
LOẠN
TRƯƠNG LỰC CƠ
K.P.Frei và D.D. Trương
M.D.
Người dịch: TS Nguyễn Hữu Công
Loạn
trương lực cơ là một hội chứng co
thắt cơ liên tục, thường gây các cử động
xoắn vặn và lặp đi lặp lại, hoặc các
dáng điệu bất thường (1). Nét đặc trưng
của loạn trương lực cơ là các cử động
lặp đi lặp lại ở cùng một số cơ,
và kéo dài tương đối lâu. Run có thể có trong
loạn trương lực cơ, gồm các co thắt cơ
theo nhịp, cả các cơ chủ vận lẫn các cơ
đối vận của phần cơ thể bị
loạn trương lực cơ. Run có thể giống như
thấy trong run nguyên phát, và cả hai dạng run này có
thể cùng tồn tại. Loạn trương lực cơ
bị nặng lên do hoạt động, stress và các
trạng thái xúc cảm, giảm đi khi nghỉ ngơi thư
giăn, và không có khi đang ngủ. Một dấu hiệu
độc đáo khác của loạn trương lực cơ
là tư thế đối vận (geste antagonistique) hay
mẹo cảm giác (sensory trick). Ví dụ về mẹo
cảm giác là loạn trương lực cơ cổ
sẽ giảm đi khi chạm một tay vào một bên
mặt. Trong giai đoạn sớm, loạn trương
lực cơ có thể nhẹ và chỉ xuất hiện
khi thực hiện các hoạt động đặc
hiệu. Loạn trương lực cơ như vậy
được gọi là loạn trương lực cơ
kiểu “đặc hiệu theo công việc” (task
specific). Một trong những ví dụ về “đặc
hiệu theo công việc” là rối loạn phát âm do co
thắt cơ, thường thoạt đầu chỉ có
khi hát, và khi nói chuyện th́ không có. Loạn trương
lực cơ nghề nghiệp là loại loạn trương
lực cơ đặc hiệu theo công việc, xuất
hiện khi viết bằng tay, hoặc chơi nhạc
cụ. Loạn trương lực cơ thường
nặng tăng lên, cho tới khi đụng “trần”
(plateau). Nó có thể lan rộng ra các phần cơ thể
ở cạnh, và thậm chí có thể lan ra toàn thân.
Loạn
trương lực cơ có lẽ đă có từ thời
cổ đại và người ta đă thông báo về
một dạng loạn trương lực cơ cổ
ở xác ướp Birmingham do chấn thương cục
bộ (2). Oppenheim mô tả lần đầu tiên một
dạng loạn trương lực cơ có thể di
truyền vào năm 1911. Từ đó, người ta đă
ghi nhận được vài dạng loạn trương
lực cơ, bao gồm cả các dạng di truyền.
Có
thể phân loại loạn trương lực cơ theo
tuổi khởi phát, theo phân bố và theo định khu
(bảng 1). Loạn trương lực cơ có thể
khởi đầu hoặc ở tuổi trẻ em hoặc
khi đă lớn tuổi. Loạn trương lực cơ
khởi phát tuổi trẻ em có thể di truyền,
khởi phát ở chân tay và khuynh hướng lan rộng,
đôi khi chuyển thành loạn trương lực cơ
toàn thân. Ngược lại, loạn trương lực cơ
khởi phát ở người lớn là dạng thường
gặp hơn, hầu hết ảnh hưởng ở vùng
cổ và thường đạt tới mức trần
về độ nặng.
Loạn
trương lực cơ khu trú
(focal dystonia) chỉ ảnh hưởng tới một vùng
duy nhất của cơ thể, như cổ, hoặc
một tay. Chứng co thắt mi mắt (blepharospasm),
loạn trương lực cơ cổ và loạn trương
lực cơ miệng – hàm dưới (oromandibular) là các
ví dụ về loạn trương lực cơ khu trú.
Chứng chuột rút (vọp bẻ) của người
viết (writer’s cramp) cũng là một dạng loạn trương
lực cơ khu trú, được quy vào thành hội
chứng “dùng quá nhiều” (overuse syndrome). Loạn trương
lực cơ theo phân đoạn (segmental dystonia) ảnh hưởng
tới những khu vực gần cạnh nhau như cổ
và cánh tay, và loạn trương lực cơ toàn thể
hóa (generalized dystonia) ảnh hưởng tới toàn bộ
cơ thể. Chứng loạn trương lực cơ
biến dạng (dystonia musculorum deformans), hay c̣n gọi là
loạn trương lực cơ Oppenheim là ví dụ
về một dạng di truyền của loạn trương
lực cơ toàn thể hoá.
Các
dạng loạn trương lực cơ đặc trưng,
phân loại theo định khu bao gồm: chứng co
thắt mi mắt, loạn trương lực cơ
miệng – hàm dưới, chứng khó phát âm do co
thắt (spasmodic dysphonia), loạn trương lực cơ
cổ, chứng chuột rút của người viết, và
chứng co thắt uốn cong (camptocormia).
