|
ĐIỆN NĂO ĐỒ CĂN BẢN: MỘT SỐ DẠNG SÓNGBiên soạn: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Công. (Để có kiến thức sâu và toàn diện hơn, xin tham khảo sách chuyên đề của PGS Lê Quang Cường)
CHỈ ĐỊNH CỦA ĐIỆN NĂO ĐỒ
Điện năo đồ (EEG) là một công cụ hỗ trợ cho lâm sàng. EEG được dùng hữu ích nhất trong những trường hợp sau đây:
Một vài thuật ngữ
|
|
|
|
| CHUẨN ĐỘ (CALIBRATION) | H́nh: CHUẨN ĐỘ BẰNG SINH HỌC (BIO-CAL) |
|
|
|
| Alpha là nhịp cơ sở của năo người lớn. Là dạng sóng (nhịp) dễ nhận biết nhất, đi thành chuỗi sóng 8-13 Hz với biên độ 30-50 mV, thấy có trong trạng thái thức tỉnh và nhắm mắt. Sóng alpha định khu ở các vùng phía sau của đầu. | Beta là sóng 4-35 Hz, thường có điện thế thấp (5-30 mV), sóng beta có biên độ cao nhất là ở phần phía trước của năo. Dạng sóng này thường chiếm dưới 20% của toàn bộ bản ghi, nếu nó chiếm số lượng nhiều hơn th́ đó làn bản điện năo đồ bất thường hoặc là phản ánh tác dụng của thuốc. |
|
|
|
|
Delta
là một sóng chậm dưới 4 Hz và có biên độ thay đổi. Nó có thể là toàn thể hóa
hoặc khu trú. Sóng này là b́nh thường ở trạng thái ngủ say, nhưng là bất
thường nếu ở trạng thái thức tỉnh. Theta bao gồm các sóng 4-8 Hz, thường có biên độ lớn hơn 20 mV. Dạng sóng này thường ghi được ở các vùng trán – thái dương, và nổi trội hơn khi đối tượng ở trạng thái buồn ngủ (ngủ lơ mơ – drowsiness). |
Bột phát và ḱm nén (bùng phát và ức chế: burst-suppression) là dạng bất thường, đặc trưng bởi các bột phát sóng chậm và sóng nhọn có điện thế cao, nổi bật lên trên một nền hoạt động điện có điện thế tương đối bị ức chế. |
|
|
|
| Hoạt động điện delta nhịp nhàng cách quăng ở vùng trán (Frontal intermittent rhythmic delta activity - FIRDA) là một dạng sóng bất thường, gồm những hoạt động điện sóng chậm, nhịp nhàng, cách quăng, xuất hiện một cách đồng bộ (đồng th́ - synchronously) ở các khu vực của trán. | Các phóng điện dạng động kinh lệch một bên theo chu kỳ (Periodic lateralized epileptiform discharges - PLEDS) là một dạng sóng bất thường, hoặc có h́nh dạng của các sóng nhọn hoặc gai, xuất hiện lặp đi lặp lại theo những khoảng thời gian đều đặn, ở một bán cầu một bên, hay khu trú một ổ. |
|
|
|
| Các gai (spikes) là những biến đổi điện thế thoáng qua, nhanh, có biên độ thực sự cao hơn hoạt động điện cơ sở. | Kết hợp Gai và sóng (Spike and Wave combination) là một chuỗi những gai và những sóng có tần số khác nhau. Dạng sóng này thường có biên độ rất cao và là một dạng bất thường. |
|
|
|
| Sóng nhọn là một sóng đơn độc, có thời khoảng lớn hơn 80 nhưng nhỏ hơn 200 mili giây | Trong khi ngủ, EEG thay đổi h́nh dạng tùy theo giai đoạn của giấc ngủ. Khi ngủ gà (buồn ngủ - drowsiness), nhịp Alpha sẽ giảm điện thế và giảm tính đều đặn. Các sóng trở nên nhỏ hơn và kém đều đặn hơn, thường là bị ngắt quăng trong 1-5 giây. Khi ngủ nông (light sleep) th́ nhịp Alpha biến mất, xuất hiện các đợt bột phát (bursts) các chuỗi của các thoi (spindles) 14-15 Hz và một sóng nhọn cao (phức bộ K, K-complex) ở các vùng trung tâm của đầu. |