|
![]()
|
CÁC ĐIỆN
THẾ GỢI (EVOKED POTENTIALS - EP) VÀ Ư NGHĨA LÂM SÀNG
Tiến
sỹ Y khoa Nguyễn Hữu Công, Khoa nội Thần kinh,
Bệnh viện 175. KHÁI
NIỆM CHUNG:
1.
Bản chất: Khi kích
thích vào các cơ quan cảm thụ thần kinh, hay vào dây
thần kinh ngoại vi, các xung thần kinh hướng tâm
về hệ thần kinh trung ương và gây ra các
hoạt động điện của tổ chức
thần kinh trung ương. Hoạt động điện
ấy có thể ghi lại được dưới
dạng các làn sóng trên màn h́nh hay giấy ghi, những làn
sóng điện đó gọi là điện thế gợi
(Evoked Potential - EP). Ngược
lại, khi kích thích bằng điện hoặc bằng
từ trường lên vùng vỏ năo vận động, các
xung thần kinh ly tâm ra khỏi hệ thần kinh trung
ương qua dây thần kinh ngoại vi tới bắp cơ,
gây co cơ ở chi thể. Điện thế co cơ ghi
được cũng gọi là điện thế gợi
(EP). Để
ghi được các EP, thường cần kích thích
nhiều lần và ghi nhiều lần. Cần có máy chuyên
dụng được điện toán hoá, nhằm
khuyếch đại tín hiệu và lưu giữ các tín
hiệu ghi được, rồi tính trung b́nh cộng
(average), cho ra đường ghi rơ ràng trên màn h́nh
hoặc trên giấy, không chịu ảnh hưởng các
nhiễu loạn nhất thời. Thông thường người
ta dùng máy điện cơ để ghi, có kèm theo các
bộ phận chuyên biệt để kích thích (ví dụ
máy điện cơ gắn kèm dụng cụ kích thích âm
thanh hay ánh sáng…). 2. Thuật ngữ: Thuật
ngữ điện thế gợi (Evoked potentials) do chúng tôi
dịch có thể c̣n chưa chuẩn. Evoked nghĩa là
được "gọi ra", được
"gợi lên", Potential nghĩa là điện thế
của ḍng điện, là một làn sóng ghi trên màn h́nh
hay trên băng giấy. Nếu ta dùng thuật ngữ "điện
thế do kích thích gây nên" hoặc "điện
thế kích thích", th́ dễ bị hiểu nhầm là
stimulated potentials, tức là những sóng điện có
được do kích thích và ghi một cách trực
tiếp, ví dụ kích thích điện trực tiếp vào
dây thần kinh và ghi được sóng điện lan
truyền trên chính dây thần kinh đó, hoặc sóng điện
co cơ do dây đó chi phối. 3. Định nghĩa: Theo
định nghĩa của ủy ban thuật ngữ
thuộc Hiệp hội Điện cơ và Chẩn đoán
điện Hoa kỳ 1987, th́ điện thế gợi là
một làn sóng điện có được một cách
tạm thời và được khêu gợi ra nhờ kích
thích, thường là kích thích điện, lên thụ
cảm thể hoặc dây thần kinh cảm giác, hoặc
nhờ tác dụng kích thích trực tiếp một vùng
cụ thể của năo, tủy sống hay bắp cơ.
Khám nghiệm điện thế gợi (evoked potential
studies) là phép ghi và phân tích các làn sóng điện có
nguồn gốc sinh học được khêu gợi ra khi
đáp ứng với các kích thích điện hoặc kích
thích sinh lư. Thông thường thuật ngữ "khám
nghiệm điện thế gợi" dùng để
chỉ các nghiên cứu về sóng phát ra từ hệ
thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại
vi, trong khi đó "khám dẫn truyền thần kinh"
(Nerve Conduction Studies) dùng để chỉ các nghiên cứu
về sóng phát ra chỉ từ hệ thần kinh ngoại
vi. 4. Các loại điện
thế gợi: Sau
đây là một số khám nghiệm điện thế
gợi chính, thường gặp trong y văn: Điện
thế gợi thính giác - Auditory Evoked Potentials, gọi
tắt là AEP. Điện
thế gợi thính giác thân năo - Brain stem Auditory Evoked
Potentials, gọi tắt là BAEP. Điện
thế gợi thị giác - Visual Evoked Potentials, gọi
tắt là VEP. Điện
thế gợi cảm giác thân thể - Somatosensory Evoked
Potentials, gọi tắt là SEP. Điện
thế gợi cảm giác thân thể có thời gian
tiềm ngắn- Short latency Somatosensory Evoked Potentials, gọi
tắt là SSEP. Điện
thế gợi vận động - Motor Evoked Potentials,
gọi tắt là MEP. Ngoài
ra c̣n một số phép ghi điện thế gợi
nữa, nhưng không thông dụng. 5.
