có ư nghĩa ở
cả nam lẫn nữ giới. Tóm
lại các dữ kiện trên cho thấy dân số bị
nguy cơ đột quỵ có liên quan đến nhiễm
khói thuốc lá dưới nhiều h́nh thức khác nhau là
rất đáng quan tâm, nhất là trên những người
hắng ngày đang hút thuốc. Đái
tháo đường, Cường insuline máu, Kháng insuline: Thể
đái tháo đuờng (ĐTĐ) phụ thuộc insuline
vừa làm tăng t́nh trạng xơ vữa mạch
lẫn tăng tỉ lệ mắc phải các yếu
tố nguy cơ gây xơ vữa , đặc biệt là tăng
huyết áp, béo ph́ và rối loạn lipid máu. Người
ta cũng ghi nhận được một nhóm các yếu
tố nguy cơ chuyển hóa mệnh danh là hội
chứng X trong vài trường hợp ĐTĐ typ 2 37,38.
Đặc trưng chính của hội chứng X là cường
insuline huyết và kháng insuline. Điều này dẫn đến
các biểu hiệu thứ phát của hội chứng , bao
gồm tăng đuờng huyết, tăng VLDL
(very-low-density lipoprotein ) cholesterol, giảm HDL cholesterol và tăng
huyết áp. Các
khảo sát về ĐQN và các nghiên cứu dịch tễ
học đă xác nhận tác động của ĐTĐ
trên ĐQN. Tại Hoa Kỳ, từ 1976 đến 1980,
suất độ ĐQN là 2,5 đến 4 lần thường
gặp hơn trên người bị ĐTĐ so với người
có mức đường huyết b́nh thường. Trong
Chương tŕnh Tim mạch Honolulu, những nam giới người
Hawai gốc Nhật bị ĐTĐ có nguy cơ đột
quỵ do huyết khối-thuyên tắc mạch gấp 2
lần những người không bị ĐTĐ. Đây
là một sự tăng nguy cơ độc lập với
các yếu tố khác39. Trong Khảo sát Tim mạch
Framingham, mặc dù tác động lớn nhất của
ĐTĐ là trên bệnh lư mạch ngoại biên ( nguy cơ
tăng gấp 4 lần ), nhưng vẫn có tác động
trên mạch vành tim và mạch năo. Đối với NMN, t́nh
trạng bất dung nạp glucose tác động mạnh trên
nữ giới hơn là trên nam giới. Nói chung ở BN có
t́nh trạng bất dung nạp glucose sẽ bị nguy cơ
NMN cao gấp đôi người có glucose máu b́nh thường40. Tăng
HA thường thấy trên BN bị ĐTĐ typ 2 với
tỉ lệ từ 40%-60% ở người trưởng thành
.Người ta tin rằng sự kết hợp ĐTĐ và
tăng HA làm tăng tần suất biến chứng do
ĐTĐ, trong đó có ĐQN. Các khảo sát gần
đây nhất so sánh lợi ích của việc kiểm soát
chặt đường huyết và HA ở người
ĐTĐ typ 2 cho thấy có sự giảm 44% nguy cơ tương
đối ĐQN trên nhóm có kiểm soát chặt đuợc
HA ( HA trung b́nh đạt 144/82 mmHg) so với nhóm có HA chưa
đuợc kiểm soát chặt ( HA trung b́nh là 154/87 mmHg
)41. Tuy nhiên việc chỉ kiểm soát tốt đuờng
huyết lại không tạo nên sự giảm có ư nghĩa
tỉ lệ mắc phải của ĐQN sau 9 năm theo dơi41. Từ
các quan sát trên và từ một nghiên cứu mới đây
cho phép rút ra kết luận là việc kiểm soát
chặt chẽ tăng HA trên BN bị đái tháo đuờng
làm giảm tỉ lệ mắc ĐQN43. Các biện pháp
hiện hành nhằm kiểm soát chặt đuờng
huyết lại ít có giá trị trong việc pḥng ngừa
ĐQN. Tuy nhiên việc kiểm soát chặt đuờng
huyết (với ( 3 liều insuline/ 1 ngày) ở BN bị
ĐTĐ lệ thuộc insuline ( ĐTĐ typ 1) dẫn
đến việc làm giảm các biến chứng vi
mạch, biến chứng lên thận và vơng mạc cũng
như bệnh thần kinh ngoại biên41. Trong
một nghiên cứu pḥng ngừa bệnh tim mạch44, 3.577
BN đái tháo đường ( trong số 9.541 BN của
nghiên cứu này )được nhận thêm một
thuốc ức chế men chuyển là ramipril . Kết quả là có sự giảm 25% số
tử vong có liên quan đến nhồi máu cơ tim, đột
quỵ năo và bệnh tim mạch và giảm 33% tỉ
lệ ĐQN so với nhóm dùng placebo. Lợi ích này
vẫn có ngay cả khi HA chỉ hạ ít trong nhóm BN dùng
ramipril. Người ta cũng thấy có sự giảm các
biến chứng của đái tháo đuờng ( bệnh lư
thận, lọc thận ). Như
vậy việc kiểm soát tăng HA trên BN đái tháo