Chứng
co thắt mi mắt (blepharospasm)
ảnh hưởng tới các cơ xung quanh ổ mắt,
gây nhắm mắt không chủ ư, kèm khó mở mắt.
Về lâm sàng, chứng co thắt mi mắt có thể
xuất hiện thành dạng nhắm mắt quá mức, hay
thành dạng nhắm mắt bắt buộc bất chấp
hoàn cảnh. Ở những trường hợp nặng, người
bị bệnh bị làm cho gần như là mù. Ánh sáng chói
có khuynh hướng làm nặng bệnh, và do cố dùng cơ
trán để giúp mở mắt, dần tạo thành
những nếp nhăn vắt ngang qua vùng trán. Mi mắt có
thể trông như bị sụp mi (ptosis), nhưng hiếm
khi che kín đồng tử. Chẩn đoán phân biệt
chứng co thắt mi mắt gồm: bệnh nhược cơ
(myasthenia gravis), khô mắt, và các tics hoặc thói quen. Trong
bệnh nhược cơ, hiếm khi chỉ có mỗi
sụp mi. Cùng với sụp mi, hay có kèm nh́n đôi
(diplopia) hay các dạng yếu cơ khác. Yếu cơ do
bệnh nhược cơ thừơng xuất hiện vào
cuối buổi chiều và khi mệt mỏi. Sụp mi do
bệnh nhược cơ thường không bị ánh sáng
chói làm cho nặng lên. Trong những trường hợp
nghi bị nhược cơ, test tensilon dùng cho sụp mi là
một phương pháp chẩn đoán lâm sàng có giá
trị. Kháng thể thụ cảm thể acetylcholine
(acetylcholine receptor antibody) cũng có thể giúp chẩn
đoán bệnh nhược cơ. Khô mắt (dry eyes) là
một t́nh trạng thừơng gặp, gây nhắm
mắt theo phản xạ. Khô mắt có thể là biến
chứng của phẫu thuật mắt lasik hay các kiểu
phẫu thuật mắt khác, và khô mắt có thể
tồn tại cùng lúc với chứng co thắt mi mắt.
Bệnh nhân than có cảm giác như có sạn trong
mắt. Điều trị bằng nước mắt nhân
tạo có thể làm nhẹ bớt bệnh. Các tic thường
làm cho bệnh nhân có nhu cầu nhắm mắt hoặc
giữ mắt nhắm lâu. Bệnh nhân biết trước
và có thể chủ động ḱm nén được
một lúc. Sau thời gian chủ ư ḱm nén, sẽ có xu
hứơng xuất hiện cơn nhắm mắt mạnh.
Điều trị các tics vận động thường
dùng thuốc an thần mạnh (neuroleptic). Chích botulinum toxin
cũng có thể giúp điều trị các tics khu trú, như
nhắm mắt quá mức. Điều trị chứng co
thắt mi mắt bằng thuốc tác dụng hạn
chế, chích quanh ổ mắt bằng botulinum toxin làm
yếu cơ ṿng mi, giúp cho bệnh nhân giữ mắt
mở được mà ít phải cố sức.
Loạn
trương lực cơ miệng – hàm dưới
(oromandibular dystonia) ảnh
hưởng tới miệng và cằm, tạo ra nét
mặt nhăn nhó. Miệng có thể bị kéo sang một
bên và lưỡi thè ra quá
mức, không thích hợp. Các cử động này gây
trở ngại cho nói, nhai và đôi khi cả nuốt. Co
thắt cơ da cổ (platysma) cũng góp phần tạo nét
mặt nhăn nhó. Hàm có thể bị ảnh hưởng,
gây khó há miệng hoặc nghiến răng quá mức khi
ngủ.
Hội
chứng Meige bao gồm loạn trương lực cơ
miệng – hàm dưới và co thắt mí mắt (3). Co
thắt cơ mặt hai bên xuất hiện cùng lúc với
các cơ ṿng mi. Cùng với hội chứng này, loạn trương
lực cơ có thể lan rộng một phần tới
hệ cơ họng, cổ và tay. Hầu hết hội
chứng Meige xuất hiện ở người lớn
tuổi và tự phát. Các nguyên nhân thứ phát của
hội chứng Meige gồm dùng thuốc, như dùng kéo dài
các thuốc an thần mạnh (neuroleptic) hay levodopa, hoặc
do tổn thương năo khu trú. Trong hội chứng này, có
vẻ như thân năo cũng như hạch nền bị
ảnh hưởng. Điều trị hội chứng
bằng thuốc thường không có kết quả. Chích
botulinum toxin vào cơ ṿng mi và các cơ mặt có tác
dụng tốt. Gần đây, có báo cáo cho thấy, trong
hội chứng Meige nặng có kèm loạn trương
lực cơ quanh trục theo phân đoạn (segmental axial
dystonia), phương pháp kích thích năo sâu vào cầu
nhạt (pallidal deep brain stimulation) cả hai bên giúp làm
nhẹ bớt các triệu chứng (4).
