
DỰ
ĐOÁN THỞ MÁY TRONG HỘI CHỨNG GUILLAIN-BARRÉ
Nicholas
D. Lawn, Dade D. Fletcher, Robert D. Henderson, Troy D. Wolter, Eelco F. M.
Wijdicks. Anticipating Mechanical Ventilation in Guillain-Barré Syndrome.
Archives of Neurology.
June
2001; 58: 893-898
Người
dịch: BS. Nguyễn Thanh Giang
Bối
cảnh:
Do sự kết hợp quá mức của nhiều nhân
tố lâm sàng trong việc suy giảm hô hấp do thần
kinh cơ ở >30% bệnh nhân bị hội chứng
Guillain-Barré (GBS). Mặc dù đă có các chỉ dẫn
tiến hành đặt nội khí quản nhưng việc
chỉ định sớm cho tiến tŕnh kế tiếp
của suy hô hấp đă không được xác lập.
Mục
tiêu: Để
nhận ra đặc điểm lâm sàng và những nét
đặc biệt về hô hấp liên quan với tiến
tŕnh suy giảm hô hấp và để khảo sát mô h́nh
của sự suy giảm hô hấp trong bệnh nhân bị
GBS nặng nề.
Cách
tŕnh bày:
Nghiên cứu hồi cứu.
Giai
đoạn:
Thời kỳ thứ 3 (giai đoạn 3) chăm sóc
tại bệnh viện.
Bệnh
nhân: 114
bệnh nhân với GBS nặng nề diễn biến liên
tục đă được gia nhập đơn vị chăm
sóc đặc biệt từ 1/1/1976 đến 31/12/1996.
Kết
luận chính:
Những dấu hiệu sớm của việc suy hô
hấp là những điều kiện tất yếu cho
việc thở máy và những mô h́nh của sự suy
giảm hô hấp.
Phương
pháp:
Điểm đặc trưng đặc điểm lâm sàng
và điện sinh lư của 60 bệnh nhân được
thở máy đă được so sánh với 54 bệnh nhân
với GBS nặng nề mà không phải thở máy. Sự
hạn chế trong th́ hít vào tối đa và thở ra
tối đa hàng ngày và dung tích sống đă được
đánh giá. Nhiều những thay đổi báo trước
sự cần thiết thở máy đă được
đánh giá sử dụng phép phân tích hồi qui.
Kết
quả:
Tiến tŕnh thở máy được chính xác hơn
đối với những bệnh nhân với quá tŕnh
bệnh diễn biến nhanh chóng, loạn chức năng hành
tủy, liệt mặt 2 bên hoặc loạn chức năng
tự động. Nhân tố kết hợp với quá tŕnh
suy giảm hô hấp bao gồm dung tích sống <20 ml/kg,
áp lực thở ra tối đa <40 cmH2O hoặc giảm
>30% dung tích sống, áp lực hít vào tối đa
hoặc thở ra tối đa. Không có nét đặc
biệt lâm sàng nào dự đoán được mô h́nh
của sự suy sụp hô hấp. Tuy nhiên, theo thứ
tự những thử nghiệm thăm ḍ chức năng
phổi cho phép khám phá ra những nguy cơ của việc
suy giảm hô hấp.
Kết
luận:
Tiến tŕnh của bệnh nhân GBS nghiêm trọng trong
một số phạm vi có thể được dự
đoán trong những nét cơ bản của thông tin lâm sàng
và những thử nghiệm lâm sàng đơn giản
tại giường đánh giá chức năng hô hấp.
Dữ liệu này cho phép áp dụng trong những quyết
định đưa bệnh nhân vào đơn vị chăm
sóc đặc biệt của bệnh viện và chuẩn
bị lựa chọn để đặt nội khí
quản.
Việc
quản lư theo dơi bệnh nhân GBS rất khó khăn.
Tiến tŕnh của bệnh không thể đoán trước,
khả năng suy giảm hô hấp đe dọa cuộc
sống một cách nhanh chóng cho phép bệnh nhân gia
nhập ICU (đơn vị chăm sóc đặc biệt)
một cách mau lẹ. Tuy nhiên, không cần thiết
phải thuyên chuyển mọi bệnh nhân bị GBS
tới ICU dựa trên những mối nguy cơ tiềm tàng
đơn lẻ này. Tại thời điểm này,
chỉ có 1 số dữ liệu có vai tṛ cung cấp
sự hướng dẫn hạn chế t́nh trạng này.