đuờng và điều trị BN đái tháo đuờng
(có nguy cơ cao bị ĐQN) với thuốc ức
chế men chuyển ramipril có khả năng ngừa
được đột quỵ năo. Hẹp
động mạch cảnh chưa có triệu chứng:
Có
khoảng 7%-10% nam giới và 5%-7% nữ giới trên 65
tuổi bị hẹp ( 50% đường kính động
mạch (ĐM) cảnh45,46. Nhiều
nghiên cứu đă được tiến hành nhằm xác
định nguy cơ tăng ĐQN trên các
BN bị hẹp ĐM cảnh chưa có triệu
chứng. Một nghiên cứu47 cho thấy đốt
quỵ dạng thiếu máu năo thường gặp hơn
trên những BN bị hẹp ĐM cảnh nặng ((75%
đường kính ), hẹp ĐM cảnh tiến
triển hoặc có bệnh tim và ở nam giới. Một
công tŕnh khác48 theo dơi 38 trường hợp bị hẹp
(90% ĐM cảnh trong chưa có triệu chứng lâm sàng
trong thời gian trung b́nh là 48 tháng cho thấy mỗi năm
có 1,7% BN bất ngờ bị ĐQN cùng bên với bên
bị hẹp.Với hai nghiên cứu khác49,50 qua 5 năm
quan sát cho thấy nguy cơ
bị ĐQN hàng năm là 3,2% trên những BN bị
hẹp 60% đến 99% ĐM cảnh. Nguy cơ trung b́nh
bị ĐQN cùng bên ĐM bị hẹp hàng năm là 3 %
(cho những trường hợp hẹp 60%-74% ) sẽ tăng
lên 3,7% nếu hẹp 75%-94%. Tóm
lại các quan sát này cho thấy tỉ lệ đột
quỵ năo phía cùng bên với hẹp ĐM cảnh đoạn
ngoài sọ có kèm rối loạn huyết động
học rơ là từ (1% đến 2% mỗi năm. Vài quan sát
khác đưa ra tỉ lệ ĐQN cao hơn trên những
BN có hẹp ĐM tiến triển so với BN có t́nh
trạng bệnh ổn định và cao hơn nữa
nếu hẹp nặng hơn. Một hẹp ĐM cảnh
chưa có triệu chứng có biểu hiện là một
tiếng thổi tại ĐM cảnh có thể là chỉ
điểm quan trọng của bệnh lư thiếu máu tim
đồng thời47,48. Nghiên cứu bóc tách 158 trường
hợp hẹp mạch cảnh chưa có triệu chứng
của dưỡng đường Mayo51 cho thấy không có
trường hợp nào bị ĐQN hoặc chết. Tuy
nhiên đă phải ngưng nghiên cứu này do tỉ
lệ nhồi máu cơ tim sau đó là 26% so với tỉ
lệ 9% ở nhóm điều trị nội khoa với
aspirin ( p=0,002). Quan sát này cho thấy một tỉ lệ
bệnh mạch vành cao cùng xảy ra trên những BN bị
hẹp ĐM cảnh . Nghiên
cứu Xơ Vữa ĐM Cảnh Chưa Triệu
Chứng52 giúp đánh giá lợi ích của phẫu
thuật bóc tách mạch cảnh trên những BN bị
hẹp cấp độ cao( (60% đường kính ĐM
cảnh). Đă có 828 BN được bóc tách ĐM có kèm
điều trị nội và 834 BN chỉ điều
trị nội không bóc tách ĐM. Có 1,2% nguy cơ bị
biến chứng có liên quan đến chụp động
mạch ( trong số 424 ca có làm mạch đồ ) và 2,3%
nguy cơ bị ĐQN quanh thời gian phẫu thuật. Người ta đă ngưng nghiên
cứu sau thời gian theo dơi trung b́nh là 2,7 năm do phương
pháp phẫu thuật đă mang lại ích lợi rơ
rệt. Ở nhóm BN đuợc phẫu thuật, tỉ
lệ ĐQN hoặc
chết là 5% trong hơn 5 năm so với 11% ở nhóm BN
điều trị bằng thuốc ( giảm 53% nguy cơ,
p=0,004 ).Kết quả kém hơn ở nữ ( chỉ
giảm 17% nguy cơ so với giảm 66% ở nhóm nam ) do
nhiều biến chứng quanh cuộc mổ hơn ở
nữ ( 3,6% ở nữ và 1,7% ở nam). Như
vậy nên tiến hành phẫu thuật bóc tách ĐM
cảnh chưa triệu chứng ở BN bị hẹp
ở cấp độ cao với tỉ lệ tử vong và
thương tật là ( 3%. Cần cẩn thận khi
lựa chọn BN, chú ư các thông số cá nhân như
giới tính, niềm hy vọng vào cuộc sống và
rất cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ
của phẫu thuật. Rung
nhĩ: Rung
nhĩ (RN) là một rối loạn nhịp tim thường
gặp và là một yếu tố nguy cơ quan trọng
của ĐQN, nhưng nếu điều trị tốt
sẽ giúp pḥng ngừa ĐQN rất hiệu quả. Trên
BN bị rung nhĩ không tổn thương van tim có nguy cơ
ĐQN hàng năm là 3%-5% và RN là nguyên nhân của 50% trường
hợp ĐQN do huyết khối-thuyên tắc mạch53.