Chứng
khó phát âm do co thắt (spasmodic dysphonia) ảnh
hưởng tới thanh quản. Khởi đầu
triệu chứng xuất hiện khi thực hiện các công
việc đặc trưng, như khi hát, về sau xuất
hiện cả khi thực hiện các phát âm khác, như khi
nói. Chia ra 2 dạng khó phát âm do co thắt, dựa trên
hệ cơ nào của dây thanh âm bị ảnh hưởng:
kiểu cơ dạng (abductor) và kiểu cơ khép
(adductor). Loạn trương lực cơ dạng thanh
quản đặc trưng bằng chất giọng khàn,
xen lẫn với những đoạn nghe được rơ
tiếng thở và đoạn nói thầm. Đây là
dạng khó phát âm do co thắt ít gặp, các cơ bị
ảnh hưởng là nhẫn – phễu sau (posterior
cricoarytenoid). Điều trị bằng chích botulinum toxin
hoặc vào các cơ nhẫn – phễu sau, hoặc vào các
cơ nhẫn – giáp (cricothyroid), nếu cần. Ở
những bệnh nhân vốn có run từ trước,
loạn trương lực cơ cả ở các nhóm cơ
khác, hoặc có kèm rối loạn nhịp thở, th́ chích
botulinum toxin ít cải thiện được phát âm (5).
Loạn trương lực cơ khép thanh quản gây
giọng nói không tự nhiên, bị nghẹt, kèm ngắt
quăng khi phát âm. Điều trị bằng chích botulinum
toxin vào các cơ giáp – phễu dưới (vocalis) cả
hai bên cho tác dụng tốt nhất. Các phương pháp
điều trị chứng khó phát âm do co thắt khác,
gồm cắt dây thanh quản và các kiểu trị
liệu lời nói (speech therapy) cũng có tác dụng trong
một số trường hợp (6).
Loạn
trương lực cơ cổ (cervical dystonia) là
t́nh trạng cổ bị giữ ở một tư
thế đặc biệt. Thuật ngữ torticollis là xoay
cổ sang bên phải hoặc sang bên trái. Laterocollis làm cho
đầu bị nghiêng sang một bên vai, anterocollis làm cho
đầu bị cúi ra trước ở tư thế
cổ gấp, và retrocollis th́ đầu bị ngửa ra
phía sau, ở tư thế cổ duỗi. Torticollis là
dạng loạn trương lực cơ thường
gặp nhất. Trường hợp nhẹ th́ đầu
run nhẹ kèm khuynh hướng lệch sang một phía. Trường
hợp nặng dễ thấy ngay được, cản
trở đi lại và giữ thăng bằng. Các
triệu chứng thường khởi đầu bằng
run ở đầu, và có thể tiến triển thành
kiểu đầu có khuynh hướng giữ nguyên ở
một tư thế đặc biệt. Run rơ hơn khi
bệnh nhân cố quay đầu vào giữa. Các cơ
cổ bị bệnh thường ph́ đại. Đôi
khi đau là dấu hiệu chính của bệnh và
được coi là do có hai cơ chế: co thắt cơ
cổ, và có thể cơ chế trung ương. Nhiều
trường hợp giảm đau khi được chích
botulinum toxin. Đôi khi chích botulinum toxin không làm giảm
đau, và phải dùng thuốc trị đau thần kinh,
như thuốc chống trầm cảm 3 ṿng, hay gabapentin.
Mẹo cảm giác (sensory trick), như sờ vào một bên
mặt, có thể làm giảm bớt triệu chứng
loạn trương lực cơ cổ được
một lúc. Các triệu chứng thường nặng lên
khi gắng sức và mất đi khi ngủ. Thường
triệu chứng nhẹ nhất lúc mới tỉnh
dậy, gọi là “thời kỳ trăng mật”.
Tuổi khởi phát torticollis thường ở người
lớn, căn nguyên là tự phát. Loạn trương
lực cơ cổ có thể nguyên phát với nguyên nhân
không rơ hoặc di truyền, cũng có thể là thứ phát
do các nguyên nhân khác. Hiếm khi loạn trương
lực cơ cổ đơn thuần xuất hiện trong
gia đ́nh. Có một dạng torticollis gia đ́nh, khởi
phát khi lớn tuổi, được thấy trong một
gia đ́nh ở miền bắc Đức, đặt tên
là DYT 7, và được coi là định khu ở
nhiễm sắc thể 18p (7). Loạn trương lực cơ
cổ có thể xuất hiện như là phản ứng
với thuốc, như levodopa hay các thuốc thuộc nhóm
an thần mạnh (neuroleptic). Thuốc an thần mạnh
đời cũ như haloperidol hay thioridazine có thể gây
tác dụng phụ ngoại tháp.