Mặc dù nhiều nghiên cứu có phát hiện những nhân
tố mà có liên quan đến sự suy yếu toàn bộ
cơ thể nặng nề, hành tủy có vấn đề
hoặc sự diễn biến nhanh chóng của các biến
số, những tác nhân này được phân tích trước
khi đặt nội khí quản. V́ vậy, đó là điều
khó khăn để hiểu sử dụng những thông
tin này như thế nào trong việc đánh giá bệnh nhân
trước thời điểm suy giảm hô hấp cũng
như những phát hiện của lâm sàng cho phép quyết
định sau lúc đặt nội khí quản.
“Dành
cho ư kiến bài xă luận thấy ở trang 871”:
Trong
những chuỗi quan sát của họ ở 19 bệnh nhân,
Ropper và Kehne đă thành lập ra những tiêu chuẩn chính
xác để đặt nội khí quản ở bệnh
nhân bị GBS dựa trên những dấu hiệu lâm sàng
đă được định rơ trước đây và
những yếu tố về hô hấp. Bệnh nhân
được đặt nội khí quản khi có bằng
chứng lâm sàng của sự mệt mỏi hoặc
yếu cơ hầu họng nghiêm trọng được
xuất hiện ở quá tŕnh hít vào. Họ cũng đặt
nội khí quản khi dung tích sống <15 ml/kg hoặc các
giá trị PO2 <70 mmHg trong pḥng khí trời b́nh thường.
Nhiều sách giáo khoa đă nhắc lại sự hướng
dẫn đặt nội khí quản trung thành với
những điều khoản này. Những yếu tố
về hô hấp và lâm sàng đă cho chỉ định
đúng trong việc xác định tiếp tục đặt
nội khí quản nhưng không cung cấp hướng
dẫn đối với việc điều trị
sớm hô hấp ở bệnh nhân bị GBS.
Theo
thứ tự những phép đo chức năng hô hấp
thường xuyên biện hộ cho bệnh nhân với GBS.
Tuy nhiên, có một ít chi tiết thông tin lâm sàng trong y văn
về những mô h́nh của sự suy sụp chức năng
hô hấp do thần kinh cơ và những chỉ số hô
hấp, cái mà được ưu tiên đánh giá đă
được biện hộ. Việc quản lư hô
hấp đă có thể được đơn giản hóa
và sự hướng dẫn cho sự lựa chọn đặt
nội khí quản và gia nhập ICU đă có thể phát
triển được nếu những dự đoán chính
xác của việc suy giảm hô hấp có thể nhận
biết sớm trong tiến tŕnh của bệnh.
Kết
quả:
Những
đặc điểm cơ bản về lâm sàng và nhân
khẩu của bệnh nhân với GBS nặng nề người
được thở máy và những người không
thở máy đă được ghi vào danh sách trong
bảng 1. Những bệnh nhân đ̣i hỏi chăm sóc
thở máy có bệnh cảnh nặng nề hơn bởi
sự có mặt của t́nh trạng loạn chức năng
của hành tủy (P< 0.001), loạn chức năng
tự động (P= 0.009) và liệt mặt 2 bên (P= 0.03).
Thêm vào đó, điều kiện tất yếu của
thở máy là rút ngắn thời gian kế từ lúc
bắt đầu triệu chứng của bệnh tới
giai đoạn cuối (P= 0.01). Không có sự khác biệt
có ư nghĩa được chú ư giữa những bệnh
nhân được thở máy và những bệnh nhân không
được thở máy về tuổi, giới tính và
sự có mặt của bệnh lư dạ dày ruột, chúng
liệt chân tay hoặc bệnh phổi. Kết quả phân
tích dịch năo tủy cả 2 nhóm đều giống
nhau. Việc nghiên cứu sự dẫn truyền dây
thần kinh đă được so sánh trong cả 2 nhóm.
Tuy nhiên, sự phân tích này bị hạn chế bởi v́
chỉ có 18 bệnh nhân được thở máy và 26
bệnh nhân không được thở máy có điện
cơ trước giai đoạn cuối của bệnh.
Không có bệnh nhân trong mỗi nhóm có bằng chứng
của giảm kích thích dây thần kinh trước giai
đoạn cuối của bệnh. Trong serie này, việc
điều trị đă không có sự kết hợp
của globulin miễn dịch hoặc tách huyết tương
với đặt nội khí quản và thở máy.
