
MỞ
ĐỒI THỊ BẰNG CON DAO GAMMA TRONG ĐIỀU
TRỊ RUN GÂY TÀN PHẾ
Douglas
Kondziolka. Gamma Knife Thalamotomy for Disabling Tremor. Arch Neurol. Oct 2002;
59: 1660
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
Okun
và CS báo cáo các biến chứng ở 8 bệnh nhân bị
bệnh Parkinson được điều trị phẫu
xạ bằng con dao gamma. Tất cả các bệnh nhân này
cùng được điều trị tại 1 trung tâm.
Mặc dù các tác giả đă báo cáo một cách cẩn
thận những cải thiện trên lâm sàng của
bệnh nhân nhưng có một vài điểm đăng
tải trong bài viết của họ nên được
đưa ra và cần làm sáng tỏ. Sự mơ hồ
của các tác giả bắt đầu bằng tuyên
bố sau: “Nhiều trung tâm y khoa trên khắp thế
giới nhận xét rằng phẫu xạ bằng con dao
gamma (GK: gamma knife) để mở cầu nhạt
(pallidotomy) và mở đồi thị (thalamotomy) là một
phương pháp an toàn và hiệu quả so với phẫu
thuật bóc tách dùng tần số sóng vô tuyến và kích
thích năo sâu trong điều trị bệnh Parkinson”. Tôi
không tin điều này là đúng. Nhiều trung tâm y khoa có
con dao gamma không ủng hộ phương pháp điều
trị này; hầu hết họ sử dụng để
điều trị u năo hoặc dị dạng mạch máu
năo. Các rối loạn vận động thường
chỉ được điều trị bởi các
phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong vấn đề
này. Đây là một kỹ thuật không thường xuyên
được sử dụng so với các kỹ thuật
khác. Hầu hết các trung tâm y khoa có con dao gamma không
triển khai kỹ thuật mở đồi thị hay
mở cầu nhạt.
Trong
phần “Bàn luận”, các tác giả tranh luận
rằng con dao gamma có thể không phải là một công
cụ thích hợp để tạo sang thương trong
mở đồi thị. Họ nói: “Nếu muốn
tạo một sang thương kích thước 5-7mm th́
phải sử dụng một tia chuẩn trực (collimator)
8mm để tạo một sang thương lớn hơn
sang thương cần có”. Điều này không hoàn toàn
đúng; không việc ǵ phải là “phải sử
dụng”. Nếu đó là kích thước sang thương
cần tạo th́ phẫu thuật viên sẽ sử
dụng tia chuẩn trực chuẩn là 4mm. Như các tác
giả đề cập, các báo cáo từ những năm
1980 cho thấy một tia chuẩn trực 8mm đi liền
với một dung lượng tia xạ lớn hơn và các
tác dụng phụ nhiều hơn. Theo tôi được
biết, không ai lại sử dụng tia chuẩn trực
8mm trong phẫu xạ. Cho rằng phương thức này có
thể đă được một số trung tâm y khoa
sử dụng là không chính xác. Ngược lại, liên
quan đến vấn đề thể tích nhỏ của
sang thương, các tác giả cho rằng “Kỹ
thuật GK không thể nào tạo ra được một
thể tích sang thương nhỏ như vậy. Ngày nay,
cần phải phát triển việc sử dụng các tia
chuẩn trực nhỏ hơn, đạt trọng tâm hơn”.
Một lần nữa, quan niệm này là không đúng. Tia
chuẩn trực 4mm của con dao gamma có thể được
sử dụng theo những cách khác nhau. Theo truyền
thống, các phẫu thuật viên sử dụng đường
tia xạ bằng 50% đồng liều như là liều
tia xạ tới hạn. Tuy nhiên, có thể tạo ra
một thể tích sang thương nhỏ hơn bằng cách
sử dụng đường tia xạ bằng 80% đồng
liều với tia chuẩn trực 4mm. Theo như một
kết quả của kỹ thuật này, tôi đă có
thể chiếu xạ và phá hủy giao thoa thị của
một con chuột mà không gây tổn thương có ư nghĩa
mô năo xung quanh với liều xạ 100 Gy. Điều này
cho thấy rằng một mô đích có thể tích rất
nhỏ có thể được chiếu xạ một cách
chính xác bằng con dao gamma.
