
Mở
rộng sử dụng Toxin Botulinum Toxin Type A
Daniel
Truong, MD
Đối
với các bác sĩ thần kinh, Toxin Botulinum type A là
một trị liệu được biết đến
nhiều nhất cho các chứng bệnh về thần kinh
cơ như là loạn trương lực (dystonias) và co
cứng cơ (spasticity), và gần đây đă được
công bố trong xóa các nếp nhăn ở mặt. Đặc
tính ức chế phóng thích acetylcholine tại tiếp
hợp thần kinh cơ làm cho toxin botulinum type A hữu
dụng trong các chứng bệnh khác nhau này (Simpson, 1981).
Sau khi tiêm tại chỗ vào các cơ, protein của toxin
botulinum type A gắn kết vào các thụ thể đặc
hiệu trên tấm tận cùng cholinergic và xâm nhập vào
các neuron nơi đó nó tách protein cần thiết để
phóng thích túi chất dẫn truyền thần kinh ra
(Simpson, 1981; Rossetto và cs, 2001).
Toxin
Botulinum type A là 1 trong số 7 type huyết thanh của
neurotoxin botulinum được biết đến theo
hệ thống chữ cái là type A
đến G. Trong số các type huyết thanh này
chỉ có type A và B hiện nay đang có mặt trên
thị trường dưới dạng các thuốc bào
chế. Type C và F cũng được dùng ở người
nhưng căn bản chỉ trên thực nghiệm (Eleopra và
cs, 1997; Greene, Fahn, 1996). Thuốc bào chế thương
mại đầu tiên của neurotoxin botulinum được
sử dụng trong lâm sàng chủ yếu là type huyết
thanh A (BOTOX®), và sản phẩm này tiếp tục
được dùng ở nhiều nước trên thế
giới. Sau đó một thuốc bào chế khác dựa trên
type huyết thanh A (DYSPORT®) được đưa vào
nhiều nước và có thể có mặt trong thị trường
Hoa Kỳ trong ṿng vài năm tới. Vào năm 2000, một
sản phẩm dựa trên type huyết thanh B (MYOBLOC®/NEUROBLOC®)
đă có mặt trên thị trường. Mặc dù tât
cả các thuốc này đều ức chế phóng thích
acetylcholine, nhưng chúng tác dụng ở những liều
lượng khác nhau (Dressler, Benecke, 2003; Odergren và cs, 1998). Do
đó, về mặt lâm sàng tất cả các sản
phẩm này được dùng ở các liều lượng
đơn vị khác nhau có thể khác biệt đến
nhiều đơn vị xếp loại.
Mặc
dù toxin botulinum type A và B tiếp tục t́m thấy
những sử dụng mới trong chứng bệnh
thần kinh cơ ảnh hưởng đến hệ
thống thần kinh của cơ thể, người ta cũng
nhận thấy các tác dụng của những thuốc này
không bị giới hạn trong các neuron cholinergic ở
tiếp hợp thần kinh cơ
(Bushara, 1997). Các thụ thể đối với toxin
botulinum types A và B cũng được t́m thấy ở các
tận cùng thần kinh tự trị, nơi chúng ức
chế phóng thích acetylcholine tại các tuyến và cơ trơn.
Từ quan sát này đă dẫn đến các nghiên cứu
neurotoxin botulinum trong những chứng bệnh khác nhau liên
quan đến sự phân bố thần kinh tự trị.
Phần c̣n lại của bài viết này đề cập
đến sử dụng nổi bật của neurotoxin
botulinum trong lănh vực này và các chứng bệnh chọn
lọc khác có thể hữu ích cho các bác sĩ thần
kinh.
Chứng
tăng tiết nước bọt (Sialorrhea)
Chứng chảy nước
bọt quá nhiều, xảy ra trong nhiều chứng
bệnh về thần kinh, có thể
ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt
động xă hội và h́nh ảnh của bản thân
của bệnh nhân. Trong vài năm qua, toxin botulinum type A
đă được nghiên cứu trong điều trị
chứng tăng tiết nước bọt kết hợp
với bệnh Parkinson, bại năo, carcinoma đầu và
cổ, bệnh thoái hóa thần kinh, đột quỵ và
bệnh xơ cứng bên (amyotrophic lateral sclerosis) (Cheng,
Newall, 2003; Mancini và cs, 2003; Ellies và cs, 2002; 2003; Suskind, Tilton,
2002; Bothwell và cs, 2002; Friedman, Potulska, 2001; Jongerius và cs, 2001;
Porta và cs, 2001; Pal và cs, 2000). Các nghiên cứu cỡ nhỏ
trên 20 bệnh nhân hay ít hơn đă cho thấy tác
dụng ích lợi của toxin botulinum type A trên chứng tăng
tiết nước bọt, được xác định
qua đánh giá của bệnh nhân trên thang điểm
về mức độ trầm trọng, đo lường
khách quan ḍng nước bọt qua phép đo nước
bọt (sialometry), và trọng lượng của ổ răng
(dental rolls). Một báo cáo trên 9 bệnh nhân bị Parkinson
được điều trị bằng toxin botulinum type B
cũng gợi ư rằng type huyết thanh này có thể có
hiệu quả làm giảm chứng tăng tiết nước
bọt thái quá (Racette và cs, 2003).