Những phép ghi
khác không phải là điện thế gợi:
Những
phép ghi hoạt động điện của cơ thể
sau đây, về bản chất cũng giống như ghi
điện cơ hay điện năo, th́ không thuộc
về khám nghiệm các điện thế gợi: Ghi
điện vơng mạc - Electroretinography, gọi tắt là
ERG: người ta làm giăn đồng tử và gây tê nhăn
cầu, rồi đặt điện cực ghi (có thể
có h́nh dạng gần giống contact lens) lên trên giác
mạc, kích thích vơng mạc bằng các chớp sáng,
từ điện cực ghi sẽ ghi được các
hoạt động điện của vơng mạc dưới
dạng 1 làn sóng. Chủ yếu ứng dụng cho chuyên
khoa mắt để nghiên cứu các bệnh lư vơng
mạc. Ghi
điện rung giật nhăn cầu - Electronystagmography,
gọi tắt là ENG: người ta đặt 2 cặp
điện cực ghi trên da đầu quanh ổ mắt,
một cặp ở trên và dưới ghi thay đổi
điện theo trục đứng, một cặp bên trái
và phải ghi thay đổi điện theo trục ngang. Nhăn
cầu là một trục điện theo chiều trước
sau, với giác mạc mang điện âm so với vơng
mạc, khi nhăn cầu xoay th́ tạo nên thay đổi
về điện ở các cặp điện cực ghi.
Người ta cho bệnh nhân nh́n về các phía và nhờ
vậy phát hiện được các tổn thương
tinh tế của dây thần kinh vận nhăn, hoặc các
rối loạn phối hợp vận nhăn do bệnh lư
tiểu năo, thân năo…; Sau đó làm các test gây rung giật
nhăn cầu (ví dụ caloric test) nhằm đánh giá
hoạt động chức năng của mê đạo. MÔ
TẢ KỸ THUẬT VÀ ỨNG DỤNG:
Hăy tham khảo thêm trang Web của công ty sản xuất máy điện cơ 1.
Các loại điện
thế gợi thính giác (AEP và BAEP). Bản
chất: Điện
thế gợi thính giác (Auditory Evoked Potentials, gọi
tắt là AEP) là điện thế ghi được khi kích
thích âm thanh. Người ta c̣n dựa vào thời gian
tiềm (thời gian từ khi kích thích cho tới khi
bắt đầu có điện thế gợi) để
chia ra: 1) Các điện thế gợi AEP của thân năo
(gọi tắt là BAEP) có thời gian tiềm ngắn (dưới
10 ms), 2) Các AEP có thời gian tiềm trung b́nh (từ 10
đến 50 ms), 3) Các AEP thời gian tiềm dài (trên 50
ms). Trong đó thực tế hay dùng các BAEP. Điện
thế gợi thính giác thân năo - Brain stem Auditory Evoked
Potentials, gọi tắt là BAEP, bao gồm các điện
thế (sóng) được đánh dấu bằng chữ
số la mă, xuất hiện trong ṿng 10 ms đầu tiên
sau kích thích âm thanh. Kỹ
thuật:
cho bệnh nhân đeo tai nghe 2 bên, kích thích bằng âm thanh
ở riêng 1 bên tai. Âm thanh có cường độ
khoảng 90-120 dB trên ngưỡng thích giác của bệnh
nhân hoặc trên mức nghe trung b́nh của người b́nh
thường, thời khoảng là 100 m sec, đều đặn
lặp lại thành chu kỳ khoảng 8-10 lần/phút. Các
điện cực ghi được đặt ở dái
tai 2 bên và xương chũm 2 bên. Ứng
dụng: Thường
người ta ghi được 5 làn sóng (điện
thế), đánh số từ I tới V. Điện
thế I phản ánh chức năng thính giác của dây
VIII, điện thế II và III liên quan tới hành -
cầu, điện t hế IV và I liên quan chức năng
của cầu năo trên và trung năo dưới. Khi các
cấu trúc này tổn thương, nhất là tổn thương
myelin, th́ các điện thế này thay đổi. Do đó
AEP có ích trong chẩn đoán u dây thính giác, xơ rải
rác, u thần kinh đệm (gliomas) ở thân năo, và
chấn thương sọ năo. 2.