Một ước tính cho thấy khoảng hai phần ba
ĐQN trên BN bị rung nhĩ là do tắc mạch từ
tim. Nghiên cứu Framingham54 cho thấy có một sự gia tăng
rơ rệt ĐQN trên BN bị rung nhĩ khi tuổi tác tăng:
từ 1,5% ở tuổi 50-59 lên 23,5% ở tuổi 80-89. Việc
khảo sát hiệu quả của warfarin trong việc pḥng
ngừa NMN qua 5 nghiên cứu có đối chứng với
placebo55-59 cũng như khảo sát hiệu quả của
aspirin được tiến hành cũng qua 2 trong 5 nghiên
cứu này55, 57 đă cung cấp các dữ liệu cho
thấy nguy cơ tương đối của NMN giảm
68% ở nhóm BN dùng warfarin. Các
nghiên cứu trên cũng gợi ư một số yếu
tố giúp tiên đoán nguy cơ cao bị ĐQN trên
những BN có rung nhĩ . Đó là các yếu tố cao
tuổi, đă từng bị cơn thiếu máu năo thoáng
qua hoặc ĐQN, tăng HA tâm thu ( (160 mmHg), tiền sử
có bị tăng HA, loạn
chức năng thất trái, đái tháo đuờng
phụ thuộc insuline và nữ giới hơn 75 tuổi.
Việc điều trị dài hạn những BN có các nguy
cơ cao này với thuốc kháng đông uống giúp
giảm nguy cơ bị ĐQN từ 68% đến 80%60. Các
bệnh tim mạch khác: Các
bệnh tim mạch khác có thể gây nên một số ít
trường hợp NMN bao gồm bệnh cơ tim dăn
nở, bệnh van tim ( như sa van hai lá, viêm nội tâm
mạc, có van tim nhân tạo) và các khuyết tật trong
tim bẩm sinh (như c̣n lỗ bầu dục, khuyết
tật vách tâm nhĩ, ph́nh mạch vách nhĩ ). Nói chung
dự đoán có khoảng 20% các trường hợp
thiếu máu năo là do thuyên tắc mạch từ tim. Căn
nguyên tắc mạch từ tim này có lẽ chiếm đến
40% các trường hợp NMN chưa rơ nguồn gốc
ở vài nhóm BN trong đó có những người c̣n
trẻ 61. Bệnh
lư mạch năo có thể kết hợp với các bệnh
tim mạch có hay không có triệu chứng62-65 .Theo Khảo
sát Tim mạch Framingham54, 8% nam giới và 11% nữ giới
sẽ bị ĐQN trong ṿng 6 năm sau nhồi máu cơ
tim cấp. Thêm nữa nhồi máu cơ tim thường
kết hợp với sự phát triển của rung nhĩ
và là nguyên nhân thường gặp của tắc mạch
năo từ tim54. Tuy nhiên vài nghiên cứu khác66,67
lại cho thấy nhồi máu cơ tim cấp lại ít
kết hợp với ĐQN do chỉ xảy ra trong 0,8% BN. Đột
quỵ năo xảy ra khoảng 1%-7% trường hợp BN
đang được mổ tim ( nhất là trong phẫu
thuật bắc cầu mạch vành và mổ tim hở ).
Tiền căn tổn thương mạch năo, tuổi cao,
đái tháo đường và rung nhĩ là những
yếu tố nguy cơ cao cho ĐQN sau một cuộc
mổ tim68-70. Các yếu tố khác kết hợp
với việc ĐQN xảy ra quanh cuộc mổ tim là
khoảng thời gian bắc cầu tim phổi (cardio-
pulmonary bypass) và sự hiện diện của xơ vữa
ĐM chủ 71,72. Bệnh tế bào h́nh liềm (Sickle Cell Disease)
Bệnh tế bào h́nh liềm (TBHL) là rối loạn di
truyền trên nhiễm sắc thể trội trong đó
sự biến đổi chuỗi ( của hemoglobin do
bất thường về gen. Dù có nhiều biểu
hiện lâm sàng nhưng thể bệnh TBHL điển h́nh
xuất hiện lúc trẻ dưới thể thiếu máu
tán huyết nặng xen kẽ với những cơn đau
xảy ra tại tứ chi và hệ xương, nhiễm
khuẩn và nhồi máu nội tạng trong đó có NMN. Ngoài
ra c̣n có những biểu hiện toàn thân như phát
triển bất thường hoặc chậm phát
triển73 . Việc
quan trọng cần làm là pḥng ngừa ĐQN trên những
BN đồng hợp tử bị bệnh TBHL. Tỉ
lệ bị ĐQN trên những BN này ở tuổi 20 là
11% và một số đáng kể BN bị ĐQN chỉ
thấy trên h́nh ảnh cộng hưởng từ năo74
.Tỉ lệ bị đột quỵ cao nhất xảy ra
trong thời thơ ấu. Nguy cơ bị đột
quỵ trong thời kỳ này khoảng 1%/ năm nhưng trên
BN có tăng vận tốc máu
qua năo ((200 cm/s đo qua Doppler xuyên sọ ) th́ tỉ lệ
này vượt hơn 10% /năm. Nghiên
cứu STOP (Stroke Prevention Trial in Sickle Cell Anemia)75 trên 120
trẻ bị thiếu máu hồng cầu h́nh liềm đuợc
truyền máu cách quăng (trung b́nh 14 lần / năm trong
thời gian hơn 2 năm) với mục tiêu hạ Hb S
từ 90%-95% lượng Hemoglobin
xuống c̣n ( 30% so với nhóm điều trị thường
quy. Các tác giả đă ngừng nghiên cứu 16 tháng
sớm hơn dự kiến khi kết quả đạt
được chỉ có 1 trường hợp bị ĐQN
trong nhóm đuợc truyền máu so với 11 trường
hợp bị ĐQN trong nhóm không truyền máu.Nguy cơ
bị ĐQN giảm từ 10% /năm xuống ( 1% /năm . Tuy
nhiên người ta vẫn chưa xác định được
thời gian cần truyền máu. Truyền máu dài hạn
dẫn đến ngộ độc chất sắt .Trong
nghiên cứu STOP không thấy trường hợp nào