Kích
thước sang thương do tia xạ tạo ra tùy
thuộc vào liều xạ cũng như kích thước
tia chuẩn trực. Trong một nghiên cứu gần đây,
chúng tôi tiến hành mở đồi thị một con
khỉ đầu chó với liều xạ 100 Gy và có
thể tạo ra được một khu vực hoại
tử có đường kính 3mm ở thời điểm
6 tháng. Trong nghiên cứu của Okun và CS, liều xạ
để mở đồi thị là 200 Gy, một liều
xạ mà các tác giả khác có sử dụng trong quá
khứ nhưng không được sử dụng tại
Đại học Pittsburgh (Pittsburgh, Pa) của chúng tôi.
Tại trung tâm của chúng tôi, liều 130-140 Gy được
sử dụng cho những bệnh nhân cần mở đồi
thị bằng con dao gamma (chúng tôi không triển khai mở
cầu nhạt). Chúng tôi không tán thành quan điểm xem
phẫu xạ là một phương pháp “an toàn và
hiệu quả so với phẫu thuật bóc tách dùng
tần số sóng vô tuyến và kích thích năo sâu trong
bệnh Parkinson”. Chúng tôi thích sử dụng phẫu
xạ hơn trong trường hợp bệnh nhân có
chống chỉ định về y khoa nếu sử
dụng các phương pháp khác. Hầu hết những
bệnh nhân này là những bệnh nhân lớn tuổi và
bị tàn phế mắc bệnh run vô căn; những người
này có thể đang phải sử dụng các thuốc kháng
đông hay có những bệnh lư khác khiến phải cân
nhắc nếu phải dùng phẫu thuật năo có xâm
lấn. Với việc lựa chọn bệnh nhân đúng
đắn, tạo mô đích và chọn liều xạ phù
hợp, tỉ lệ biến chứng tiếp tục duy tŕ
ở mức thấp. Mặc dù chúng tôi không tán thành
việc phẫu xạ mở đồi thị 2 bên nhưng
có 1 bệnh nhân lớn tuổi đă được
mở đồi thị 2 bên suốt khoảng thời gian
2 năm sau kết quả tốt ban đầu từ
lần phẫu xạ đầu tiên.
Phẫu
xạ bằng con dao gamma có thể là một phương
pháp điều trị hiệu quả đối với
chứng run gây tàn phế ở những bệnh nhân mà các
kỹ thuật dùng tần số sóng vô tuyến hay kích thích
năo sâu có thể là không phù hợp.

PHẪU
XẠ BẰNG CON DAO GAMMA LÀ MỘT PHƯƠNG THỨC
ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC RỐI LOẠN VẬN
ĐỘNG
Ronald
F. Young. Gamma Knife Radiosurgery as an Alternative Form of Therapy for
Movement Disorders. Arch Neurol. Oct 2002; 59:1660-1662
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
Tôi đang viết bài phản hồi đối với bài
viết của tác giả Okun và CS đăng trên tạp
chí ARCHIVES nói về các biến chứng của phẫu
thuật bằng con dao gamma trong bệnh Parkinson và cũng
phản hồi đối với bài xă luận đi kèm
của bác sĩ Jankovic (Gamma Knife is a registered trademark of Elekta
Inc, Atlanta, Ga.: Con dao gamma là một thượng hiệu
đă được đăng kư của tổ hợp liên
hợp Eletka, Atlanta, Ga.).
Theo
tôi, bài viết là một sự chơi khăm đối
với bệnh nhân cũng như các nhân viên y tế, các
bác sĩ nội thần kinh và phẫu thuật thần
kinh là những người quan tâm đến các bệnh lư
rối loạn vận động. Thực tế là từ
nhiều năm qua, người ta đă biết rằng các
biến chứng có thể xảy ra với bất cứ
một phẫu thuật xâm lấn nào dùng điều
trị các rối loạn vận động. Nhóm nghiên
cứu của chúng tôi cũng như các nhóm nghiên cứu
khác đều đă báo cáo về các biến chứng
xuất hiện sau kỹ thuật phẫu xạ dùng con dao
gamma để tạo sang thương chức năng. Theo tôi
được biết, Okun và CS không hề có kinh
nghiệm cá nhân nào trong vấn đề sang thương
chức năng khi sử dụng phương pháp phẫu
xạ trong điều trị các rối loạn vận
động. Đề cập đến các biến
chứng được phát hiện bởi các nhà nghiên
cứu khác vốn thật sự có thực hiện kỹ
thuật này, các báo cáo về những trường
hợp bị biến chứng không được chi
tiết đủ cho phép đánh giá kỹ thuật
của họ. Bài viết của Okun và CS cũng như bài
xă luận đăng kèm đều không thử đánh giá
lỗi sai của các phương pháp khiến có thể gây
nên các biến chứng mà họ đă mô tả.