Điện
thế gợi thị giác - Visual Evoked Potentials, gọi
tắt là VEP. Bản
chất: Các VEP là
những sóng điện của năo, ghi được khi có
kích thích ánh sáng. Người ta kư hiệu là P nếu là
sóng dương (positive), và N nếu là sóng âm (negative). Thường
có 2 sóng: 1 sóng âm có thời gian tiềm 75 ms, kư hiệu
N75; 1 sóng dương tiếp sau có thời gian tiềm 100
ms, kư hiệu P100. Kỹ
thuật: kích thích ánh
sáng vào 1 mắt, dưới dạng chớp sáng h́nh bàn
cờ, gồm các ô vuông màu tương phản tối
đa (trắng và đen) xen kẽ nhau. Chớp sáng có
tần số khoảng 2 Hz. Điện cực ghi gồm 1
điện cực chính giữa chẩm (Oz của EEG) và 2
điện cực 2 bên, cách 5 cm (O1 và O2 của EEG).
Thực hiện 100-200 kích thích để ghi được
một điện thế trung b́nh của tất cả các
điện thế đơn lẻ ghi được
mỗi khi có 1 chớp sáng (xem h́nh minh họa). Ứng
dụng: Phương
pháp ghi VEP giúp khảo cứu đường thị giác
từ dây II, qua giao thoa và dải thị giác, tới
thể gối ngoài, và phóng chiếu thể gối - khe
cựa, cho tới vỏ năo thị giác. Bằng cách kích
thích từng mắt riêng rẽ, người ta xem xét
được chức năng của từng dây thị giác.
Phân tích các sóng ghi được trên vỏ năo, cũng có
thể phân biệt được những tổn thương
dẫn truyền thị giác sau giao thoa. Do vậy, VEP có
thể bất thường trong bệnh xơ rải rác và
mù vỏ năo, người ta c̣n thấy VEP bất thường
trong bệnh glaucoma, Parkinson. C̣n dùng VEP để đo
thị lực trẻ nhỏ. 3.
Điện
thế gợi cảm giác thân thể -
Somatosensory Evoked Potentials, gọi tắt là SEP. Bản
chất: Các SEP là
những sóng ghi được khi kích thích vào các sợi
thần kinh cảm giác ngoại vi. Bao gồm các điện
thế khác nhau, được kư hiệu dựa vào phân
cực và thời gian tiềm trung b́nh. Ví dụ N20 là
điện thế âm (negative) và thời gian tiềm
(thời gian từ lúc có kích thích vào thần kinh ngoại
vi, cho tới khi ghi được sóng điện trên
hệ thần kinh trung ương) là khoảng 20 ms. Kỹ
thuật: Kích thích
điện vào một dây thần kinh ngoại vi, ở chi
trên thường là dây giữa hoặc trụ, ở chi dưới
thường là dây chầy sau hoặc mác chung. Dùng xung
điện có tần số 3-5 Hz, thời khoảng 100-200
ms, cường độ đủ gây co nhẹ cơ
đối chiếu ngón cái ở tay hoặc cơ gấp
ngón cái ở chân, thường là 4-10 mA. Các điện
cực ghi đặt ở đường đi của
xung hướng tâm ở dây thần kinh ngoại vi, trên
tủy sống, và vỏ năo.