Hầu
hết các nghiên cứu này không báo cáo một tác dụng
phụ có ư nghĩa nào đối với tiêm toxin botulinum
trong điều trị chứng tăng tiết nước
bọt, và thực sự, không có tác dụng phụ nào
được ghi nhận trong nhiều báo cáo (Pal và cs,
2000; Friedman, Potulska, 2001; Suskind, Tilton, 2002; Mancini và cs, 2003;
Ellies và cs, 2002; 2003; Cheng, Newall, 2003; Racette và cs, 2003). Tuy nhiên,
toxin botulinum type A có đi kèm với trật khớp hàm tái
phát trên một bệnh nhân bị bệnh xơ cứng bên
(Tan và cs, 2001). Một trường hợp báo cáo khác
gợi ư rằng các tác dụng phụ không thể
chấp nhận được có thể xảy ra khi tiêm
toxin xuyên ống tuyến trên bệnh nhân bệnh xơ
cứng bên (Winterholler và cs, 2001). Hầu hết các nghiên
cứu khác dùng siêu âm hướng dẫn để tiêm vào
trong tuyến mang tai và/hoặc các tuyến dưới hàm
(Cheng, Newall, 2003; Mancini và cs, 2003; Ellies và cs, 2003).
Các
kết quả của các nghiên cứu này có thể ích
lợi cho điều trị chứng tăng tiết nước
bọt với nguy cơ tác dụng phụ thấp hơn.
Trong trường hợp bệnh xơ cứng bên mà
việc điều trị nên thật cẩn thận th́ có
thể là ngoại lệ. Các kết quả của một
nghiên cứu đơn lẻ, nhỏ, so sánh với placebo
(Mancini và cs, 2003) đă hổ trợ các các kết quả
tích cực của các nghiên cứu mở; các nghiên
cứu xa hơn có kiểm soát sẽ bổ sung vào y văn
một cách có ư nghĩa.
Chứng
Tăng Tiết Mồ Hôi Khu Trú Nguyên Phát (Primary Focal
Hyperhidrosis)
Toxin
Botulinum toxin type A cũng đă được nghiên cứu
trong các chứng bệnh khác liên quan đến hệ
thần kinh tự trị —nghiên cứu thường
nhất là tăng tiết mồ hôi khu trú. Đa số các
nghiên cứu trên tăng tiết mồ hôi đă được
công bố trên những tờ báo về da học, và có
thể chỉ định này không được nhận
biết rộng răi trong cộng đồng chuyên về
thần kinh học. Hơn nữa các bệnh nhân bị
chứng tăng tiết mồ hôi có thể đến các
bác sĩ đa khoa của họ hay bác sĩ về da thay v́
đến bác sĩ về thần kinh để điều
trị. Tuy nhiên, trong những y văn ít ỏi hiện có
về nguyên nhân học của tăng tiết mồ hôi
khu trú nguyên phát gợi ư có thể do nguồn gốc
về thần kinh (Lin, Fang, 1999).
Đối
với bệnh nhân bị chứng tăng tiết mồ hôi
nhẹ, các chất thoa tại chỗ chống tiết
mồ hôi có chứa aluminum chloride hexahydrate có thể có
hiệu quả (Atkins, Butler, 2002). Điện chuyển ion
(Iontophoresis), hay đưa một chất được ion
hóa qua da bằng cách dùng ḍng điện một chiều,
có thể hiệu quả cho một số trường
hợp tăng tiết mồ hôi ḷng bàn chân và bàn tay , nhưng
lại ít hữu dụng ở vùng nách. Trên các bệnh nhân
bị chứng tăng tiết mồ hôi khu trú nặng hơn
th́ tiêm toxin botulinum có thể là một lựa chọn
điều trị.