Tiêu
chuẩn và việc đánh giá hô hấp kế tiếp
đă được tóm tắt trong bảng 2. Bệnh nhân
đ̣i hỏi thở máy có VCs dưới mức b́nh thường
(P= 0.007) trong lúc nhập viện, PImax thấp hơn mức
b́nh thường (P= 0.01) và PO2 thấp hơn mức b́nh thường
(P= 0.01) so sánh với bệnh nhân không phải thở máy.
Thêm vào đó, bệnh nhân đ̣i hỏi thở máy
thật sự phải có VC giảm thấp hơn 20 ml/kg
tại thời điểm sau nhập viện (P< 0.001)
hoặc giảm VC tối thiểu 30% so với mức b́nh
thường (P< 0.001). Họ cũng có PEmax giảm 30% (P=
0.002) và PImax giảm 30% (P= 0.003). Thêm vào đó, PImax nhỏ
hơn 30 cmH2O và PEmax nhỏ hơn 40 cmH2O đă liên quan
mạnh mẽ với điều kiện tất yếu
dẫn tới thở máy (P< 0.001 và P= 0.007 riêng từng
trường hợp). Chúng tôi cũng phân tích mẫu
thời gian của sự suy sụp VC của 32 bệnh nhân
với GBS nặng nề mà được thở máy trong
một dữ liệu hoàn chỉnh có thể được
sử dụng, 23 bệnh nhân có suy giảm VC trên 30%, 15
bệnh nhân trải qua sự mất bù nhanh chóng (<24
giờ), c̣n 8 bệnh nhân được thông báo là
sự suy giảm VC từ từ (>24 giờ). 9 bệnh nhân
không đánh giá được sự suy sụp trước
khi đặt nội khí quản. 3 trong số bệnh nhân
này có VC ban đầu nhỏ hơn 20 ml/kg và đă
được đặt nội khí quản sớm sau
đó. Có 6 bệnh nhân khác được đặt
nội khí quản bảo vệ đường thở
bởi v́ có sự suy yếu hành tủy hoặc có liên
quan tới chứng giảm oxy không khí thở vào đáng
kể với bệnh viêm phổi kết hợp. Với 42
bệnh nhân bệnh GBS nặng nề nhưng không phải
thở máy đă tạo nên một dữ liệu hoàn
chỉnh và thuận tiện, 36 bệnh nhân (86%) không có
sự suy sụp hoặc sự cải thiện VC trong
suốt quá tŕnh họ gia nhập bệnh viện. Chỉ
có 6 bệnh nhân có sự suy giảm VC. Trong tất cả
số đó có 1 trường hợp có VC tuyệt đối
lớn hơn 20 ml/kg tại thời điểm thấp
nhất của họ. 48% bệnh nhân đă được
đặt nội khí quản từ 6 giờ chiều
tới 8 giờ sáng mặc dù tất cả dường như
có thể bán lựa chọn thủ tục này. Đặt
nội khí quản gấp cần phải tiến hành trong
trường hợp ngừng tim, ngừng thở hoặc
những trường hợp nghiêm trọng về hô
hấp, nó xảy ra ở 16% bệnh nhân.
H́nh
ảnh X-quang ngực không b́nh thường thường
được thấy ở những bệnh nhân yêu
cầu thở máy (49% bệnh nhân thở máy và 29% bệnh
nhân không thở máy, P= 0.06). Bệnh nhân thường
thấy có h́nh ảnh kết hợp của thâm nhiễm
phổi, xẹp phổi, tràn dịch màng phổi. Thương
tổn này thường tạo thành nhiều ổ trong
sự phân bố ngoài ưu thế thay đổi do thùy
phổi phải thấp hơn không kể sự suy yếu
hành tủy một cách có ư nghĩa và những rủi ro
do quá tŕnh hít vào. Nét đặc biệt về hô hấp
và lâm sàng đă được dự đoán trong sự
phân tích một biến số được bao gồm
trong một mẫu phân tích nhiều biến số. Do
vắng mặt trên 25% của dữ liệu, PO2 và tỉ
lệ phần trăm bị giảm sút ở những
biến số VC, PImax, PEmax đă được loại
trừ khỏi mẫu. Sự có mặt của t́nh
trạng loạn chức năng hành tủy (P< 0.001) và VC
nhỏ hơn 20 ml/kg trong suốt thời gian nằm
viện (P< 0.001) đă được t́m thấy dự
đoán độc lập với nhu cầu thở máy.