Loạn trương lực cơ là một trong các
dạng của tác dụng phụ ngoại tháp và thường
được coi là loạn trương lực cơ
muộn (tardive dystonia). Khi biểu hiện bằng loạn
trương lực cơ cổ, th́ dạng thường
gặp nhất là anterocollis. Điều trị loạn trương
lực cơ muộn gồm ngừng ngay thuốc đă gây
ra tác dụng phụ, nhưng loạn trương lực cơ
vẫn có thể kéo dài dù đă ngừng thuốc, khi
đó người ta kkhuyên dùng các các điều trị
loạn trương lực cơ truyền thống.
Chấn thương năo ảnh hưởng tới đồi
thị, hạch nền và tiểu năo có thể gây
loạn trương lực cơ cổ, thường kèm
ảnh hưởng tới các cơ khác như trong
chứng loạn trương lực cơ nửa người
(8,9). Chấn thương ngoại vi cũng được
coi là có thể gây loạn trương lực cơ
cổ, dù các quan điểm hiện nay c̣n trái ngược
nhau, và có thể nó là dạng “không do loạn trương
lực cơ” (nondystonic) của torticollis (10). Bất
thừơng cấu trúc hệ xương cổ, như
sai nhẹ khớp đốt đội – trục
(atlantoaxial subluxation), cũng là nguyên nhân khả dĩ khác
của loại torticollis không do loạn trương lực
cơ. Loại này thường gặp ở trẻ em. Các
loại u cũng có thể liên quan với torticollis khởi
phát trẻ em. Loạn trương lực cơ cổ
bẩm sinh là bệnh không thường gặp, đặc
trưng bằng rút ngắn hệ cơ cổ kèm nghiêng
đầu sang bên đối diện (11). Trong bệnh này,
cơ thừơng bị nhất là cơ ức đ̣n chũm,
và nhiều trường hợp bệnh thuyên giảm
tự phát sau 1 tuổi. Trường hợp torticollis
bẩm sinh không thuyên giảm, thừơng phải
phẫu thuật. Điều trị loạn trương
lực cơ cổ gồm dùng thuốc, vật lư trị
liệu và botulinum toxin. Dùng thuốc thừơng không
đủ để giảm triệu chứng. Để
điều trị bệnh, người ta thường kê
toa thuốc cholinergic (như trihexyphenidyl), benzodiazepine (như
diazepam) và các thuốc chống co thắt (như lioresal và
tizanidine). Vật lư trị liệu và các dạng tập
luyện đặc biệt khác cũng có thể có ích,
lời khuyên chung là không nên tập và matxa sâu hệ cơ
cổ bị bệnh, v́ có thể làm nặng bệnh hơn.
Cách điều trị hiệu quả nhất là chích
botulinum toxin vào hệ cơ bị bệnh, đó là cơ
ức đ̣n chũm (sternocleidomastoid), thang (trapezius), gối
đầu (splenius capitis) hoặc nâng bả vai (levator
scapulae), tùy theo kiểu cơ nào bị ảnh hưởng
của riêng từng người bệnh. Dùng điện cơ
nhiều kênh có thể có ích, nhằm xác định đúng
và tiêm vào cơ bị bệnh.
Chứng
vọp bẻ của người viết (writer’s cramp), một
dạng loạn trương lực cơ khu trú ở bàn
tay và cẳng tay, là một kiểu của loạn trương
lực cơ nghề nghiệp (occupational), hay do dùng quá
nhiều (overuse). Nó có khuynh hướng đi liền
với cử động lặp đi lặp lại và
sớm có tính đặc hiệu với công việc.
Bệnh thừơng ở tay thuận, co cơ không
chủ ư gây tư thế bất thường và run khi
viết. Bệnh có thể lan rộng và tay bên không
thuận cũng có thể bị. Cũng có thể run các cơ
sấp và cơ ngửa. Điện cơ cho thấy co cơ
đồng thời cả các cơ chủ vận lẫn
đối vận ở cẳng tay và bàn tay (12). Nghiên
cứu sinh lư học cho thấy có suy giảm ức
chế ngược của tủy sống, bất thường
trong xử lư cảm giác trung ương và tạo xung
vận động, các bất thường này có thể
do suy giảm ức chế vỏ năo. Các nghiên cứu
gần đây trên động vật có vú củng cố
cho quan niệm cho rằng vận động lặp đi
lặp lại có thể gây biến đổi ở
vỏ năo cảm giác, dẫn tới suy thoái vùng đại
diện định khu của bàn tay (13). Điều
trị gồm tránh viết bằng tay nhiều quá mức,
dùng thuốc như các anticholinergic, baclofen, benzodiazepine và chích
botulinum toxin. Loạn trương lực cơ
nghề nghiệp có thể ảnh hưởng
tới phần thân thể khác, như hệ cơ vùng môi
ở người chơi trumpet (14).
