
KINH
NGHIỆM ĐIỀU TRỊ “CO CỨNG CƠ CỦA NGƯỜI
VIẾT”
(
WRITER’S CRAMP) BẰNG TOXIN BOTULINUM
TS
Nguyễn Thy Hùng, BV Nguyễn Tri Phương. Tŕnh bày ngày 9-11- 2003 tại
hội thảo về Botulinum toxin ở Trường ĐH YD TP HCM.
I.
SINH LƯ BỆNH:
Chứng
co cứng cơ của người viết (Writer’s cramp,
crampe de l’ecrivain, CCNV) là loại loạn trương
lực cơ khu trú ở tay khi làm động tác mà cơ
chế bệnh sinh c̣n rất phức tạp.
Gowers
(1888) đă xem CCNV là một dạng bệnh tâm thần và
ông đă gọi là “loạn thần kinh khi làm động
tác” (occupation neurosis). Từ đó có một trường
phái xếp chứng bệnh này vào nhóm bệnh tâm
thần kinh như Brain (1923) gọi là suy nhược
thần kinh, Walton (1977). Wilson (1940) cho CCNV là một dạng
mệt mỏi mạn tính trong khi Pal (1947) xem là một
dạng bệnh tâm thần kinh nặng cần phải
điều trị với liệu pháp tâm lư. Crisp và
Modofsky (1965) cho chứng CCNV là một rối loạn tâm
thần thể tạng của loại h́nh nhân cách đặc
biệt dễ xúc cảm, khép kín. Xu hướng “tâm
thần kinh” này tồn tại trong một thời gian khá
dài dù các biện pháp tâm lư và phản hồi sinh học
không tỏ ra có hiệu quả khi được áp
dụng .
Tuy
vậy, ngay từ thế kỷ 19, đă có nhiều nhà y
học nghĩ đến căn nguyên thực thể
của bệnh này dù chưa đủ chứng cứ.
Osler và Jellifer cho là có tổn thương vỏ năo vùng
điều khiển viết chữ. Babinski (1921) cho đây
là một hội chứng thể vân giống với
loạn trương lực cơ cổ, Barré (1925) đề
cập đến rối loạn phản xạ giao cảm
tủy sống trong khi Collin và Addi (1922) cho là bệnh lư
ở vùng nhân xám trung tâm.
Khúc
quanh quyết định vào năm 1975-1976 khi Marsden, một
giáo sư thần kinh học của bệnh viện Queen
Square ở London sắp CCNV vào nhóm bệnh loạn trương
lực cơ khu trú. Quan niệm này dần dần
được chấp nhận
và dựa trên các chứng cứ lâm sàng lúc khởi
đầu như run một bên, mất sự đong
đưa cánh tay khi đi, đôi khi có tăng trương
lực nhẹ, có thể diễn biến đến
loạn trương lực cơ cổ hay loạn trương
lực cơ lan tỏa và hiếm khi thấy có rối
loạn tâm thần kinh.
Như
vậy CCNV là một rối loạn vận động khi
làm động tác và t́nh trạng loạn trương
lực khu trú ở tay này chỉ xảy ra khi sử
dụng dụng cụ để viết, khi đánh máy
chữ (typist’s cramp), khi đánh đàn (musician’s cramp) …
tức là khi làm các động tác có tính chất liên
tục, tự ư, lập đi lập lại trong một
thời gian dài (c̣n gọi là hội chứng “sử
dụng quá mức”)
Về
cơ chế bệnh sinh, có 3 giả thuyết :
-
Hoạt động cơ bị rối loạn mất
sự ức chế : Điện cơ kư ghi nhận trong
CCNV có sự
mất tính chất luân phiên của các hoạt động
cơ đồng vận và đối vận mà lại
xuất hiện sự co thắt cùng lúc (Cohen và Hallet 1988).
Sự ức chế này bị suy giảm do có tổn thương
các neuron trung gian (interneurones) hoặc có lẽ do thiếu sót
sự kiểm soát ly tâm đối với các kích thích con
đường ức chế tiền tiếp hợp
từ các nhân xám trung tâm
-
Rối loạn sự chuẩn bị động tác: các
khảo sát điện thế gợi và điện năo
đồ cũng
như SPECT cho thấy có các bất thường ở vùng
vỏ năo tiền vận động đối bên và vùng
vận động bổ túc (vùng phóng chiếu từ
thể vân). Khi viết lập đi lập lại một
từ, khác với người b́nh thường, các
bệnh nhân CCNV có sự giảm hoạt động vùng
vỏ vận động đối bên và đồi
thị cùng với sự tăng hoạt vùng tiền
vận động cùng bên (Ceballos-Baumann 1997). Điều này
gợi ư có sự tăng hoạt khả năng lập
kế hoạch ở vùng tiền vận động
nhận các sợi phóng chiếu thể vân-cầu
nhạt-đồi thị.