Nguồn
gốc gây tranh căi dễ nhận thấy bao gồm mô
đích giải phẫu đă xác định, phương
pháp định mô đích và liều phẫu xạ
phải sử dụng. Xem xét đến liều phẫu
xạ gây biến chứng là một thực tế cho
thấy các tác giả đă không mường tượng
output factor sử dụng để tính toán liều xạ
này là ǵ. Bởi v́ một tia chuẩn trực 4mm của
con dao gamma th́ quá nhỏ để cho phép định
liều trực tiếp so với việc định
liều qua một tia chuẩn trực 18mm, và output factor
sử dụng để tính toán liều ước
chừng là dùng tia chuẩn trực 4mm. Trước kia, người
ta sử dụng output factor là 0.8, nhưng gần đây hơn
người ta đề nghị con số 0.87. Tôi cho
rằng Okun và CS đă sử dụng output factor là 0.8; c̣n
với output factor là 0.87, liều xạ sẽ cao hơn
xấp xỉ 9% và sẽ biến thiên từ 109-218 Gy. Tôi
biết rằng không có bất cứ ai trong kỷ nguyên
hiện đại của sang thương chức năng
do con dao gamma tạo ra lại sẽ sử dụng giới
hạn liều 200 Gy. Một ḿnh yếu tố này đă có
thể giải thích cho nhiều biến chứng đă báo
cáo.
Trước
đây, chúng tôi có báo cáo về việc cần thiết
phải có một chương tŕnh bảo đảm
chất lượng chính xác tuyệt đối khi sử
dụng một ḿnh MRI để hướng dẫn định
vị mô đích trong phẫu thuật thần kinh chức
năng. Gần đây, De Salles và CS có báo cáo một nghiên
cứu thực nghiệm khẳng định rằng khi
sử dụng các kỹ thuật như vậy, việc
định vị mô đích
nhờ MRI rất chính xác. De Salles và CS cũng nhận
thấy rằng các sang thương do phẫu xạ có
thể được thực hiện một cách chính xác
tại nhân dưới đồi của khỉ vervet. Quan
điểm hàm ư trong bài viết của Okun và CS cũng như
bài xă luận – rằng lựa chọn mô đích nhờ
điện sinh lư sử dụng vi điện cực hướng
dẫn th́ ưu việt hơn so với các kỹ
thuật định vị khác không dùng phương
thức này – là hoàn toàn không có bằng chứng xác
đáng. Thêm vào đó, vật mang vi điện cực
bản thân nó đă gây nguy cơ tổn thương năo và
gây ra xuất huyết trong sọ. Trong bài viết của ḿnh,
Okun và CS chủ yếu lựa chọn những h́nh ảnh
T2 và sử dụng h́nh ảnh tái hồi đảo ngược
giảm đậm độ dịch (FLAIR: fluid-attenuated
inversion recovery), những h́nh ảnh này có khuynh hướng
làm phóng đại kích thước hiển thị của
sang thương. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, kích thước
của sang thương thật sự và vị trí của
nó hầu như luôn luôn xác định khả năng
cải thiện về sinh lư học, hiệu quả điều
trị hoặc các biến chứng tốt hơn so với
các tín hiệu từ khu vực xung quanh vốn có thể
xuất hiện trên h́nh ảnh T2 và FLAIR. Có một điều
may mắn là các tín hiệu quá sự thật nhận
thấy trên những h́nh ảnh này sẽ mất dần
theo thời gian và hầu như không bao giờ có mối
quan hệ với bất cứ hiệu quả lâm sàng nào.