Chứng
co thắt uốn cong (camptocormia)
là một kiểu loạn trương lực cơ theo phân
đoạn (segmental dystonia) của các cơ bụng,
tạo ra tư thế cong gaáp ra trước. Bệnh này
không hay gặp, được nói nhiều trong thế
kỷ trước. Dạng thứ phát thường
xuất hiện như một phần của bệnh lư thoái
hóa di truyền (như bệnh Parkinson) hoặc bệnh teo
nhiều hệ thống (multisystem atrophy), bất thường
cấu trúc như chứng gù lưng – thắt lưng,
hoặc như một phần của hội chứng
cận ung thư (15). Nó cũng kết hợp với
bệnh cơ của cột sống và với bệnh tâm
thần. Điều trị thường không hiệu
quả bằng các thuốc như benzodiazepine, giăn cơ, và
chống co thắt. Chích botulinum toxin vào cơ thẳng
bụng (rectus abdominis) có thể có hiệu quả. Gần
đây, kích thích năo sâu (deep brain stimulation) vào cầu
nhạt trong (globus pallidus internus) có tác dụng ở
những trường hợp kháng thuốc (16).
Trong
đa số trường hợp, căn nguyên của
loạn trương lực cơ chưa được rơ.
Khi đó bệnh được coi là loạn trương
lực cơ nguyên phát, và loại này bao gồm cả
dạng loạn trương lực cơ di truyền.
Loạn trương lực cơ có nguyên nhân có thể xác
định được, th́ gọi là loạn trương
lực cơ thứ phát. Loạn trương lực cơ
khi xuất hiện như là một phần của bệnh
khác, th́ được coi là bệnh thoái hóa di truyền
(hereditodegenerative), và khi phối hợp với các dấu
hiệu phụ thêm khác, th́ được gọi là các
hội chứng có thêm loạn trương lực cơ
(dystonia plus syndrome) (1).
Hiện
nay đă xác định được 14 dạng di
truyền của loạn trương lực cơ,
được quy thành DYT 1 tới DYT 14 (bảng 2). DYT 1 là
dạng loạn trương lực cơ toàn thể hóa di
truyền trội theo nhiễm sắc thể thường
(autosome), hay thấy nhất ở dân Do thái Ashkenazi.
Bệnh được Oppenheim mô tả lần đầu
tiên vào năm 1911 và thường được gọi là
loạn trương lực cơ Oppenheim, hay loạn trương
lực cơ biến dạng (dystonia musculorum deformans). Liên
kết với bệnh này là đột biến kiểu
khuyết đoạn GAG ở gen mă hóa cho Torsin A, định
khu ở nhiễm sắc thể 9q34. Trong số người
bị bệnh, cả Do thái lẫn không Do thái, đều
có cùng một gen này bị rối loạn. Torsin A là
một protein gắn với ATP (ATP-binding protein) và có
thể là một trong các protein sốc nhiệt (heat shock
protein) (17). Thường bệnh khởi phát vào khoảng năm
12 tuổi, ban đầu bị ở một chi thể, sau
lan ra các phần thân thể khác, và tiến triển thành
loạn trương lực cơ toàn thể hóa. Bệnh
biểu hiện không đồng nhất, các thành viên trong
cùng một gia đ́nh, có cùng một đột biến,
lại không có cùng một kiểu h́nh (phenotype), hay
kiểu loạn trương lực cơ; và một số
thành viên khác của gia đ́nh, có đột biến,
lại không bị loạn trương lực cơ.
Tỷ lệ truyền lại bệnh (penetrance) được
ước lượng vào khoảng 30-40% (18). Có lẽ
cần có một số yếu tố phụ thêm nữa
để có thể phát triển thành kiểu h́nh đầy
đủ, v́ người ta đă xác định
được rằng nếu một cá thể có gen
bị đột biến, tới năm 28 tuổi mà
vẫn chưa bị loạn trương lực cơ, th́
thường là suốt đời không c̣n bị mắc
bệnh nữa (19). Chức năng của Torsin A c̣n chưa
rơ và có thể nó là phần then chốt tạo ra sinh lư
bệnh của loạn trương lực cơ.