bị nhiễm khuẩn do truyền máu nhưng nhiễm
khuẩn và hiện tượng tự miễn là nguy cơ
của truyền máu. Vai tṛ của
các phương pháp trị liệu khác như ghép tủy
xương hoặc dùng hydroxyurea có thể làm giảm các
cơn đau nhưng không loại trừ khả năng gây
tổn thương nội tạng trong đó có tổn thương
năo nên cần nhiều nghiên cứu thêm76 .Chưa thấy
bằng chứng thuốc kháng đông và chống ngưng
tập tiểu cầu có hiệu quả. Chưa có đủ
các dữ liệu về việc pḥng ngừa TBMN ở người
trưởng thành bị bệnh TBHL. Vấn đề
đang đuợc lưu tâm là cần có các phương
pháp pḥng ngừa khác ngoài việc truyền máu cho
những BN này. Tăng lipid máu: Các
rối loạn lipid máu ( trilycerides, cholesterol, LDL và HDL
cholesterol) đă đuợc chấp nhận là yếu
tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Tuy nhiên
nhiều nghiên cứu gần đây đă giúp làm rơ
mối liên hệ giữa lipid và ĐQN cũng như cho
thấy liệu pháp làm giảm cholesterol có thể làm
giảm nguy cơ ĐQN và giảm mảng xơ vữa
ở ĐM chủ. Vài
nghiên cứu cho thấy có một mối tương quan
yếu giữa nồng độ cholesterol máu với
việc gia tăng nguy cơ NMN77. Nghiên cứu MRFIT (Multiple
Risk Factor Intervention Trial )78 cho thấy có gia tăng tử
vong trên nam giới có cholesterol máu cao : tỉ số nguy cơ
( risk ratio) là 1,8 với cholesterol máu là 240-279 mg/dL và là 2,6
ứng với mức cholestrol ( 280 mg/dL. Nghiên cứu Tim
mạch Honolulu39 cho thấy có một sự gia tăng liên
tục và phát triển không ngừng cả bệnh
mạch vành lẫn ĐQN do huyết khối-thuyên tắc
mạch cùng với mức tăng cholesterol. Ngoài ra trong các
nghiên cứu Oxfordshire (Oxfordshire Community Study ) và nghiên
cứu Bắc Mahattan ( North Mahattan Stroke Study )79,80 các tác
giả cũng đă phát hiện một mối liên hệ
giữa nồng độ HDL cholesterol và nguy cơ bị
ĐQN. Các nghiên cứu mới đây dùng kỹ thuật
siêu âm đă phát hiện mối liên hệ giữa
mức lipid máu với t́nh trạng xơ vữa ĐM
cảnh đoạn ngoài sọ và độ dày của các
mảng xơ vữa tại nội mạc và trung mạc
của thành mạch 45,46. Trong
thời gian gần đây việc sử dụng chất
ức chế (-hydroxy-(-methylglutaryl-CoA( HMG-CoA) reductase (statin )
làm giảm sự tăng LDL
cholesterol đă có thể làm chậm tiến tŕnh xơ
vữa ĐM cảnh46,81,82. Quan sát này dựa trên khảo
sát h́nh ảnh siêu âm động mạch. Một
số nghiên cứu khác cho thấy lợi ích của
việc dùng statin trong việc giảm nguy cơ ĐQN trên
những BN có bệnh mạch vành có tăng cholesterol cũng
như trên những người chỉ có tăng cholesterol.
Nghiên cứu 4S ( Simvastatin Survival Study )khảo sát hiệu
quả của việc hạ cholesterol trên 4444 BN bị tăng
cholesterol và có kèm bệnh mạch vành83 .Trên nhóm BN đuợc
điều trị với simvastatin thấy có giảm 51%
NMN không do thuyên tắc mạch và giảm 35% cơn thoáng
thiếu máu năo (CTTMN). Năm 1998 Cơ quan Quản lư
Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đă
công nhận simvastatin làm giảm nguy cơ đột
quỵ lần đầu hoặc CTTMN trên người
bị bệnh mạch vành và có tăng cholesterol toàn
phần. Nghiên cứu CARE (Cholesterol And Recurrent Events )
khảo sát hiệu quả của việc hạ cholesterol
bằng pravastatin trên 4.159 BN đă từng bị đột
quỵ tim trong ṿng 2 năm trước đó đă cho
thấy có sự giảm 32% các trường hợp NMN
hoặc CTTMN84. Cùng năm 1998 FDA cũng công nhận
pravastatin có tác dụng giảm nguy cơ NMN hoặc CTTMN trên
BN đă bị nhồi máu cơ tim và có mức cholesterol b́nh
thường (cholesterol toàn phần( 240 mg/dL). Nguời
ta chưa biết chắc chắn làm thế nào statin có
thể giúp pḥng ngừa ĐQN. Việc giảm một
số trường hợp ĐQN có thể do sự thay
đổi thành phần lipoprotein nhưng statin cũng có
thể có tác động thông qua những cơ chế không
liên quan đến đặc tính làm giảm lipid máu như
cải thiện chức năng nội mạc, ổn định
các mảng xơ vữa, các đặc tính kháng viêm, kháng
huyết khối và bảo vệ tế bào thần kinh
85-87 . Tóm
lại nên có chỉ định sử dụng statin trên BN
có bệnh mạch vành và tăng LDL cholesterol. Cần có
một chế độ theo dơi và chăm sóc chặt
chẽ những BN có tăng cholesterol theo khuyến cáo
của Hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2001( Xem bảng
4).