Cuối
cùng, trong nghiên cứu của ḿnh, Okun và CS đă không cung
cấp mẫu thức để đánh giá tỉ lệ
biến chứng. Mặc dù có một đoạn ngắn
trong bài xă luận đăng kèm chỉ ra vấn đề
này, nhưng nó đă kết luận một cách không trung
thực rằng phẫu trị bằng con dao gamma “có liên
quan với một tỉ lệ biến chứng tức th́
và muộn cao không chấp nhận được”. Bài xă
luận này được thực hiện mà không có
sự tham khảo nhiều bài xuất bản của chúng
tôi, trong đó chúng tôi đă chỉ ra cho thấy rằng
với một kỹ thuật thực hiện tỉ
mỉ, chính xác, sử dụng con dao gamma trong điều
trị các rối loạn vận động là một phương
pháp hiệu quả và an toàn hơn các phương pháp
phẫu thuật xâm lấn như tạo sang thương
bằng tần số sóng vô tuyến và kích thích năo sâu
(DBS: deep brain stimulation). Chúng tôi đă thực hiện hơn
350 trường hợp dùng con dao gamma điều trị các
rối loạn vận động suốt một giai đoạn
hơn 10 năm. Không có một trường hợp nào
bị tử vong. Có 2 bệnh nhân bị khiếm khuyết
thị trường vĩnh viễn. Trong một báo cáo
xuất bản gần đây theo dơi trong một thời
gian dài (trung b́nh 52 tháng) về kinh nghiệm của chúng tôi
trong mở đồi thị bằng con dao gamma để
điều trị run (158 bệnh nhân), tỉ lệ bị
biến chứng vĩnh viễn là 1.3%, không có bệnh nhân
nào bị biến chứng cần phải nhập viện
điều trị. Thời gian lưu lại bệnh
viện để thực hiện phẫu thuật tối
đa là 24 giờ.
Phần
đáng buồn trong bài viết của Okun và CS là nếu
như họ cung cấp cho chúng ta phân tích chi tiết
về mỗi trường hợp biến chứng theo
từng nhóm tương ứng với các kỹ thuật
phẫu xạ tiến hành th́ chúng ta có thể học
hỏi được cách thức làm thế nào để
tránh các biến chứng do con dao gamma gây ra. Thật là
lố bịch khi tranh luận về “tỉ lệ
biến chứng đáng kể” từ 1-2% trong mở
đồi thị hay cầu nhạt không dùng con dao gamma. Nhóm
chúng tôi đă thực hiện sang thương dùng tần
số sóng vô tuyến và DBS, cũng như ghép neuron, đă
hơn 25 năm nay, và chúng tôi đă gặp bệnh nhân
phẫu thuật ở tất cả các trung tâm trên
khắp nước Mỹ, Mexico, Canada và châu Aâu. Tôi đồng
ư với các tác giả rằng không phải toàn bộ các
biến chứng của kỹ thuật tạo sang thương
bằng tần số sóng vô tuyến và DBS đă
được báo cáo. Các báo cáo gần đây, bao
gồm cả 1 báo cáo của Jankovic và CS, đă báo cáo
tỉ lệ biến chứng trong kỹ thuật tạo
sang thương bằng tần số sóng vô tuyến cao hơn
1-2%. Trong một bài viết dài trong y văn về kỹ
thuật mở đồi thị bằng tần số sóng
vô tuyến để điều trị run, Tasker mô tả
tỉ lệ tử vong từ 0-5%, liệt nửa người
vĩnh viễn gần 6.3%, loạn phối hợp từ
(dysphasia) vĩnh viễn gần 3%, loạn vận ngôn
(dysarthria) vĩnh viễn gần 25%, loạn dáng đi vĩnh
viễn gần 6%. Trong chuỗi nghiên cứu gần đây
của chúng tôi trên 77 trường hợp điều
trị rối loạn
vận động bằng DBS, chúng tôi đă bắt
gặp 1 trường hợp xuất huyết lan tràn trong
sọ, 1 trường hợp xuất huyết dưới màng
cứng 2 bên, 3 trường hợp động kinh cơn
lớn hậu phẫu, 3 trường hợp điện
cực lạc chỗ mặc dù có vi điện cực
ghi, 3 trường hợp điện cực bị vỡ
đ̣i hỏi phải lấy ra và thay thế, 4 trường
hợp trở nẹn hung hăn và lú lẫn hậu phẫu mà
không giải thích được. Có 7 bệnh nhân đ̣i
hỏi phải nhập viện và 1 bệnh nhân tử vong
sau phẫu thuật do biến chứng của DBS. Kinh
nghiệm biết trước của bản thân chúng ta
về DBS trong điều trị đau mạn tính gợi
ư rằng việc theo dơi lâu dài thậm chí sẽ làm hé
mở thêm nhiều biến chứng nữa, chẳng
hạn biến chứng vỡ điện cực, giảm
hiệu quả, động kinh. Những bệnh nhân đă
trải qua DBS có thể không dung nạp phép điện
nhiệt, siêu âm hay tiếp xúc sóng vi ba (sóng cực
ngắn). Trong những trường hợp hiếm gặp,
tàn phế nghiêm trọng và tử vong có thể xuất
hiện từ sự phơi nhiễm ngẫu nhiên với các
yếu tố trên. Cuối cùng, ḍng điện trong DBS có
thể đột ngột bị ngắt khiến đột
ngột làm trầm trọng thêm các triệu chứng
của bệnh Parkinson và có thể phải đ̣i hỏi
nhập viện.