Ứng
dụng: Trong
những năm gần đây, phương pháp khám
nghiệm SEP đă trở nên một phương pháp
chẩn đoán có giá trị trong thần kinh học
hiện đại. Nó có thể khảo cứu được
hệ thống hướng tâm từ các dây thần kinh
ngoại vi tới vỏ năo. Người ta thường lưu
ư tới những SEP có thời gian tiềm ngắn, như
ở tay thời gian tiềm dưới 25 ms và ở chân dưới
50 ms, gọi là SSEP (short latency SEP). Nếu kích thích dây
giữa, thường ghi được các điện
thế sau: N9, N13, N20. Nguồn phát của N9 từ đám
rối cánh tay, ghi được tốt nhất từ
điểm Erb; C̣n N13 phản ánh hoạt động
của các cột sau, ghi được tốt nhất
từ cột sống cổ. Phóng chiếu đồi
thị - vỏ năo (thalamocortical radiation) đóng vai tṛ chính
yếu cho N20 (xem trang chuyên về nghiên cứu
SSEPs dây giữa của chúng tôi). Nếu kích thích dây chầy sau, thường
ghi được các điện thế: N18/22, N30/32. N18/22
phát xuất từ các cột sau tủy thắt lưng,
N30/32 có nguồn phát là phóng chiếu đồi thị -
vỏ, sau đó là vỏ năo cảm giác thân thể.
Có
thể tham khảo thêm h́nh minh họa về các điện
thế gợi cảm giác thân thể với kích thích ở chân - dây thần
kinh chầy sau.
SSEP
đặc biệt có ích lợi trong chẩn đoán
tổn thương chức năng của bệnh xơ
rải rác: nếu biểu hiện lâm sàng tương
đối rơ th́ SSEP bất thường ở khoảng
80% (bất kể là có rối loạn cảm giác trên lâm
sàng hay không), nếu lâm sàng không rơ th́ SSEP bất thường
ở khoảng 25 - 35% số bệnh nhân. Ngoài ra khám
nghiệm SSEP c̣n có giá trị chẩn đoán tổn thương
chức năng trong u tủy cổ, các tổn thương
hành cầu năo, đồi thị, và bán cầu đại
năo (ví dụ trong đột quỵ), và c̣n dùng để
theo dơi trong tiến tŕnh phẫn thuật tủy sống. 4.
Điện
thế gợi vận động -
Motor Evoked Potentials, gọi tắt là MEP. Bản
chất: điện
thế gợi vận động là những điện
thế ghi nhận được ở bắp cơ, dây
thần kinh ngoại vi hoặc tủy sống khi kích thích
vỏ năo hoặc bó vận động bên trong hệ
thần kinh trung ương. Phương pháp thường dùng
nhất là dùng nam châm điện để kích thích
vỏ năo vận động xuyên qua xương sọ và
ghi điện thế của co cơ ở tay hoặc chân. Kỹ
thuật: đặt
1 nam châm điện lên trên da đầu, chính giữa
đỉnh đầu, phóng điện qua nam châm. Nếu
dùng nam châm h́nh tṛn, bán cầu trái bị kích thích khi ḍng
điện cảm ứng đi ngược chiều kim
đồng hồ, bán cầu phải bị kích thích khi ḍng
điện đi xuôi chiều kim đồng hồ.
Nếu dùng nam châm h́nh số 8, th́ vị trí kích thích
nằm ngay dưới chỗ tiếp nối của 2 ṿng
tṛn của số 8. Điện cực ghi được
đặt ở các cơ bàn tay hoặc bàn chân. Ứng
dụng: Thời gian
tiềm sóng F là thời gian xung điện 2 lần đi
trên dây thần kinh vận động ngoại vi (hướng
tâm từ ngoại vi về tới rễ, rồi ly tâm
từ rễ ra tới cơ). Nếu lấy thời gian
tiềm của MEP (từ lúc kích thích trên năo tới lúc
co cơ tay hoặc chân) trừ đi 1/2 thời gian
tiềm sóng F, ta có thời gian dẫn truyền vận
động trung ương (central motor conduction time - CMCT).