Tỉ
lệ odds và 95% khoảng tin cậy cho những dự đoán
đă được ghi nhận trong bảng 3. Kết
quả từ sự phân tích trong dữ liệu chỉ bao
gồm những bệnh nhân có dữ liệu hoàn chỉnh
(tuổi, bệnh nhân thiếu dữ liệu sẽ bị
bỏ đi, dữ liệu thiếu không bị truy xét)
sẽ được so sánh (loạn chức năng hành
tủy, P< 0.001; VC< 20 ml/kg, P< 0.001). Do thiếu dữ
liệu, giá trị hiệu lực các chỉ số
của mẫu trong phép phân tích này đă giảm bớt
lại đối với 68 bệnh nhân. Tỉ lệ
bệnh nhân bị bỏ sót trong phép phân tích này ở nhóm
được nhận thở máy đă cao hơn một cách
có ư nghĩa với nhóm không được nhận
thở máy (33 bệnh nhân được nhận thở máy
và 13 bệnh nhân không được thở máy, P= 0.001).
Bệnh
nhân, tư liệu và phương pháp:
Những
bệnh án của 114 bệnh nhân với GBS được
gia nhập ICU từ 1/1/1976 đến 31/12/1996 đă
được hồi cứu. Những tiêu chuẩn
triệu chứng chuẩn xác cho GBS đă được
sử dụng. Tất cả bệnh nhân đều
được khám xét bởi bác sĩ chuyên khoa thần
kinh. Những nét đặc biệt về điện sinh lư,
sinh hóa và lâm sàng của 60 bệnh nhân bị GBS những
người bị thở máy đă được so sánh
với 54 bệnh nhân bị GBS phải gia nhập ICU nhưng
không phải thở máy. Những bệnh nhân này được
gia nhập bởi nhiều lư do bao gồm t́nh trạng
loạn chức năng tự động, suy yếu hành
tủy, bệnh lư phối hợp, biến chứng của
cơ thể và quan trọng là sự nh́n nhận liên quan
tới tiến tŕnh của bệnh và sự phát triển
của t́nh trạng loạn chức năng hô hấp.
Thu
thập dữ liệu:
Tất
cả dữ liệu đă được thu nhận trước
thở máy hoặc trước lúc nặng nề của
bệnh ở những bệnh nhân được thở máy
và những bệnh nhân không được thở máy
lần lượt từng trường hợp. Các nét
đặc biệt về nhân khẩu đă được
phân tích như tuổi, giới tính, thời gian trở
nặng của bệnh, sự hiện diện của
bệnh phổi phối hợp (bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính, suyễn, u phổi) và hậu quả
những vấn đề trên, đặc biệt là trước
những bệnh về dạ dày ruột non (tiêu chảy
hoặc đau bụng). Thời gian diễn biến
nặng của bệnh đă được xác định
như thời gian để đặt nội khí quản
(với những bệnh nhân phải thở máy) hoặc
thời gian có số điểm tốt nhất theo thang
điểm Hughes (bệnh nhân không phải thở máy)
từ lúc bắt đầu triệu chứng thần kinh.
Việc điều trị bằng globulin miễn dịch
hoặc tách huyết tương cũng đă được
phân tích. Phân tích những nét đặc trưng lâm sàng
đă giới thiệu cho chúng ta biết t́nh trạng
yếu các cơ mặt và liệt chân tay (ngừng cử
động hoàn toàn chân tay), loạn chức năng tự
động (sự dao động nhịp tim và huyết áp
không giải thích được hoặc t́nh trạng
loạn chức năng bàng quang và ruột non một cách có
ư nghĩa), suy yếu chức năng hành tủy (loạn
vận ngôn, khó nuốt hoặc suy giảm phản ứng
nôn). Những kết quả xét nghiệm dịch năo
tủy (protein, tế bào) được thực hiện trước
giai đoạn nặng của bệnh đă được
phân tích. Điện thế hoạt động cơ
hỗn hợp đă được đánh giá trong
những nghiên cứu lần đầu tiên về tính
dẫn truyền thần kinh thực hiện tại
bệnh viện Mayo Clinic, Rochester, Minn. Biên độ CAMP (điện
thế hoạt động cơ toàn phần) gọi là
thấp khi nó dưới 20% so với giới hạn
thấp của b́nh thường. Các dây thần kinh
gọi là bất hoạt khi biên độ CAMP= 0 trong
tất cả các dây thần kinh được khảo sát
hoặc chỉ có 2 dây thần kinh có biên độ nhưng
<10% giới hạn thấp của b́nh thường c̣n các
dây thần kinh khác th́ không có.