Các
yếu tố nguy cơ có ít chứng cứ hoặc c̣n
nhiều biến đổi Các
yếu tố nguy cơ có ít chứng cứ hoặc c̣n
nhiều biến đổi đuợc tŕnh bày. Béo
ph́: Chứng
béo ph́ ( xác định qua tỉ số khối cơ
thể [BMI] ( 30 kg/m2 ) dẫn đến bệnh lư tim
mạch nói chung và ĐQN nói riêng. Tuy nhiên số trường
hợp mắc béo ph́ tăng khi tuổi tăng và béo ph́ cũng
kết hợp với tăng HA, tăng đuờng
huyết và tăng lipid huyết. Dựa trên các kết
hợp này th́ không có ǵ đáng ngạc nhiên khi béo ph́ có
liên hệ tới việc gia tăng nguy cơ ĐQN. Tuy nhiên
một số nghiên cứu khác cho rằng chính béo ph́ vùng
bụng chứ không phải béo ph́ toàn thân hoặc tăng
BMI mới có liên hệï nhiều đến nguy cơ
ĐQN. Nguy cơ tương đối của ĐQN là
2,33 trong một so sánh trị cực đại của
tỉ lệ số đo ṿng eo/ ṿng mông của nam
giới trong khảo sát Health Professionals Follow-Up Study88. Ở
nữ giới, béo ph́ kết hợp vơiù tăng nguy cơ
NMN nếu BMI tăng. Nguy cơ tương đối là
1,75 nếu BMI là 27-28,9 kg/m2, là 1,9 khi BMI là 29-31,9 kg/m2 và là
2,37 nếu BMI ³32
kg/m2 . Tăng trọng sau tuổi 18 cũng làm tăng nguy cơ
bị NMN89 . Như vậy, các chứng cớ mới đây
cho thấy béo ph́ vùng bụng trên nam giới cùng béo ph́
toàn thân và tăng trọng trên nữ giới là
những yếu tố nguy cơ độc lập
của ĐQN. Tóm
lại việc giảm cân là cần thiết trên những
người tăng trọng quá nhiều do tăng kết
hợp với các t́nh trạng có thể dẫn đến
ĐQN. Kém
hoạt động thể lực:
Hoạt
động thể lực hàng ngày ngoài việc giúp
giảm nguy cơ chết non và chết do bệnh tim
mạch c̣n góp phần vào việc làm giảm nguy cơ
ĐQN90-91. Các nghiên cứu Honolulu và Framingham90,91 cho
thấy tác dụng bảo vệ của hoạt động
thể lực đối với nam giới. Trên nữ
giới, nghiên cứu Copenhagen92 phát hiện một mối
liên quan ngược giữa mức độ hoạt động
thể lực và tần suất của ĐQN. Đôi
lúc khó mà đánh giá chính xác mối liên hệ giữa
mức độ hoạt động thể lực và
sự đáp ứng hoạt động này. Trong khảo sát
North Mahattan93, các hoạt động thể lựïc
mạnh mẽ tạo đuợc nhiều lợi ích hơn
so với các hoạt động thể lực nhẹ và
vừa phải. Cũng ghi nhận được tác
dụng bảo vệ này khi gia tăng thời gian vận
động . Tác dụng bảo vệ của hoạt động
thể lực có thể thông qua việc kiểm soát
được một số yếu tố nguy cơ đă
biết như tăng HA, bệnh tim mạch, đái tháo
đường và tăng cân. Các cơ chế sinh học
khác của hoạt động thể lực bao gồm
giảm fibrinogen máu, giảm hoạt tiểu cầu và tăng
HDL- cholesterol 94-96. Trung
tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ97 khuyến cáo nên
có vận động thể lực vừa phải ít
nhất 30 phút mỗi ngày trong phần lớn hoặc
tốt hơn là trong tất cả các ngày trong tuần.
Nhằm ngừa đột quỵ
cần mức hoạt động từ nhẹ cho
đến vừa phải như đi bộ. Có thể có
thêm lợi ích khi gia tăng cường độ và
thời gian hoạt động thể lực trong các
hoạt động giải trí của từng cá nhân.