Một
kỹ thuật điều trị bằng con dao gamma trong
điều trị rối loạn vận động
được xem là đúng khi có sự phối hợp
giữa việc không gây biến chứng ngay lập
tức và hạn chế đến mức cực thấp
các biến chứng muộn. Không có dụng cụ kim
loại, không có sự thay đồi điện thế
hay chương tŕnh lặp đi lặp lại đối
với cả bệnh nhân và thầy thuốc gắn
liền với một cơ sở nền tảng của
phương pháp. Nói cách khác, DBS nhân dưới đồi
có thể điều trị các triệu chứng hiển
nhiên của bệnh Parkinson mà không có một phẫu
thuật bóc tách nào, cả kỹ thuật dùng tần
số sóng vô tuyến cũng như phẫu xạ bằng
tia gamma, có thể điều trị được trong
thời điểm hiện nay. Đây chính là điều
mà tại sao chúng tôi tiếp tục sử dụng DBS trong
điều trị chứng dao động vận động,
chứng cứng đờ, mất vững tư thế và
dáng đi. Đối với bệnh Parkinson nổi
trội về triệu chứng run, , run vô căn và
những bệnh lư tương tự, chúng tôi tin rằng
một kỹ thuật dùng con dao gamma đúng nên được
tiếp tục áp dụng cho tất cả bệnh nhân.
Đánh giá một cách cẩn thận các nghiên cứu
về tất cả các dạng điều trị can
thiệp bệnh Parkinson và các rối loạn vận động
khác hiển nhiên là điều hữu ích. Tuy nhiên,
thật là không có ích lợi ǵ khi chỉ có các dữ
liệu hạn chế mà lại đưa ra các công
bố gây hoang mang.

HỒI
ÂM: PHẢI CHĂNG BÁO CÁO VỀ CÁC BIẾN CHỨNG LÀ
MỘT SỰ CHƠI KHĂM ĐỐI VỚI NỘI
THẦN KINH VÀ PHẪU THUẬT THẦN KINH? CÁC BIẾN
CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT BẰNG CON DAO GAMMA TRONG
ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON
Michael
S. Okun, Jerrold L. Vitek, Mahlon R. DeLong. In reply: Is the Reporting of
Complications a Disservice to Neurology and Neurosurgery? Complications of Gamma
Knife Surgery for Parkinson Disease. Arch Neurol. Oct 2002; 59: 1662-1663
Người
dịch: BS. Tạ Vương Khoa
Bác
sĩ Young, người đang viết bài phản hồi
lại bài viết của chúng tôi, cho rằng trong báo cáo
về các biến chứng nghiêm trọng ở 8 bệnh nhân
bị bệnh Parkinson (PD: Parkinson disease) được
điều trị phẫu thuật bằng con dao gamma, chúng
tôi đă tạo ra “một sự chơi khăm đối
với bệnh nhân cũng như các nhân viên y tế, các
bác sĩ nội thần kinh và các bác sĩ phẫu
thuật thần kinh là những người chăm sóc
bệnh nhân bị các rối loạn vận động”.
Chúng tôi hoàn toàn không đồng ư với ư kiến này và
những ngụ ư tiềm ẩn của nó đối
với khoa học và đối với việc điều
trị bệnh nhân. Lá thư của bác sĩ Young hướng
sự chú ư của người đọc đến
việc so sánh kinh nghiệm sử dụng con dao gamma
của ông ta với kinh nghiệm tạo sang thương dưới
hướng dẫn của vi điện cực và DBS
của các nhóm tác giả khác. Tuy nhiên, điều nguy
hiểm là dụng ư thật sự trong báo cáo của chúng
tôi sẽ bị đánh mất đi. Dụng ư của chúng
tôi rất đơn giản. Chúng tôi là một trung tâm
nghiên cứu cấp 3 lớn nghiên cứu về PD và các
rối loạn vận động, và trong suốt một
khoảng thời gian rất ngắn, chúng tôi đă
bắt gặp 8 bệnh nhân PD mắc phải các biến
chứng đáng kể sau khi được phẫu
thuật bằng con dao gamma ở một cơ sở bên ngoài.