DYT
5 và DYT 11 tương ứng với dạng các hội
chứng có cộng thêm loạn trương lực cơ,
như Parkinson có thêm loạn trương lực cơ (DYT
5), và myoclonus có thêm loạn trương lực cơ (DYT
11). DYT 5 c̣n được gọi là loạn trương
lực cơ có đáp ứng với dopa hay bệnh Segawa,
đột biến ở GTP-cyclohydrolase 1 enzyme (20). Đây là
enzyme giới hạn tốc độ (rate limiting enzyme) trong
tổng hợp tetrahydrobiopterin, là một đồng
yếu tố (cofactor) thiết yếu của tyrosine
hydroxylase. Tyrosine hydroxylase là enzyme giới hạn tốc
độ liên quan sản sinh dopamine. Bệnh được
di truyền kiểu trội theo nhiễm sắc thể thường
(autosoma) và được Segawa mô tả lần đầu
tiên vào năm 1976 ở dân Nhật (21). Bệnh thường
khởi đầu ở trẻ em bằng loạn trương
lực cơ, và ở người
lớn bằng hoặc là loạn trương lực cơ
hoặc là Parkinson. Các triệu chứng kèm theo của
Parkinson như cứng đờ, chậm vận động
và tư thế không vững cũng xuất hiện. Điển
h́nh trong bệnh này là đáp ứng mạnh với
liều thấp dopamine (?). Muller cùng cộng sự, Klein và
Ozelius có một bài tổng quan đầy đủ hơn
về chủ đề này (8,9).
Các
kiểu loạn trương lực cơ thứ phát là do
ảnh hưởng của môi trường. Chấn thương,
đột quỵ, khối u, một số thuốc,
nhiễm trùng, độc tố, và các bệnh chuyển hóa
đều có thể gây loạn trương lực cơ.
Các chấn thương tủy sống, tổn thương
ngoại vi, và chấn thương năo ảnh hưởng
tới đồi thị, thân năo hoặc tiểu năo, có
thể gây loạn trương lực cơ. Người
ta đă báo cáo về chấn thương sọ năo
nặng gây tổn thương hệ thần kinh trung
ương, gây loạn trương lực cơ, đa
số là loạn trương lực cơ nửa người
(hemidystonia) (10,11). Người ta c̣n bàn căi về việc
chấn thương ngoại vi hoặc chấn thương
sọ năo nhẹ hơn có phải là nguyên nhân gây
loạn trương lực cơ không. Đă có báo cáo là
chấn thương ngoại vi gây torticollis sau chấn thương,
cũng như thủ thuật răng gây loạn trương
lực cơ miệng – hàm dưới (12,24). Bệnh lư
mạch máu năo gây đột qụi có thể gây ra
loạn trương lực cơ. Bệnh bại năo,
xẩy ra trước khi sinh, cũng có thể bao gồm
loạn trương lực cơ. Tổn thương năo
do thiếu oxy cũng có thể gây loạn trương
lực cơ. Cùng kiểu cách như vậy, u năo có
thể gây loạn trương lực cơ. Các thuốc cũng
có thể gây loạn trương lực cơ, thủ
phạm thường gặp nhất là các thuốc an
thần mạnh (neuroleptic) hoặc các thuốc phong bế
thụ cảm thể dopamine. Trường hợp này
được gọi là loạn trương lực cơ
muộn (tardive dystonia). Loạn vận động muộn
(tardive dyskinesia), các cử động không chủ ư
của miệng và lưỡi, và chứng ngồi nằm
không yên (akathisia) thường đi kèm với loạn trương
lực cơ muộn. Các thuốc chữa bệnh Parkinson,
Ergotamine và thuốc chống co giật cũng có thể gây
loạn trương lực cơ. Các bệnh lư nhiễm
trùng, sau nhiễm trùng và bệnh hủy myelin (như
bệnh xơ rải rác) có thể gây loạn trương
lực cơ nếu ảnh hưởng tới những vùng
năo đặc thù. Các độc tố như mangan, cyanide,
3-nitroproprionic acid, carbon monoxide, methanol, disulfirim và carbon
disulfide đều có liên quan tới sự phát triển
của loạn trương lực cơ. Cuối cùng, các
bệnh lư chuyển hóa như thiểu năng cận giáp
cũng có thể gây loạn trương lực cơ.
Trong đa số trường hợp, các triệu chứng
phụ, đi kèm theo loạn trương lực cơ, có
thể giúp nhận diện tác nhân nào là thủ phạm.
Loạn
trương lực cơ có thể là một phần
của bệnh thoái hoá di truyền. Khi ấy, loạn trương
lực cơ chỉ là một phần, trong nhiều
triệu chứng, của một bệnh lư thoái hoá
tiến triển. Loạn trương lực cơ có
thể là một phần của bệnh Parkinson, liệt trên
nhân tiến triển (progressive supranuclear palsy – PSP) và thoái
hoá hạch vỏ – nền (corticobasal ganglionic degeneration –
CBGD). Trong bệnh Parkinson, loạn trương lực cơ
thường là một phần của trạng thái
“tắt” (“off” condition) khi thuốc mất tác dụng.