Hoạt động thể lực là một hành vi có
nhiều thay đổi nên cần nghiên cứu t́m hiểu
thêm trong công tác pḥng ngừa ĐQN. Kém
dinh dưỡng: Chúng ta chưa có nhiều dữ
liệu về sự tác động của t́nh trạng
dinh dưỡng trên nguy cơ đột quỵ năo cũng
như chưa thấy các bằng chứng làm giảm nguy cơ
ĐQN của việc bổ sung vitamin E hoặc C vào
khẩu phần ăn hàng ngày. Có thể có mối liên
hệ bảo vệ ngừa ĐQN của việc ăn trái
cây và rau củ, đặc biệt là các loại rau
thuộc họ cải , nhiều lá xanh và trái cây họ
cam quít 98. Nghiên cứu này cho thấy trên người không
có bệnh tim nguy cơ tương đối của ĐQN
là 0,69 ( với ĐTC 95%, 0,52-0,92) nếu họ thường
xuyên ăn rau và trái cây. Việc sử dụng rau quả
1 lần trong ngày kết hợp với sự giảm 6%
nguy cơ đột quỵ. Tuy nhiên chưa thể
khẳng định tác động này là do chế độ
ăn uống này hay chỉ là phản ảnh của
một lối sống khỏe mạnh của những cá
nhân này. Nghiện rượu:
C̣n nhiều tranh
luận về vai tṛ của rượu như là một
yếu tố nguy cơ của NMN và có lẽ có liên quan
đến lượng rượu được uống.
Với xuất huyết năo, các nghiên cứu cho thấy rượu
có một tác động trực tiếp có liên quan
với liều lượng uống99,100. Với NMN,
nghiện rượu nặng và ngộ độc rượu
cấp làm tăng nguy cơ NMN ở người trẻ101.
Ở người lớn tuổi, nguy cơ này chỉ tăng
trên nam giới nghiện rượu nặng. Không có
sự khác nhau về tác động của rượu
giữa nam và nữ và rượu lại có một tác
dụng bảo vệ nếu uống một lượng
vừa phải 99,100,102. Tác dụng bảo vệ này
thấy ở những người uống không quá 2
lần một ngày và nguy cơ NMN tăng lên nếu
uống hơn 5 lần/ ngày so
với những người không uống. Tác động
độc hại của rượu đối với
ĐQN có thể qua nhiều cơ chế như tăng HA,
tăng đông máu, loạn nhịp tim và giảm tuần
hoàn máu năo. Tuy nhiên nếu chỉ uống rượu
với lượng ít hoặc vừa th́ có thể
giảm nguy cơ bệnh mạch vành tim, tăng
HDL-cholesterol và tăng hoạt hóa plasminogen nội sinh
của mô. Việc chỉ định rượu cho
những người không uống là việc khó làm nhưng
việc không uống nhiều, chỉ uống vừa
phải ( không hơn 2 lần một ngày ) cho những người
đang uống rượu có khả năng không gây nguy
hiểm và có thể c̣n làm giảm tỉ lệ bị
ĐQN. Tăng
homocysteine máu: B́nh thuờng mức homocysteine trong máu
là 5-15 (mol/L và mức (16 (mol/L được xem là tăng
homocysteine máu103. Một số nghiên cứu ca-bệnh
chứng (case-control study) cho thấy có mối liên hệ
giữa tăng homocysteine máu và ĐQN. Boushey và cs104
nhận thấy khi trị số homocysteine máu tăng lên 5
(mol/L th́ nguy cơ tương đối gần đúng
(odd ratio) của ĐQN là 1,5( ở ĐTC 95% là 1,3-1,9 ).
Trong nghiên cứu Framingham105, nguy cơ tương đối
( relative risk )của ĐQN là 1,82 ( ở ĐTC 95% là 1,59-
3,18) . Tuy sự liên quan giữa tăng homocysteine và nguy cơ
ĐQN là đáng tin cậy về mặt sinh học nhưng
lại là kết quả của nhiều nghiên cứu
ca-bệnh chứng nên vẫn cần có thêm các nghiên
cứu khác để xác định vấn đề. Acid
folic cùng sinh tố B6 và B12 được chứng minh là có
tác dụng hạ mức tăng homocysteine máu. Tuy nhiên
vẫn c̣n thiếu các nghiên cứu ngẫu nhiên chứng
tỏ việc hạ homocysteine máu dẫn đến
giảm tỉ lệ ĐQN. Nghiện
ma túy: Việc
nghiện các chất ma túy nhất là amphetamine, cocaine và
heroin nổi lên như một mối lo ngại nghiêm
trọng cho sức khoẻ cộng đồng. Mặc
dầu các dữ liệu đầu tiên xuất phát
từ các nghiên cứu dịch tễ học trên những
cộng đồng dân cư có mức sinh hoạt kinh
tế xă hội thấp nhưng rất đáng lưu ư
khi có sự gia tăng tỉ lệ xuất huyết năo
lẫn nhồi máu năo gấp 7 lần trên những người
nghiện ma túy106,107 . Tuy nhiên Qureshi và cs 108
lại cho rằng không có mối liên hệ giữa
nghiện ma túy và ĐQN. Sinh bệnh học của ĐQN
trong các trường hợp nghiện ma túy gồm
nhiều yếu tố như cơn tăng HA đột
ngột , viêm mạch máu, các bất thường về
huyết động học và huyết học gây tăng
độ nhớt của máu và tăng ngưng tập
tiểu cầu109 . Tăng
đông máu: Tuy
nhiên chưa có được sự nhất trí trong
việc xác định thế nào là xét nghiệm aPL có
kết quả dương tính có ư nghĩa. Kết quả
là chưa có được các dữ kiện chính xác
về chỉ số lưu hành hoặc nguy cơ của
ĐQN có liên quan với sự hiện diện của aPL.
Mặc dù đă có các phương pháp điều trị
theo kinh nghiệm nhằm ngừa ĐQN thứ phát trên BN có
aPL nhưng vẫn chưa đủ bằng chứng cho
thấy hiệu quả của các phương pháp này110 .
