THAM KHẢO THẦN KINH HỌC


 

ĐIỆN NĂO ĐỒ CĂN BẢN: MỘT SỐ DẠNG SÓNG

Biên soạn: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Công.

(Để có kiến thức sâu và toàn diện hơn, xin tham khảo sách chuyên đề của PGS Lê Quang Cường)

 

CHỈ ĐỊNH CỦA ĐIỆN NĂO ĐỒ

 

Điện năo đồ (EEG) là một công cụ hỗ trợ cho lâm sàng. EEG được dùng hữu ích nhất trong những trường hợp sau đây:

  1. Rối loạn ‎‎ư thức: trạng thái sững sờ (stuporous), bán hôn mê (semi-comatose) hay hôn mê (comatose states).
  2. Các bệnh l‎‎ư có co giật (seizure disorders), đặc biệt là các biến thể co giật không kinh điển ở những bệnh nhân có những triệu chứng nguy cấp. Điện năo đồ giúp chẩn đoán được trạng thái động kinh bị che khuất (occult status epilepticus) trên một bệnh nhân có rối loạn ‎‎ư thức. Nó giúp chẩn đoán phân biệt một căn nguyên lành tính với các căn nguyên nghiêm trọng hơn trên trẻ bị chứng co giật do sốt - infantile febrile convulsion (điện năo đồ trong cơ b́nh thường th́ là căn nguyên lành tính; ngược lại th́ điện năo đồ có các hoạt động điện dạng gai và sóng chậm bất thường).
  3. Nghi ngờ có khối u nếu thấy có một ổ khu trú sóng chậm.
  4. Trong chấn thương sọ năo, khi có các sóng chậm hay t́nh trạng ức chế điện thế do dập năo (contusion) hay do máu tụ dưới màng cứng.
  5. Đau đầu, kiểu như các hội chứng migraine, khi đó có thể có các dạng EEG có tính gợi ư.
  6. (Cũ) Chẩn đoán phân biệt một bệnh l viêm lan tỏa hay khu trú, kiểu như apxe năo.
  7. (Cũ) Đánh giá khả năng di căn năo.
  8. Bệnh năo do chuyển hóa khi có các sóng chậm 3 pha đặc trưng.
  9. Chẩn đoán phân biệt các rối loạn hành vi do thực thể hay do chức năng (tâm thần).

Một vài thuật ngữ

bullet

Biên độ (amplitude) là khoảng cách theo chiều thẳng đứng giữa 2 đỉnh đối chiếu nhau qua đường đẳng điện, được tính bằng microvolts - mV (bằng 1 phần triệu của volt).

bullet

Thoáng qua (transient) là bất kỳ một sóng đơn độc (gai - spike, sóng nhọn – sharp, v.v.) nào hoặc một phức bộ ngắn nào khác biệt nổi bật lên trên nền hoạt động điện cơ sở.

bullet

Mất cân đối, mất đối xứng (asymmetry) là khác biệt tới mức 50% hay hơn nữa về biên độ và/hoặc về tần số của một vùng năo so với vùng năo tương tự ở bán cầu bên đối diện.

bullet

Bột phát (cơn kịch phát – burst) là một chuỗi gồm từ 2 chu kỳ hoàn chỉnh (complete cycles) trở lên, có biên độ và/hoặc tần số khác biệt so với hoạt động điện cơ sở.

bullet

Tần số (frequency) là số lượng các sóng lặp đi lặp lại hoàn chỉnh trong một đơn vị thời gian, tính bằng Hertz (Hz) tức là số chu kỳ trong 1 giây.

bullet

Thời khoảng (duration) là chiều dài của 1 định dạng điện năo, đo bằng giây hay mili giây (milliseconds).

bullet

Chuẩn độ là một nghiệm pháp dùng để thẩm tra lại đáp ứng qua từng bộ khuyếch đại đối với một điện thế đă biết trước.

bullet

Chuẩn độ sinh học (Bio-Cal) là một nghiệm pháp trong đó cùng 1 cặp điện cực được nối vào tất cả các kênh của EEG.


Các dạng sóng thường gặp


 

CHUẨN ĐỘ (CALIBRATION) H́nh: CHUẨN ĐỘ BẰNG SINH HỌC (BIO-CAL)

Alpha là nhịp cơ sở của năo người lớn. Là dạng sóng (nhịp) dễ nhận biết nhất, đi thành chuỗi sóng 8-13 Hz với biên độ 30-50 mV, thấy có trong trạng thái thức tỉnh và nhắm mắt. Sóng alpha định khu ở các vùng phía sau của đầu. Beta là sóng 4-35 Hz, thường có điện thế thấp (5-30 mV), sóng beta có biên độ cao nhất là ở phần phía trước của năo. Dạng sóng này thường chiếm dưới 20% của toàn bộ bản ghi, nếu nó chiếm số lượng nhiều hơn th́ đó làn bản điện năo đồ bất thường hoặc là phản ánh tác dụng của thuốc.

Delta là một sóng chậm dưới 4 Hz và có biên độ thay đổi. Nó có thể là toàn thể hóa hoặc khu trú. Sóng này là b́nh thường ở trạng thái ngủ say, nhưng là bất thường nếu ở trạng thái thức tỉnh.

Theta bao gồm các sóng 4-8 Hz, thường có biên độ lớn hơn 20 mV. Dạng sóng này thường ghi được ở các vùng trán – thái dương, và nổi trội hơn khi đối tượng ở trạng thái buồn ngủ (ngủ lơ mơ – drowsiness).

Bột phát và ḱm nén (bùng phát và ức chế: burst-suppression) là dạng bất thường, đặc trưng bởi các bột phát sóng chậm và sóng nhọn có điện thế cao, nổi bật lên trên một nền hoạt động điện có điện thế tương đối bị ức chế.

Hoạt động điện delta nhịp nhàng cách quăng ở vùng trán (Frontal intermittent rhythmic delta activity - FIRDA) là một dạng sóng bất thường, gồm những hoạt động điện sóng chậm, nhịp nhàng, cách quăng, xuất hiện một cách đồng bộ (đồng th́ - synchronously) ở các khu vực của trán. Các phóng điện dạng động kinh lệch một bên theo chu kỳ (Periodic lateralized epileptiform discharges - PLEDS) là một dạng sóng bất thường, hoặc có h́nh dạng của các sóng nhọn hoặc gai, xuất hiện lặp đi lặp lại theo những khoảng thời gian đều đặn, ở một bán cầu một bên, hay khu trú một ổ.

Các gai (spikes) là những biến đổi điện thế thoáng qua, nhanh,  có biên độ thực sự cao hơn hoạt động điện cơ sở. Kết hợp Gai và sóng (Spike and Wave combination) là một chuỗi những gai và những sóng có tần số khác nhau. Dạng sóng này thường có biên độ rất cao và là một dạng bất thường.

Sóng nhọn là một sóng đơn độc, có thời khoảng lớn hơn 80 nhưng nhỏ hơn 200 mili giây Trong khi ngủ, EEG thay đổi h́nh dạng tùy theo giai đoạn của giấc ngủ. Khi ngủ gà (buồn ngủ - drowsiness), nhịp Alpha sẽ giảm điện thế và giảm tính đều đặn. Các sóng trở nên nhỏ hơn và kém đều đặn hơn, thường là bị ngắt quăng trong 1-5 giây. Khi ngủ nông (light sleep) th́ nhịp Alpha biến mất, xuất hiện các đợt bột phát (bursts) các chuỗi của các thoi (spindles) 14-15 Hz và một sóng nhọn cao (phức bộ K, K-complex) ở các vùng trung tâm của đầu.