Nó cũng có thể là dấu hiệu ban đầu
của bệnh và thường gây ảnh hưởng
ở tay và/hoặc chân. Bệnh nhân tả “ngón chân
xoắn lại”, bàn chân xoay vào, hoặc bàn tay nắm
chặt, và có xu hướng tạo thành một tư
thế nhất định. Loạn trương lực cơ
có thể xuất hiện vào lúc sáng sớm, trước
khi uống thuốc chữa Parkinson. Loạn trương
lực cơ bàn tay và cánh tay là đặc trưng cho
bệnh CBGD. Các ngón chân và bàn chân cũng bị ảnh hưởng.
Trong CBGD, loạn trương lực cơ thường phát
triển từ từ, và không đáp ứng với
thuốc chữa Parkinson. Các bệnh thoái hóa di truyền khác,
mà trong đó loạn trương lực cơ có thể
đóng một phần vai tṛ, gồm DYT 3, bệnh Pelizaeus
Merzbacher, bệnh Huntington, Machado-Joseph (SCA 3), Wilson, Niemann –
Pick C, bệnh lipofuscinosis dạng sáp của tế bào
thần kinh tuổi niên thiếu (juvenile neuronal ceroid
lipofuscinosis), bệnh GM1 và GM2 gangliosidosis, bệnh loạn dưỡng
chất trắng biến sắc (metachromatic leukodystrophy),
bệnh Lesch-Nyhan, bệnh tiểu ra homocystin (homocystinuria),
glutaric academia, thiếu hụt men đồng phân
triosephosphate (triosephosphate isomerase deficiency), tiểu ra
methylmalonic acid, bệnh Hartnup, thất điều giăn mao
mạch (ataxia telangiectasia), bệnh Hallervorden-Spatz, bệnh
tế bào gai thần kinh (neuroacanthocytosis), bệnh thể vùi
thấu quang trong nhân tế bào thần kinh (neuronal
intranuclear hyaline inclusion disease), liệt hai chi dưới co
cứng di truyền (hereditary spastic paraplegia), đóng vôi
hạch nền gia đ́nh (famillial basal ganglia calcification), và
các bệnh của ty lạp thể (mitochondrial disorder) bao
gồm bệnh Leigh và bệnh Leber (1).
DYT
3, c̣n gọi là bệnh Lubag, là bệnh liên kết với
nhiễm sắc thể X, được mô tả lần
đầu tiên ở Phillipine. Nam giới bị là chính,
mặc dù đôi khi phụ nữ mang mầm bệnh cũng
có triệu chứng nào đó. Bệnh khởi phát ở
tuổi người lớn trẻ. Có thể gây loạn
trương lực cơ miệng – hàm dưới theo phân
đoạn, hoặc loạn trương lực cơ toàn
thể hóa. Có thể biểu hiện duy nhất chỉ là
Parkinson, hoặc Parkinson tiến triển cùng với
loạn trương lực cơ, và bệnh có khuynh hướng
tăng tiến.
Sinh
lư bệnh của loạn trương lực cơ vẫn
c̣n chưa được sáng tỏ hoàn toàn. Không có
bất thường cấu trúc, v́ MRI scan b́nh thường.
PET scan thấy tăng hoạt tính chuyển hóa ở các nhân
đậu (lentiform nuclei), tiểu năo, và vỏ năo vận
động phụ. Người ta cho rằng các hạch
nền cũng bị ảnh hưởng, các hạch này
chịu trách nhiệm điều chỉnh cử động.
Trong loạn trương lực cơ thứ phát,
một vài vùng của năo, gồm cả các hạch
nền (đáng kể nhất là nhân bèo sẫm – putamen),
đồi thị, vỏ năo, tiểu năo, thân năo, tủy
sống và các dây thần kinh ngoại vi cũng bị
ảnh hưởng. Có thể có khác biệt căn
bản giữa thể loạn trương lực cơ
nguyên phát với thể thứ phát. Một số biến
đổi trong hệ thần kinh có vẻ như là
một phần của bệnh. Điện cơ cho
thấy biểu hiện bất thường của điện
thế, với co cùng lúc các cơ đối vận và tràn
ngập ở những cơ vốn không liên quan ǵ tới
cử động. Điều đó gợi ư có rối
loạn ức chế ngược chiều (reciprocal
inhibition) ở nhiều tầng của hệ thần kinh
trung ương, đó là tủy sống và thân năo.