Vẫn cần thêm các nghiên cứu khác cho việc pḥng
ngừa ĐQN tiên phát trên những BN có aPL. Một
số thông báo trường hợp và nghiên cứu
ca-bệnh chứng cho thấy có sự liên hệ giữa
các đông máu bất thường khác ( như yếu
tố V Leiden, thiếu hụt protein C, protein S và kháng-thrombin
III…)111-114 với ĐQN nhưng những quan sát này chưa
loại được tác động của các nguy cơ
khác. Các nghiên cứu gần đây nhất về các
bất thường đông máu này vẫn chưa đủ
khẳng định đấy là các yếu tố nguy cơ
độc lập đối với ĐQN. Thế nên
hiện nay t́nh trạng tăng
đông khó được xem là mục tiêu cho việc pḥng
ngừa ĐQN. Liệu pháp thay thế hormon: Tuy chưa có các chứng cứ rơ rệt về
vai tṛ của liệu pháp thay thế hormon trong thời
kỳ hậu măn kinh như là một yếu tố nguy cơ
của ĐQN nhưng do
thiếu các nghiên cứu đối chứng nên chưa
thể có kết luận cụ thể. Từ 1980 có ít
nhất 18 nghiên cứu về vấn đề này đă
được công bố115 nhưng trừ Nghiên cứu
Tim Framingham116 ra, không có nghiên cứu nào phát hiện có
sự gia tăng nhiều nguy cơ ĐQN cả. Nghiên
cứu Framingham cho thấy có sự gia tăng gấp 2,6
lần nguy cơ tương đối của NMN trên
phụ nữ nhận liệu pháp thay thế hormon so
với những người không điều trị trong
khi một đánh giá khác117 cho thấy liệu pháp này không
có tác động v́ nguy cơ tương đối
chỉ là 0,96. Như
vậy nguy cơ ĐQN
kết hợp với liệu pháp thay thế hormon có
lẽ c̣n thấp nên cần có thêm những nghiên cứu
khác. Cho đến khi có đủ dữ liệu có giá
trị, liệu pháp này nên tập trung cho những lợi
ích khác như ngừa loăng xương hơn là nhằm
hạ thấp nguy cơ đột quỵ. Thuốc
viên ngừa thai: Trước
đây phần lớùn sự gia tăng nguy cơ ĐQN trên
người dùng thuốc viên ngừa thai là dựa trên
những nghiên cứu sử dụng các thuốc có
nồng độ hoạt chất cao115 ( thế hệ
thứ nhất của thuốc viên ngừa thai chứa (
50(g estradiol ). Đa số các nghiên cứu thuốc viên
ngừa thai thế hệ thứ hai có chứa một
luợng estrogen thấp hơn đều không ghi nhận có
sự tăng nguy cơ ĐQN trên người sử
dụng118 trừ nghiên cứu của Heinemann và cs119. Lư do
của sự khác nhau này chưa được biết rơ.
Tuy nhiên trên phụ nữ có hút thuốc lá, có tăng HA,
bị đái tháo đường, migraine, hoặc trước
đó bị huyết khối-nghẽn mạch có thể
bị tăng nguy cơ ĐQN nếu họ có sử
dụng thuốc viên ngừa thai120. Gillum
và cs121 trong một nghiên
cứu phân tích tổng hợp cho rằng có sự tăng
nguy cơ NMN trên những người dùng thuốc viên
ngừa thai nhưng trị tuyệt đối của
sự tăng này thấp do tỉ lệ mắc NMN c̣n
thấp trong cộng đồng này. Sự gia tăng nguy cơ
này vẫn xảy ra ngay cả khi chỉ dùng các chế
phẩm có nồng độ estrogen thấp. Chưa có
sự nhất quán trong việc kết luận vai tṛ
của các yếu tố nguy cơ khác đi kèm như tăng
HA và hút thuốc lá trên những người sử
dụng thuốc viên ngừa thai do có sự khác biệt
của các phương pháp tính toán . Như
vậy nguy cơ bị ĐQN có vẻ c̣n thấp trên
phụ nữ dùng thuốc viên ngừa thai có nồng độ
estrogen thấp khi không kèm các yếu tố nguy cơ khác.