-
Vai tṛ của rối loạn cảm giác trong loạn trương
lực cơ khu trú: một số chứng
cứ đă được ghi
nhận như “kiểu động tác đối
vận” trong chứng vẹo cổ co thắt, khi ta sờ
vào một điểm ở cổ hay cằm
th́ t́nh trạng run hay loạn trương lực
giảm bớt (c̣n gọi là sensory trick). Điều này cũng
thấy ở chứng loạn trương lực cơ tay
khu trú. Các xung cảm giác hướng tâm bị tổn thương
cũng là một bằng chứng gián tiếp : chấn thương,
rách, đứt đầu mút ngón tay, các sang chấn
ở tay trường diễn như viết liên tục
trong thời gian dài. Murase và cs (2000) ghi nhận các tương
quan giữa các thông tin cảm giác và vận động
qua việc nhận thấy có sự giảm điện
thế gợi cảm giác bản thể trước và sau
khi làm động tác. Yếu tố N30 th́ giảm ở lô
chứng trước khi làm động tác so với lô
bệnh. Ngược lại, yếu tố trước trán
P 22 th́ giảm ở lô bệnh mà không giảm ở lô
chứng, điều này phản ánh sự rối loạn
chức năng vận động.
II.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG:
Có
thể phân tích các cơ tham gia vào động tác viết
gồm ba nhóm. Các cơ chủ yếu để giữ và
di chuyển bút viết trên giấy là ba ngón cái, trỏ và
ngón thứ ba; các cơ gập và duỗi cổ tay là nhóm
2 có tác dụng đồng vận để giúp cho động
tác viết đạt được hiệu quả. Nhóm
thứ 3 không tham gia trực tiếp vào động tác
viết nhưng có tác dụng điều phối vị trí
cánh tay, vai, thân ḿnh và đôi khi cả miệng.
Hiện
tượng “loạn trương lực cơ khu trú”
xuất hiện trước tiên ở nhóm 1, thường
ngón cái gập lại ở đốt cuối, ngón
trỏ trượt lên cán bút và áp lực đè nặng
lên tờ giấy viết, đôi khi có hịện tượng
run đi kèm. Tất nhiên c̣n nhiều t́nh huống lâm sàng
khác mà t́nh trạng loạn trương lực khu trú
xuất hiện ở các cơ duỗi ngón, duỗi cổ
tay, gập cổ tay rất phức tạp. Khai thác
bệnh sử, hỏi các dấu hiệu khởi phát, quan
sát bệnh nhân vẽ một ṿng xoắn hay viết
chữ trong ṿng 2 phút để thấy rơ các bất thường
xuất hiện, phân biệt được các cơ đồng
vận và đối vận, điều này không phải
đơn giản.
Bác
sĩ có thể bảo bệnh nhân làm nghiệm pháp
viết chính tả, viết lại như lúc đầu
khởi phát bệnh, viết ở tư thế tự nhiên
với ba ngón chủ yếu, vẽ trên bảng với bàn
tay đưa cao, viết chữ mà không sử dụng ngón
loạn trương lực, viết chính tả với bàn
tay không bị bệnh (quan sát hiện tượng “soi gương”).
Với
các nghiệm pháp này, chúng ta có thể phát hiện
được rơ hơn các cơ loạn trương
lực ở đây, các cơ đồng vận, đối
vận, các cơ đă bị lâu hoặc mới phát
hiện tiềm tàng.
Có
khả năng xảy ra hiệu ứng “bù trư”ø khi
bệnh diễn tiến để điều chỉnh
lại một phần sự trở ngại khi viết
của bệnh nhân thí dụ bệnh nhân dùng bàn tay trái
để đỡ cổ tay phải, dùng ngón trỏ trái
để giữ cây bút viết. Điều này cũng
giống như “động tác đối vận”,
kiểu bù trừ cảm giác xảy ra trên các bệnh nhân
vẹo cổ co thắt.
C̣n
sự “bù trừ vận động” là trường
hợp các ngón tay chủ yếu 1,2,3 gập hết mức
để chống lại t́nh trạng loạn trương
lực làm các ngón này bung ra, hoặc người bệnh
sử dụng ngón 2 và 3 để giữ cây viết v́ ngón
cái khó điều chỉnh.
III.
KINH NGHIỆM ĐIỀU TRỊ BẰNG TOXIN BOTULINUM (BTX)