Ích
lợi của toxin botulinum type A trên chất lượng
sống của bệnh nhân và điểm mục tiêu
tiết mồ hôi trong chứng tăng tiết mồ hôi
nguyên phát ở nách đă được dẫn chứng
trên những nghiên cứu ngẫu nhiên, có kiểm soát, quy
mô rộng (Naumann và cs, 2001; 2002). Những nghiên cứu này
liên quan đến các bệnh nhân bị chứng tăng
tiết mồ hôi từ vừa đến nặng. Các
kết quả cho thấy có đến 94% bệnh nhân trong
nhóm toxin botulinum type A đă đáp ứng với điều
trị, ngược lại tới 36% bệnh nhân trong nhóm
placebo (Naumann và cs, 2001). Tác dụng phụ duy nhất khác
biệt giữa nhóm toxin botulinum type A và nhóm placebo là
nhiễm trùng, mà tần suất cao hơn trong nhóm placebo
(Naumann và cs, 2001). Trong nghiên cứu này và các nghiên cứu
khác, toxin botulinum type A được sử dụng tiêm
trong da. Các nghiên cứu mở và có so sánh phụ thêm cũng
đă báo cáo các ích lợi của toxin botulinum type A trong
điều trị chứng đổ mồ hôi nách, ḷng bàn
tay và “đổ mồ hôi vị giác” (gustatory sweating)
(xem trong Glogau, 2002;
Thant, Tan, 2003).
Mặc
dù nhiều nghiên cứu đă báo cáo về ích lợi
của toxin botulinum type B trong điều trị chứng tăng
tiết mồ hôi, các tác dụng phụ toàn thân như
điều tiết thị giác khó khăn và khô miệng
đă được ghi nhận (Dressler, Benecke, 2003; Baumann,
Halem, 2003).
Về
tổng quát, hiệu quả và tính an toàn của toxin
botulinum type A có thể nói là đă chứng minh trong điều
trị chứng tăng tiết mồ hôi khu trú nguyên phát
dựa trên các nghiên cứu mở, có kiểm soát đă
được công bố, cũng như đă có sự
cho phép đăng kư ít nhất một trong số các
sản phẩm type A cho chỉ định này tại Canada,
Australia, Vương Quốc Anh, và tại một số các
quốc gia khác.
Các
chứng đau bệnh lư (Conditions of Pathological Pain)
Sử
dụng toxin botulinum type A cũng ngày càng được báo
cáo nhiều trên nhiều chứng đau bệnh lư, bao
gồm migraine và các chứng nhức đầu khác
(Silbstein và cs, 2000; Freund, Schwartz, 2002) và đau cơ xương,
kể cả đau cơ mặt (Lang, 2003). Các chứng
bệnh này đai diện cho một nhóm gồm nhiều
loại khác nhau và các kết quả với toxin botulinum
type A chưa xác thực một cách rộng răi (ví dụ,
Schmitt và cs, 2001). Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu, bao
gồm một số nghiên cứu có so sánh (Silberstein và cs,
2000; Foster và cs, 2001), đă báo cáo ích lợi của điều
trị này trên đau. Các tác dụng đă biết rơ
của neurotoxin botulinum trên loạn trương lực
cổ (cervical dystonia) khi mà các type huyết thanh A và B làm
giảm đau vai và cổ một cách có ư nghĩa (Tsui và
cs, 1986; Brashear và cs, 1999) cũng hỗ trợ các tác
dụng của nó trên đau.
Đau
cơ xương (Musculoskeletal Pain)
Ví
dụ về một nghiên cứu tác dụng của toxin
botulinum type A trên đau là một báo cáo về 31 bệnh
nhân liên tục bị đau thắt lưng mạn tính
được chọn ngẫu nhiên điều trị tích
cực hay với placebo (Foster và cs, 2001). Đau được
đo lường qua thang điểm nh́n (visual analog scale) và
sự tàn tật được đánh giá bằng cách
sử dụng Bảng Câu Hỏi về Đau Thắt Lưng
Oswestry (Oswestry Low Back Pain
Questionnaire : OLBPQ). Các kết quả cho thấy 73% bệnh
nhân điều trị với toxin botulinum type A đă báo cáo
chứng đau được cải thiện hơn 50%, ngược
lại với 25%
trong nhóm placebo sau khi tiêm 3 tuần lễ. Các cải
thiện trên OLBPQ được quan sát trên 67% bệnh nhân điều trị với
toxin botulinum type A ngược lại với 19% bệnh nhân
điều trị với placebo.
Cả hai hiệu quả này đều có ư nghĩa về
thống kê. Bệnh nhân trong nghiên cứu này không có báo cáo
ǵ về các tác dụng phụ.
.