Rối loạn chức năng cảm giác có thể
chuyển sang bệnh lư vận động, nếu
thiếu ức chế ngược chiều (25). Trong
loạn trương lực cơ khu trú thấy có biến
đổi diện nhận cảm của vỏ năo. Byl và
cộng sự đă phát hiện hiện tượng này
trên những con khỉ thực hiện thao tác lặp đi
lặp lại giống nhau, làm phát sinh loạn trương
lực cơ khu trú (26). Diện nhận cảm bị
rộng ra cũng thấy có ở cầu nhạt và đồi
thị. Như vậy đường cảm giác từ dây
thần kinh ngoại vi đi vào sẽ bị chệch hướng
ở mức vỏ năo cảm giác vận động, làm
mất khả năng hoạt hóa chọn lọc các cơ
đặc hiệu, có thể góp phần phát triển
loạn trương lực cơ (27). Cũng giống như
vậy, ở bệnh nhân bị loạn trương
lực cơ, sự thay đổi về kiểu cách
hoạt động của tế bào thần kinh, mức
độ đồng bộ hóa, và khả năng phản
ứng với cảm giác thân (somatosensory responsivity)
được thấy ở cả cầu nhạt lẫn
đồi thị. Có vẻ như có giảm toàn bộ tính
hoạt động ở cầu nhạt trong (globus pallidus
interna), và tăng phóng điện trương lực
ở các tế bào thần kinh của đồi thị.
Người ta mô tả hiện tượng có phóng điện
tự phát, kèm tăng đồng bộ và tăng khả
năng phản ứng đối với kích thích cảm
giác thân, thấy có ở cả cầu nhạt trong,
lẫn ở đồi thị (27). Đồng bộ hóa
phóng điện của tế bào thần kinh là điều
cần thiết cho cử động b́nh thường; tuy
nhiên tăng đồng bộ hóa có thể là gẫy (?),
gây ra cử động không chủ ư. Có vẻ là
phối hợp các sự kiện này sẽ gây ra loạn
trương lực cơ, nhưng một sự kiện nào,
hoặc các sự kiện nào có tính kích động, th́
vẫn chưa rơ.
Cho
tới nay vẫn chưa có xét nghiệm chẩn đoán
cho loạn trương lực cơ. Về mặt thương
mại, mới chỉ có xét nghiệm gen cho DYT 1 mà thôi.
Chẩn đoán loạn trương lực cơ là
dựa vào lâm sàng. Điều trị gồm dùng các
thuốc như anticholinergic, benzodiazepine và thuốc chống
co thắt, chích botulinum toxin , và trong một số trường
hợp là kích thích năo sâu hoặc thủ thuật mở
cầu nhạt (pallidotomy). Các anticholinergic như benztropine và
trihexyphenidyl có tác dụng hữu ích nhẹ trên loạn trương
lực cơ; nhưng tác dụng phụ của các
thuốc này làm hạn chế sử dụng chúng. Các
Benzodiazepine gồm diazepam, lorazepam và clonazepam gây giảm co
thắt cơ. Chúng có xu hướng an thần, điều
đó cũng gây hạn chế sử dụng. Lioresal và
tizanidine là những thuốc chống co thắt cơ tác
dụng trung ương, có thể tạo thuyên giảm chút
ít. Tác dụng phụ là an thần và choáng váng. Do đáp
ứng rất tốt với dopamine trên DRD, cần thử
dùng levodopa cho tất cả các bệnh nhân bị loạn
trương lực cơ. Chích botulinum toxin là cách điều
trị tại chỗ tốt nhất hiện nay. Về
mặt thương mại, có sẵn 2 type là type A (Botox và
Dysport) và B (Myobloc). Độc tố gắn kết vào
tận cùng dây thần kinh cholinergic, được
đưa vào bên trong rồi ngăn chặn phóng thích
acetylcholine, bằng cách đó nó tạo hiện tượng
mất phân bố thần kinh do hóa học (chemical
denervation). Hiệu lực của độc tố bắt
đầu vào khoảng sau 3 đến 12 tuần, và
hết đi sau khoảng 3 tháng do hiện tượng
mọc chồi của sợi trục (axonal sprouting) và tái
phân bố thần kinh (reinervation). Điều trị
phẫu thuật loạn trương lực cơ gồm:
làm mất phân bố thần kinh ngoại vi chọn
lọc, thủ thuật mở đồi thị
(thalamotomy), mở cầu nhạt (pallidotomy), và kích thích năo
sâu (28). Làm mất phân bố thần kinh ngoại vi
chọn lọc (selective peripheral denervation) bằng cắt dây
thần kinh chọn lọc cho cơ bị bệnh. Phương
pháp này có hiệu quả ở loạn trương
lực cơ cổ. Loạn trương lực cơ toàn
thể hoá có thể đáp ứng hoặc với mở
đồi thị, hoặc với mở cầu nhạt.
Yoshor và cộng sự thấy mở cầu nhạt có
hiệu quả cho đoàn hệ bệnh nhân của các tác
giả (29). Hiện nay phương pháp kích thích năo sâu
(deep brain stimulation – DBS) vào cầu nhạt được
dùng như là một biện pháp điều trị có
hiệu quả. DBS một bên cho loạn trương
lực cơ cổ (30) và hai bên cho loạn trương
lực cơ toàn thể hóa (31).
Bảng
1: phân loại loạn trương lực cơ