Có thể có nhiều trường hợp hơn nữa
tại cơ sở này; kể từ sau khi bài viết chúng
tôi được phát hành, chúng tôi đă bắt gặp
tiếp sau đó 1 trường hợp khác bị biến
chứng và chúng tôi không có ư kiến ǵ về việc
những bệnh nhân khác cũng được điều
trị phẫu thuật bằng con dao gamma cải thiện
tốt lên như thế nào.
Từ
việc số bệnh nhân bị biến chứng đáng
kể sau phẫu thuật bằng con dao gamma ở cơ
sở bên ngoài gia tăng đột ngột, chúng tôi
cảm thấy rằng việc đưa vấn đề
đang gây tranh căi này ra là điều cần thiết.
Mặc dù bác sĩ Young nêu ư kiến rằng “biến
chứng có thể xảy ra trong bất cứ một
phẫu thuật xâm lấn nào dùng điều trị các
rối loạn vận động” nhưng tỉ lệ
biến chứng khác nhau từ những cách thức điều
trị khác nhau này tiếp tục là một câu hỏi quan
trọng đ̣i hỏi phải được trả
lời.
Trong
bức thư của ḿnh, bác sĩ Young cũng sử
dụng một vài tuyên bố biện hộ cho các lời
phê b́nh khác. Đầu tiên, ông ta tuyên bố rằng ông
ta biết “không một ai trong kỷ nguyên hiện đại
của kỹ thuật tạo sang thương chức năng
bằng con dao gamma sẽ sử dụng liều xạ
ở giới hạn 200 Gy”. Bằng thành quả từ
nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi biết rằng tuyên
bố này là không đúng. Liều 200 Gy được
Friehs và CS báo cáo vào năm 1970, Lindquist và CS báo cáo vào năm
1992. Thêm vào đó, vào năm 1991, Lindquist và CS đă
thực hiện phẫu thuật tâm lư (mở bao trước:
anterior capsulotomy) ở 10 bệnh nhân sử dụng liều
200 Gy. Mặc dù hầu hết các nghiên cứu sử
dụng liều 140-160 Gy nhưng cũng có nhiều nghiên
cứu – bao gồm cả 1 nghiên cứu do Young công bố
– đă sử dụng giới hạn liều 180 Gy, điều
này đă cho thấy sự thiếu nhất quán giữa các
trung tâm sử dụng con dao gamma phẫu thuật điều
trị các rối loạn vận động trong việc
lựa chọn liều xạ sao cho an toàn và hiệu
quả nhất. Chúng tôi tin rằng những ư kiến phê
phán của bác sĩ Young về phẫu thuật bằng
con dao gamma trong điều trị PD và các rối loạn
vận động khác nhấn trọng tâm vào ư: đă có
sự thiếu nhất quán trong việc lựa chọn
liều xạ và kỹ thuật tốt nhất tại các
cơ sở sử dụng con dao gamma điều trị PD
và các rối loạn vận động khác. Vấn đề
này là một trong những vấn đề tối quan
trọng cho sự an toàn của bệnh nhân và nên
được xem xét một cách chặt chẽ hơn
nữa tại các cơ sở y khoa.
Ư
kiến của bác sĩ Young rằng h́nh ảnh T2 và FLAIR
mà chúng tôi sử dụng làm phóng đại kích thước
sang thương, và rằng vấn đề này “mất
đi dần dần theo thời gian và hầu như không
bao giờ có mối liên quan với bất cứ một
hiệu quả lâm sàng nào” là các ư kiến không có cơ
sở chứng minh. Báo cáo của chúng tôi cho thấy 8 trường
hợp (1 trường hợp có các dấu hiệu
bệnh học) có h́nh ảnh trên T2 và FLAIR phù hợp
với bệnh cảnh lâm sàng và cải thiện của
bệnh nhân. V́ thế, những h́nh ảnh này là có ư nghĩa
lâm sàng. Thêm nữa, ư kiến cho rằng những biến
đổi này sẽ mất đi theo thời gian không
được tán thành. Trong 8 trường hợp chúng tôi
báo cáo, sang thương và các khiếm khuyết trên lâm sàng
vẫn tồn tại, một số c̣n ph́ đại
lớn hơn trong 1 trường hợp sau này bi7 tử
vong.