Theo
thứ tự, những thử nghiệm đánh giá
chức năng hô hấp bao gồm VC (được đo
bằng ml/kg), áp lực hít vào tối đa (PImax), áp
lực thở ra tối đa (PEmax) đo bằng cmH2O và áp
lực khí máu động mạch được đánh
giá hàng ngày. Với PImax, chỉ số bất thường
được đánh giá thường xuyên nhưng trong bài
báo này những chỉ số này đă được xác
định từ đơn giản cũng như tuyệt
đối xác thực (ví dụ tuổi, PImax của 50
cmH2O được ghi nhận như
50 cmH2O). Các tác nhân hô hấp đă được
đánh giá bởi các chuyên gia về hô hấp theo
chuẩn của máy. Để làm được điều
này với t́nh trạng liệt mặt người ta
sử dụng máy thở tiếp nối sát với môi
bệnh nhân hoặc gây mê bằng mặt nạ. Khi
nhiều phép đo hô hấp đă có kết quả th́
những kết quả có giá trị nhất sẽ
được đánh giá. Chúng tôi cũng xem lại
những mẫu về suy giảm hô hấp trong mỗi
bệnh nhân. Thời gian trong ngày tại thời điểm
đặt nội khí quản cũng được đánh
giá trong mỗi bệnh nhân, nó được xác định
xem liệu điều này là có thể lựa chọn hay là
một thủ tục khẩn cấp.
Phân
tích thống kê:
Đặc
điểm của bệnh nhân GBS người phải
thở máy và người không phải thở máy đă
được so sánh sử dụng những thử
nghiệm loại tổng số Wilcoxon với những
biến số liên tục và thử nghiệm chính xác
Fisher với những biến số xác thực. Nhiều
dự đoán những thay đổi của hô hấp
đă được đánh giá sử dụng phép phân tích
logic hồi quy với phương cách để lại phía
sau những biến số không có ư nghĩa. Trong mẫu này,
thở máy (có hoặc không) phụ thuộc váo các
biến số và tất cả các biến số với
thay đổi 1 chiều (P< 0.1) được bao gồm
cả những dự đoán không phụ thuộc vào
tiềm năng. Tất cả những chỉ số dự
đoán tham gia vào trong mẫu tại những bước
đầu tiên. Những biến số kém ư nghĩa
nhất đă được cắt bỏ, những
biến số c̣n lại tham gia vào trong mẫu tại bước
thứ 2. Thủ tục này được nhắc đi
nhắc lại cho đến khi tất cả các biến
số c̣n lại trong mẫu góp phần có ư nghĩa đối
với dự đoán hô hấp (P< 0.05). Dù giá trị
thực của dữ liệu vắng một vài biến
số, chúng ta cũng sử dụng phép phân tích đa
biến cho dữ liệu đă bị mất này với
những giá trị trung b́nh của những biến số
tương ứng từ dữ liệu có sẵn. Chỉ
những biến số mà những giá trị dữ
liệu thiếu vắng <25% bệnh nhân được
quy theo phép phân tích đa biến. Những biến số mà
dữ liệu thiếu >25% bệnh nhân được
bỏ đi khỏi phép phân tích đa biến số.
Tỉ lệ odds và khoảng tin cậy 95% đối
với những biến số t́m thấy là những
biến số dự đoán của t́nh trạng hô
hấp đă được tính toán.