Nên tránh chỉ định thuốc viên ngừa thai trên
nữ giới có hút
thuốc , tăng huyết áp hoặc bị huyết
khối -nghẽn mạch trước đó T́nh trạng
viêm nhiễm: Xơ
vữa mạch máu- nguyên nhân thuờng gặp nhất
của ĐQN- hiện nay được coi là bệnh lư
do viêm nhiễm măn tính gây ra. Sang thuơng điển h́nh
xảy ra tại đầu nhánh và tại chỗ chia đôi
của các ĐM có kích thước lớn và vừa
của hệ cơ. ĐM cảnh trong đoạn ngoài
sọ và ĐM cột sống ( ngay tại gốc và cách
xa ĐM tiểu năo sau dưới )là các ĐM năo thường
bị xơ vữa nhất. Tế
bào nội mạc thành mạch tiết ra P-selectin, ICAM-1
(intercellular adhesion molecule-1) và E-selectin dưới tác động
của cytokines, peroxides vá các kícth thích khác từ các
tổn thương do thiếu oxy. Các chất này có vai tṛ
øtrong sự kết dính và di chuyển của tế bào
bạch cầu. Ngoài ra tế bào nội mạc c̣n tạo
nên các thụ thể ICAM-1 và VCAM-1(vascular cell adhesion
molecule-1) tại các vị trí có khuynh hướng
bị xơ vữa và các thụ thể này vẫn
tiếp tục được tạo ra trong suốt quá tŕnh
h́nh thành mảng vơ xữa122. Tế
bào đơn nhân và lympho T sẽ gắn vào vị trí các
phân tử kết dính đă nêu trên , được kích
hoạt và tiết ra các enzym như các cytokine và các enzym phân
giải protein gây nên sự phá hủy mạch máu. Sự
hiện diện của các chỉ điểm của
hiện tượng viêm như thụ thể kết dính
bạch cầu ( leukocyte adhesion receptor), các chất cytokine,
tế bào T hoạt hóa và đại thực bào trong các
mẫu bóc tách của thành mạch cảnh cho thấy các
đáp ứng với hiện tượng viêm cấp có
thể dẫn đến việc làm mất ổn định
các mảng xơ vữa và tạo nên triệu chứng.
Sự gia tăng các thụ thể kết dính bạch
cầu kết hợp với t́nh trạng xơ vữa
mạch cảnh123 . Các
nhiễm khuẩn măn tính có thể gây nên xơ vữa
ĐM. Người ta đă t́m thấy sự hiện
diện của Chlamydia pneumoniae -một vi khuẩn Gram âm
nội tế bào- trong các mảng xơ vữa của
ĐM cảnh và tại các vùng có sự thay đổi h́nh
thái học của xơ vữa124. Như
vậy Chlamydia có thể có vai tṛ trong sự tiến
triển và mất ổn định mảng xơ vữa
tạo nên mối tương quan giữa hiệu giá kháng
thể của C. pneumoniae và TBMN . Tuy nhiên lợi ích của
việc trừ tiệt C. pneumoniae tại các mảng xơ
vữa mạch cảnh vẫn chưa rơ ràng 125 .
Mối liên hệ giữa các nhiễm khuẩn khác như
nhiễm cytomegalovirus, herpes simplex virus với xơ
vữa mạch chưa có tính thuyết phục mạnh như
so với nhiễm C. pneumoniae126. Nhiều
quan sát cho rằng nhiễm khuẩn cấp có thể
kết hợp với thiếu máu năo. Gan sản sinh ra các
chất đánh dấu của nhiễm khuẩn hệ
thống như protein phản-ứng-C(C-reactive protein [CRP] ) và
amyloid A huyết thanh (những chất
xuất hiện trong giai đoạn cấp của t́nh
trạng nhiễm khuẩn ). Có một mối liên hệ dương
tính rơ giữa việc tăng nồng độ CRP trong
huyết tương và nguy cơ tổn thương
mạch máu, trong đó có ĐQN127 . Một
số nghiên cứu ngẫu nhiên cho rằng hiệu quả
của các thuốc dự pḥng ĐQN như aspirin, chất
ức chế HMG-CoA reductase co thể có liên quan đến
tác dụng kháng viêm của chúng. Theo Ridker127 aspirin làm
giảm nguy cơ tổn thương mạch máu chỉ trên
nam giới có mức CRP cao, mặc dù tác động
trực tiếp của aspirin trên CRP chưa rơ ràng128 .
Pravastatin làm giảm nguy cơ ĐQN và gây giảm CRP trong
thời gian theo dơi 5 năm trong lúc CRP tăng trên những
BN dùng giả dược129. Tính chất này của
pravastatin độc lập với tác động hạ
LDL-cholesterol của nó. Như vậy việc CRP góp phần
h́nh thành bệnh mạch máu hay chỉ là một chỉ
điểm của nguy cơ bệnh này th́ chưa
được rơ nhưng nhiễm khuẩn có dẫn đến
nguy cơ ĐQN trên các mô h́nh nghiên cứu thực
nghiệm130. KHUYẾN
CÁO DỰ PH̉NG
Các
khuyến cáo này dựa theo hướng dẫn của
Hội Tim Mạch Hoa Kỳ 2001131 BẢNG
4 : Khuyến cáo dự pḥng
NGHIÊN
CỨU TƯƠNG LAI
Mặc dù đă đạt nhiều chứng cứ qua một số lớn nghiên cứu nhưng hiện nay vẫn tồn tại những ư kiến khác nhau về tác động của những yếu tố đặc biệt trên nguy cơ đột quỵ năo. Thêm nữa các nhà nghiên cứu vẫn chưa khẳng định được hiệu quả điều trị trên nhiều yếu tố nguy cơ có thể sửa đổi này. Do vậy trong tương lai vẫn cần nhiều khảo sát hơn nữa về hiệu quả của việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ của đột quỵ năo trên các nhóm chủng tộc khác nhau. Cũng cần tiến hành các nghiên cứu khác nhằm đạt được những hiểu biết đầy đủ hơn về sự khác nhau của các nguy cơ giữa nam và nữ. Tuy đă có nhiều tiến bộ trong việc điều trị đột quỵ năo cấp và nhiều hứa hẹn khả quan về mặt phục hồi sau đột quỵ, công tác dự pḥng vẫn có vai tṛ nền tảng trong việc giảm bớt tỉ lệ mắc bệnh của loại bệnh phá hủy chức năng thần kinh nặng nề này.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||