CMCT chính là thời gian dẫn truyền xung thần kinh
từ năo, theo bó tháp tới sừng trước tủy
sống. Ngoài kích thích vỏ năo, người ta c̣n có
thể kích thích tủy sống hoặc thân năo, từ
đó giúp định khu vùng rối loạn vận động
trong hệ thần kinh trung ương. Phương pháp MEP
giúp chẩn đoán xơ rải rác (chủ yếu là kéo
dài CMCT), bệnh neuron vận động như xơ
cột bên teo cơ (chủ yếu suy giảm biên độ
của MEP). MEP giúp tiên lượng trong đột quỵ:
theo Nicholas MF Murray, nếu 3-4 ngày sau tai biến mạch năo
mà mất hoàn toàn đáp ứng, th́ khả năng
hồi phục rất xấu, ngược lại nếu
biên độ MEP b́nh thường th́ tiên lượng
hồi phục rất tốt. Cũng như SEP, người
ta c̣n dùng MEP để theo dơi trong khi đang phẫu
thuật thần kinh. VÀI
ỨNG DỤNG BAN ĐẦU TẠI VIỆT NAM:
1. Cho tới nay, chúng
tôi chưa nhận được thông báo chính thức nào
về việc triển khai thực hiện phép ghi các điện
thế gợi (EP) tại Việt nam. Như đă báo cáo
lần đầu vào tháng 12 năm 1998, tại pḥng điện
cơ thuộc khoa Chẩn đoán Chức năng của BV
175 đă bước đầu thực hiện được
phương pháp ghi SEP. Chúng tôi thấy có 3 điện
thế SSEP (tức là SEP có thời gian tiềm ngắn) khi
kích thích dây giữa là N9, N13 và N20. N9 ghi ở đám
rối cánh tay và không thay đổi trong các bệnh lư
tủy sống hay năo. N13 ghi ở tủy cổ, c̣n N20 ghi
được trên sọ. Do khó khăn trong tổ chức
nghiên cứu và thời gian eo hẹp, hiện chúng tôi
mới chỉ ứng dụng trong nghiên cứu, chưa
phục vụ rộng răi trong lâm sàng. Chúng tôi rút ra
những kết luận ban đầu như sau: 2. Trên người
Việt nam và với phương pháp mắc điện
cực được thực hiện tại Labô của
chúng tôi, có 2 SSEP quan trọng nhất thuộc hệ
thần kinh trung ương khi kích thích dây giữa là N13 và
N20, đặc biệt có ư nghĩa là N20. Trên
bệnh nhân đột quỵ, biên độ N20 góp
phần tiên lượng khả năng hồi phục
vận động, mặc dù bản chất nó là một
EP của đường cảm giác. Nhận xét của chúng
tôi cũng rất phù hợp với các công tŕnh mới công
bố gần đây trên thế giới. Trên
một vài bệnh nhân xơ rải rác (multiple sclerosis)
hiếm hoi mà chúng tôi có được, đă chẩn
đoán h́nh ảnh học bằng MRI: hầu như
mất hẳn N20 cả 2 bên bán cầu đại năo, dù
trên lâm sàng bệnh nhân chỉ có suy giảm (không mất
hoàn toàn) cảm giác sâu một bên, và cảm giác sâu bên
kia th́ b́nh thường. Như vậy SSEP giúp vạch rơ
một rối loạn cảm giác khách quan mà thăm khám lâm
sàng có thể không phát hiện được. Trên
một bệnh nhân rỗng tủy, chúng tôi thấy N13 và
N20 hoàn toàn b́nh thường cả 2 bên, cũng phù
hợp với sinh lư bệnh và giải phẫu bệnh
trong thể bệnh này (không tổn thương dẫn
truyền cột sau). 3.
Như vậy, theo
những thông tin hiện có, th́ trong các khám nghiệm EP
tại Việt nam mới chỉ thực hiện được
SSEP, và cũng chỉ là những bước đi ban đầu
(xin xem thêm trang chuyên về SSEP). Như đă tŕnh bày trên, có nhiều phương pháp khám
nghiệm EP, đặc biệt SSEP và MEP có thể có
ứng dụng rất rộng răi trong thực hành thần
kinh học và là mảnh đất nghiên cứu mầu
mỡ hầu như chưa khai phá, cũng là điều
kiện thuận lợi để các BS trẻ giành
được những học vị trên đại
học. 4.
Theo thiển ư chúng
tôi, nhằm tạo điều kiện gắn chặt
với lâm sàng để chuyên sâu hóa và nghiên cứu
tốt hơn, theo đà kinh tế phát triển, nên
tiến tới có đơn vị chẩn đoán chức
năng nằm trong ḷng khoa Nội Thần kinh với các máy
móc như điện năo, điện cơ, kích thích
từ trường xuyên so, siêu âm xuyên sọï… như
ở khoa nội thần kinh ở các nước tiên
tiến hiện nay. Hăy tham khảo thêm trang Web của công ty sản xuất máy điện cơ
|