Bàn
luận:
Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi gợi ư rằng
sự suy giảm chức năng hô hấp của thần
kinh cơ và tiến tŕnh thở máy nên được
dự đoán ở những bệnh nhân bị hội
chứng Guillain-Barré nặng nề những người có
rối loạn chức năng hành tủy hoặc có VC<
20 ml/kg. Sự có mặt của việc liệt các cơ
mặt, loạn chức năng tự động, tiến
tŕnh bệnh nhanh chóng cũng kết hợp với
việc gia tăng khả năng thở máy. Liệt chân
tay muộn cũng được nhận thấy ở
tỷ lệ cao những bệnh nhân sau thở máy nhưng
điều này không có ư nghĩa thống kê. Bệnh nhân
phụ thuộc vào các tác nhân như tuổi, bệnh
phổi mạn tính có từ trước và không dự
đoán được tiến tŕnh đưa đến
thở máy. Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận
rằng những phép đo tác nhân hô hấp rất quan
trọng tạo nên sự đánh giá của bệnh nhân
bị GBS nặng nề góp phần làm sáng tỏ đối
với việc quản lư hô hấp. Chevrolet và Deleamont nghiên
cứu lần lượt VC ở 10 bệnh nhân, 5 bệnh
nhân phải thở máy. Họ đă nhận thấy
rằng sự suy giảm VC 50% so với mức b́nh thường
có liên quan với quá tŕnh kế tiếp của hô hấp
trong ṿng 36 giờ và kéo VC xuống dưới giá trị
tuyệt đối nhỏ hơn 1 L được liên
quan với hô hấp trong ṿng 18 giờ.
Ngược
lại, những phép đo lần lượt dung tích
sống ở cùng một nơi và tốt hơn >40 ml/kg
trong tất cả những bệnh nhân không phải
thở máy. Theo cách nh́n của chúng tôi, có thể so sánh
được khi phân tích chi tiết những thay đổi
từng ngày, chúng tôi nhận thấy rằng việc suy
giảm 30% của VC, PImax hoặc PEmax được tương
quan ở mức độ cao hơn với diễn
biến tiếp theo của việc suy giảm hô hấp và
việc đặt nội khí quản. Thêm vào đó,
chắc chắn các giá trị hô hấp “ban đầu”
đă được ghi nhận đă chỉ ra rằng quá
tŕnh hô hấp thật sự đă được
diễn ra ở mức cao hơn. Những giá trị này như
sau: VC< 20ml/kg, PImax< 30 cmH2O, PEmax< 40 cmH2O. Sử dụng
dữ liệu này (“20/30/40 qui định”) có thể cho
phép xác định các bệnh nhân có nguy cơ suy hô
hấp sớm và cho những chỉ định ưu tiên
như gia nhập vào ICU. Điều này có thể tránh cho
việc chờ đợi đến lúc các giá trị tiêu
biểu đưa đến thiết lập việc suy
giảm hô hấp và đặt nội khí quản khẩn
cấp dưới hoàn cảnh không tốt là cần
thiết. Một hướng dẫn đặt ra là
việc sử dụng các dữ liệu lâm sàng và các thông
số về chức năng hô hấp trong việc quản
lư bệnh nhân bị GBS đă được chỉ ra
trong h́nh vẽ.
Những
phép đo lần lượt của các tác nhân hô hấp
vạch ra 3 mẫu sau: suy giảm từ từ (giảm
>30% VC trong >24 giờ), suy giảm cấp tính (giảm
VC> 30% trong <24 giờ) và không suy giảm. Những
bệnh nhân được thở máy nhưng không
giảm VC đă được đặt nội khí
quản sớm bởi v́ sự suy yếu của hành
tủy và để bảo vệ đường thở
hoặc do kết quả của những thử nghiệm
chức năng hô hấp thấp hơn b́nh thường.
Không có nét đặc biệt về lâm sàng dự đoán
trước nguy cơ suy giảm dung tích sống. Tuy nhiên
sự suy giảm từ từ cho phép lựa chọn đặt
nội khí quản. Sự mất bù nhanh chóng đă
xảy ra với một số lượng đáng kể
bệnh nhân chỉ được phát hiện bởi các
phép đo hàng loạt kết hợp với khám xét lâm sàng.