Bác
sĩ Young cho rằng khi các kỹ thuật phẫu
thuật thích hợp được áp dụng th́ việc
định vị mô đích sẽ “rất chính xác”
nhờ vào MRI. Ông ta cho rằng nghiên cứu của De Salles
và CS khẳng định các sang thương do phẫu
xạ tạo ra “được thực hiện một cách
chính xác tại nhân dưới đồi của con
khỉ vervet”. Phân tích cẩn thận nghiên cứu này cho
thấy các tác giả đă tạo ra các sang thương
vừa không chính xác vừa không được ước
đoán trước khi sử dụng liều phẫu
xạ 150 Gy và tia chuẩn trực 3mm. Ở một con thú mà
trong đó nhân dưới đồi là cơ quan đích,
sang thương được định vị tại
phần bụng của nhân và gồm cả các thành
phần của chất đen. Ở 2 con thú mà trong đó
chất đen là cơ quan đích, phân tích mô học cho
thấy có sự phá hủy mô tối thiểu ở
một con, trong khi lại không t́m thấy bằng chứng
có phá hủy mô. Như vậy, ngược với
khẳng định của bác sĩ Young rằng mô đích
sẽ được định vị “rất chính xác”
khi sử dụng các kỹ thuật phẫu thuật thích
hợp, sang thương được tạo ra trong nghiên
cứu này (mặc dù sử dụng tia chuẩn trực
nhỏ hơn, chỉ là 3mm) vừa không chính xác vừa không
được khu trú.
Về
ư kiến của bác sĩ Young liên quan đến vấn
đề tỉ lệ biến chứng, bài viết
của chúng tôi có cung cấp một bài phân tích chi
tiết trong y văn, gồm cả báo cáo của ông ta,
về các biến chứng của phẫu thuật bằng
con dao gamma trong điều trị PD. Điểm nổi
bật là kết quả của ông ta lại không song hành
với kết quả của các CS của ḿnh. Không có
một nhóm nghiên cứu nào khác công bố tỉ lệ
biến chứng thấp như tỉ lệ 1.3% mà ông ta công
bố trong bức thư của ông ấy, và không có
bất kỳ một dữ liệu xác thực hay có
thể chấp nhận được nào trong 8 bản
xuất bản mà ông ta trích dẫn (tất cả đều
do tự ông ta lập ra) ủng hộ quan điểm
của ông ta rằng “con dao gamma hiệu quả và an toàn
hơn các phương pháp phẫu thuật xâm lấn như
tạo sang thương bằng tần số sóng vô
tuyến và DBS trong điều trị các rối loạn
vận động. Không có những nghiên cứu tiền
cứu có tính chuyên biệt cao nào về phẫu thuật
bằng con dao gamma trong điều trị Parkinson tiếp bước
theo “Chương tŕnh đánh giá cốt yếu phương
pháp ghép mô trong năo” (Core Assessment Program for Intracerebral
Transplantation protocol) và có thể đem so sánh với các phương
pháp phẫu thuật khác. Thêm vào đó, kể từ khi công
bố, chúng tôi đă biết có 118 trường hợp
được tiến hành điều trị các rối
loạn vận động (96 trường hợp là PD)
ở cơ sở bên ngoài chính là nơi đă phẫu
thuật cho các bệnh nhân mà chúng tôi đă mô tả
trong bài viết của ḿnh. Mặc dù không biết
được tỉ lệ biến chứng chính xác nhưng
chúng tôi biết được trong nhóm này có 9 bệnh nhân
bị PD đă được chúng tôi thăm khám và phát
hiện có các biến chứng đáng kể, tạo ra
một tỉ lệ biến chứng cao hơn 9%. Đối
với 87 bệnh nhân c̣n lại, chúng tôi không thể bàn
luận đến bởi v́ chúng tôi chưa thăm khám.
Về
ư kiến của bác sĩ Young liên quan đến tiêu
chuẩn phẫu thuật ở bệnh nhân bị PD,
một đề tài không được đưa ra
trực tiếp trong bài viết của chúng tôi, đă cho
thấy ông ta thiếu hiểu biết về nội dung
vấn đề đang được đề cập.