Trong
điều trị đau cơ xương, toxin botulinum type
A được sử dụng một cách đặc trưng
như là một phần của chương trinh trị
liệu đa phương thức (Lang, 2003). Người ta
cũng đề nghị là
điều trị neurotoxin botulinum có thể cải
thiện đau do làm giảm trương lực và
giảm hoạt động quá mức của cơ , có
thể sẽ ích lợi hơn cho điều trị
của bác sĩ nhằm làm hồi phục chiều dài b́nh
thường của cơ và sự cân bằng về sinh
học cơ học (Lang, 2003). Đưa ra khái niệm vai
tṛ của neurotoxin botulinum trong đau cơ xương, các
nghiên cứu tính đến một phác đồ điều
trị đa phương thức có lẽ thích hợp hơn
để t́m ra các kết quả chắc chắn với
điều trị toxin botulinum. V́ vậy, một trong các
thử thách cho nghiên cứu trong tương lai là thiết
kế các nghiên cứu thử nghiệm điều này và
các các giả thuyết khác để xác định các
bệnh nhân và chứng bệnh thích hợp mà toxin botulinum
giúp loại bỏ cơn đau.
Các
chứng nhức đầu (Headache Disorders)
Các
chứng nhức đầu nguyên phát cũng đại
diện cho một nhóm bệnh không đồng nhất, và
chưa rơ là những bệnh nhân nào có được
lợi ích tối đa từ neurotoxin botulinum. Các kỹ
thuật tiêm cũng thay đổi qua các nghiên cứu,
với một số bác sĩ nghiên cứu tiêm vào các cơ
vùng mặt được xác định trước
bất kể kiểu nhức đầu ( điều
trị ở điểm cố định) và các bác sĩ
khác tiêm tại các vị trí đau (điều trị
“theo chỗ dau” : “follow-the-pain” approach).
Một
nghiên cứu hồi cứu gần đây thử nghiệm
các tác dụng của toxin botulinum type A trên nhiều
loại nhức đầu khác nhau (Blumenfeld, 2003). Trong nghiên
cứu này, các bệnh nhân được tiêm cả
ở các vị trí cố định và các vị trí
đau và các kết quả đo lường là số lượng
ngày nhức đầu mỗi tháng, cường độ
nhức đầu (điểm số từ 0 đến 3)
hay cả hai. Trong số 271 bệnh nhân trong chuỗi nghiên
cứu này, có 29 bệnh nhân bị migraine từng cơn,
17 bệnh nhân bị nhức đầu kiểu căng
thẳng từng cơn, 71 bệnh nhân bị nhức đầu
loại hỗn hợp, và 154 bị nhức đầu
mạn tính xảy ra hàng ngày. Điều trị bằng
Toxin Botulinum type A làm giảm có ư nghĩa số ngày
nhức đầu trong mỗi tháng xấp xỉ từ 19
xuống c̣n 8. Tiêm Toxin Botulinum type A cũng làm giảm cường
độ nhức đầu từ trung b́nh là 2,4 điểm
đến 1,8 điểm. Cả hai khác biệt này đều
có ư nghĩa thống kê. Trong số 263 bệnh nhân nghiên
cứu, có 225 bệnh nhân (85.6%) được báo cáo có
sự cải thiện về tần suất và cường
độ nhức đầu. Hiệu quả của tiêm
thuốc không liên quan đến lư do điều trị
hay kỹ thuật tiêm, hay sự đa dạng của các
biến số khác. Các kết quả này gợi ư cho
thấy điều trị bằng neurotoxin botulinum có
thể có hiệu quả rất tốt cho điều
trị các loại nhức đầu khác nhau và dễ dàng
trong quy tŕnh tiêm chích. Tuy nhiên lư do mà một số
bệnh nhân không đáp ứng điều trị và
một số nghiên cứu thất bại trong việc phát
hiện những ích lợi của tiêm toxin botulinum (ví
dụ, Schmitt và cs, 2001) vẫn chưa được
biết. Hiệu quả nhiều của placebo được
nêu lên trong nhiều nghiên cứu cho thấy các biến
số về tâm lư có thể giữ một vai tṛ.
Kết
luận
Các
chứng bệnh được bàn căi ở đây mà các
trị liệu bằng neurotoxin botulinum cho các chứng
bệnh này đang nổi bật chỉ đại
diện cho một phần của các áp dụng điều
trị mới mẽ đă được báo cáo trong y văn.
Toxin Botulinum type A đă cho thấy cải thiện chứng
tăng tiết nước bọt, chứng tăng tiết
mồ hôi và đau với chỉ vài tác dụng phụ.
Mặc dù toxin botulinum type B được nghiên cứu ít
hơn do nó mới được đưa vào sử
dụng trong lâm sàng gần đây hơn, nhưng dường
như nó cũng hứa hẹn cho nhiều chứng
bệnh này. Cuối cùng, các hợp chất này hữu
dụng v́ chúng ức chế phóng thích acetylcholine sau khi tiêm
tại chỗ, một đặc tính có thể được
tận dụng trong điều trị nhiều chứng
bệnh khu trú khác nhau trong đó việc giảm trương
lực cholinergic là điều mong muốn. Đặc tính
cơ bản này đặt ra giai đoạn cho các sử
dụng mới thêm nữa trong tương lai.