Bởi v́ sự mất bù khẩn cấp có thể
xảy ra ngay cả trên những bệnh nhân có vẻ như đă có quá tŕnh dự đoán trước,
việc chuyển tới gia nhập ICU nên được
xem xét khi các chỉ số hô hấp ban đầu
đưa ra bị vượt quá hoặc có suy giảm
chức năng hành tủy đáng kể. Việc thường
xuyên suy giảm VC đă không được đề
cập một cách rơ ràng trong phần nghiên cứu này. Tuy
nhiên chúng ta tin rằng khuyến cáo các thử nghiệm
chức năng hô hấp là có lư và nên được
thực hiện ít nhất 3 lần trong ngày trong suốt
thời kỳ diễn tiến của bệnh để khám
phá những suy giảm có ư nghĩa. Nếu các giá trị
này thấp, các thử nghiệm cần phải lập
đi lập lại với sự hợp tác đầy
đủ của bệnh nhân trước bất kỳ
thay đổi quan trọng nào trong việc điều
trị. Việc thường xuyên theo dơi đă được
sự đồng ư của Chevrolet và Deleamont. Những phép
đo thường xuyên hơn gây sự mệt mỏi không
cần thiết. Quá tŕnh mất bù về đêm đă
được t́m thấy thường xuyên và gây ra
việc lựa chọn đặt nội khí quản vào lúc
quá nửa đêm hoặc những giờ đầu tiên
của buổi sáng trong một tỉ lệ có ư nghĩa
ở những bệnh nhân này. Sự thật này có lẽ
đúng đối với việc dùng máy trợ thở
đơn giản ở những bệnh nhân trong tư
thế nằm ngửa làm cho VC giảm >50% và suy giảm
sự điều khiển của trung tâm hô hấp. Tiên lượng
xa Không có mối tương quan giữa tiên lượng
xa và sự khẩn cấp của đặt nội khí
quản những quá tŕnh bệnh lư xảy ra ngay sau đó
mà đă được xác định.
Những
phương pháp không xâm lấn của việc hỗ
trợ hô hấp như thay đổi áp suất đường
thở tích cực dưới 2 cấp độ có vai tṛ
hạn chế trên bệnh nhân GBS nghiêm trọng với máy
trợ thở. Ở bệnh nhân suy yếu hành tủy,
việc sử dụng những phương pháp này là
đặc biệt hạn chế bởi v́ sự suy
sụp đường hô hấp trên có thể làm gia tăng
một cách đáng kể sự cản trở của
đường thở. Thêm vào nữa, áp lực của
đường thở dương tính liên tục đă
không bảo vệ được đường thở
từ các chất làm cho việc kiểm soát người
bệnh trở nên khó khăn.Việc sử dụng các
biện pháp ngăn chặn quá tŕnh mất bù về đêm
ở những bệnh nhân không có rối loạn chức
năng hành tủy và VC được duy tŕ một cách tương
đối có thể bảo đảm cho việc nghiên
cứu xa hơn. Chúng ta đều biết rằng dữ
liệu về hô hấp bị thiếu có nghĩa là môt
giới hạn tiềm tàng của việc nghiên cứu này.
Tuy nhiên nhóm phụ các bệnh nhân với các dữ
liệu đầy đủ có thể là đại
diện cho tổng thể nhóm bệnh nhân đă được
gợi ư so sánh cùng các dữ liệu đă cho. Việc phân
tích các biến số điện sinh lư góp phần dự
đoán quá tŕnh suy hô hấp mà vẫn c̣n bị hạn
chế do 1 số dữ liệu bị thiếu. CMAP
thấp và nhiều dây thần kinh không kích thích được
đă có liên quan với những hậu quả bất
lợi nhưng điều này đă không đánh giá
một cách riêng biệt cái nh́n về dự đoán
thở máy. Các dây thần kinh khó bị kích thích cuối
cùng được khám phá bởi điện cơ kế
đó, sau đặt nội khí quản ở 7 bệnh nhân
phải thở máy. Không bệnh nhân nào trong nhóm không
phải thở máy có dây thần kinh khó kích thích phát
triển ở bất cứ giai đoạn nào. Việc
đánh giá độ dẫn dây thần kinh của cơ
hoành và điện cơ cơ hoành đă chỉ ra dự
đoán sự cần thiết phải hô hấp nhân
tạo nhưng kỹ thuật này không phổ biến và có
thể thực hiện trước thở máy ở
một số rất ít bệnh nhân của chúng ta.