Lời khẳng định rằng: “Không có kỹ
thuật bóc tách nào, cả phẫu xạ bằng tần
số sóng vô tuyến lẫn con dao gamma” hiện thời
điều trị được các dao động
vận động và rằng bệnh nhân có các triệu
chứng này cần điều trị bằng DBS là câu nói
sai. Các thầy thuốc nên nhận thức rằng mở
cầu nhạt có hiệu quả trong điều trị
dao động vận động như đă được
chứng minh trong một vài nghiên cứu về mở
cầu nhạt trong điều
trị PD. Mặc dù triệu chứng run đáp ứng
với điều trị mở đồi thị tại
nhân bụng trung gian nhưng các triệu chứng khác
của PD th́ không phải như vậy khiến cho số
bệnh nhân bị PD được điều trị
bằng mở đồi thị (bằng con dao gamma
hoặc tạo sang thương bằng tần số sóng vô
tuyến) giảm đáng kể. Bởi v́ các dạng
mở đồi thị này đă không được báo
cáo là làm cải thiện chứng mất vận động
hay chậm vận động nên kỹ thuật này
hiện nay hiếm khi được sử dụng để
điều trị PD. Hầu hết các trung tâm có con dao
gamma dùng để phẫu thuật điều trị các
rối loạn vận động trong PD đă ngừng
kỹ thuật mở cầu nhạt bằng con dao gamma
bởi v́ tỉ lệ biến chứng cao. Chính v́
vậy, số lượng bệnh nhân PD tiềm ẩn
khả năng thích hợp với phẫu thuật bằng
con dao gamma thấp, có lẽ chỉ giới hạn ở
số bệnh nhân không thể điều trị can
thiệp bằng tần số sóng vô tuyến hoặc DBS.
Chúng
tôi hoàn toàn không đồng ư với tuyên bố rằng:
“Kỹ thuật con dao gamma đúng cách trong điều
trị rối loạn vận động không gắn
liền với các biến chứng tức th́ và gắn
liền với tỉ lệ cực thấp các biến
chứng muộn”. Chúng tôi đề xuất với cơ
sở y tế về việc định nghĩa như
thế nào là một kỹ thuật “được
thực hiện đúng cách”. Chúng tôi rất hài ḷng khi
đọc lá thư của bác sĩ Kondziolka của Đại
học Pittburgh. Trong thư của ḿnh, bác sĩ Kondziolka
đă phân loại các vấn đề liên quan đến
kích thước tia chuẩn trực và đề xuất
một cách tiếp cận khác để tạo ra một
sang thương nhỏ hơn bằng con dao gamma. Ông ta
thảo luận về một nghiên cứu trên thú vật
gần đây trong đó ông ta có thể tạo ra một
sang thương nhỏ tại giao thoa thị của
một con chuột, cũng như vấn đề kiểm
soát tốt kích thước sang thương. Chúng tôi
sẽ khuyến khích bác sĩ Kondziolka báo cáo phát hiện
của ông ấy và phát hành kỹ thuật của ông
trong phẫu thuật bằng con dao gamma; các h́nh thức
cải tiến này chính xác là những ǵ cần thiết
để đưa lĩnh vực này tiến về phía
trước. Ông ta cũng dẫn ra vấn đề
rất quan trọng trong việc lựa chọn bệnh nhân,
và trái ngược với bác sĩ Young, ông ta ủng
hộ xem kỹ thuật này như là một phương
pháp điều trị tiềm năng ở những
bệnh nhân không thích hợp với điều trị
bằng tần số sóng vô tuyến hay DBS. Chúng tôi
sẽ khuyến khích các cơ sở phẫu thuật
thần kinh quan tâm chặt chẽ hơn đến vấn
đề phẫu thuật bằng con dao gamma trong điều
trị PD và các rối loạn vận động khác
để cung cấp những phương pháp điều
trị hiệu quả và an toàn nhất cho bệnh nhân
của chúng ta. Chúng tôi không đồng ư với bác sĩ
Young rằng báo cáo của chúng tôi biểu thị cho
một “lời gieo hoang mang” với cộng đồng.
Tuy nhiên, chúng tôi hi vọng rằng các cảnh báo đó
sẽ mất đi tại các trung tâm có con dao gamma dùng
điều trị các rối loạn vận động,
thức tỉnh họ về việc cần phải có các
thử nghiệm lâm sàng tiền cứu có kiểm
chứng theo dơi trong một thời gian dài.