Liệt
mặt 2 bên đă diễn ra trong >50% bệnh nhân của
chúng tôi và đă có thể làm lẫn lộn các phép
đo thử nghiệm chức năng phổi. Tuy nhiên,
bởi v́ quyết định đặt nội khí
quản dựa trên cơ sở lớn trong việc lư
giải ở hàng loạt các phép đo trên cùng một
bệnh nhân với sự bảo tồn nghèo nàn, hay
bất kỳ sẽ không phải là nhân tố chính. Đặt
nội khí quản vẫn c̣n là 1 quyết định
cần phải tranh căi trên cơ sở nhiều yếu
tố và những xem xét lâm sàng quan trọng bao gồm
những kinh nghiệm của người thầy thuốc
và tŕnh độ phù hợp, mà vấn đề này đă
không được ghi nhận trong các báo cáo y khoa và có
thể cũng không được đánh giá trong nghiên
cứu này. Việc t́m thấy VC giảm, loạn chức
năng hành tủy có liên quan với mức độ cao
của quá tŕnh suy giảm hô hấp nên được phân
tích trong đề cương nghiên cứu. Cả 2
yếu tố này là lư do để đặt nội khí
quản và từ đó kết hợp chặt chẽ
đưa đến t́nh trạng thở máy. Dù sao
những phát hiện đă được nêu trong nghiên
cứu của chúng tôi có thể sử dụng để
có các quyết định sớm ở những bệnh nhân
GBS. Hơn nữa nghiên cứu này cũng làm sáng tỏ
rằng việc giảm >30% các yếu tố hô hấp và
các giá trị thực ban đầu có liên quan với
việc đặt nội khí quản kế tiếp.
Những giá trị này có thể cung cấp sớm cá
dấu hiệu cảnh báo của việc suy hô hấp
đáng kể, những dấu hiệu này độc
lập với các giá trị đ̣i hỏi đặt
nội khí quản cho phép có cơ hội can thiệp
hoặc quan sát chi tiết hơn. Trong lúc không có yếu
tố đơn lẻ nào có thể được
thiết lập có tính bao gồm trên tất cả người
bệnh, dữ liệu của chúng tôi có thể tổng
hợp như sau: dung tích sống được chấp
nhận hoặc suy giảm <20 ml/kg, suy giảm VC, PImax
hoặc PEmax hơn 30% so với mức b́nh thường và
có bằng chứng của rối loạn chức năng hành
tủy sẽ báo động cho người thầy
thuốc biết quá tŕnh suy giảm hô hấp sắp
xảy ra ở mức độ cao. Sự hiện diện
của một ḿnh các yếu tố này hoặc có kết
hợp có thể không cần sự hỗ trợ ngay
lập tức bằng thở máy nhưng có thể
được sử dụng trong quyết định
chấp nhận cho bệnh nhân vào ICU và chuẩn bị
lựa chọn đặt nội khí quản. Việc đánh
giá đều đặn bệnh nhân với những phép
đo đơn giản tại giường được
tiếp tục cho đến khi sự cải thiện
được quan sát thấy một cách rơ ràng và
giữ vững được.
Bảng
1: Các đặc tính
về nhân khẩu học và lâm sàng cơ bản của
114 bệnh nhân bị hội chứng Guillain-Barré
|
Thông
số
|
Bệnh
nhân được thở máy (n=60)
|
Bệnh
nhân không phải thở máy (n=54)
|
P
|
|
Tuổi,
trung b́nh (giới hạn), năm
Giới
nữ
Loạn
chức năng hành tủy
Giảm
chức năng dạ dày ruột đi trước
Liệt
chi trên(1)
Điện
thế CMAP thấp(2)
Loạn
chức năng tự động(3)
Liệt
mặt 2 bên(4)
Bệnh
lư phổi
Được
điều trị(5)
Thời
gian diễn biến đến giai đoạn
bệnh nặng nhất, trung b́nh, d(6)
|
59
(4-87)
23
(38)
49
(91)
8
(13)
5
(9)
3
(17)
26
(47)
38
(69)
10
(17)
17
(28)
7
|
56
(7.5-84)
22
(41)
20
(37)
7
(13)
1
(2)
5
(19)
12
(22)
26
(48)
5
(9)
18
(33)
10
|
0.53
0.85
<0.001
0.99
0.21
0.99
0.009
0.03
0.28
0.68
0.01
|
(1)
thiếu dữ liệu của 3 bệnh nhân thở máy; (2)
thời gian tiềm hoạt động cơ hỗn
hợp <20% giới hạn dưới ở ít nhất 2
dây thần kinh trên điện cơ đo trước khi
thở máy hoặc giai đoạn nặng nhất của
bệnh, thiếu đi dữ liệu của 42 bệnh nhân
thở máy và 28 bệnh nhân không thở máy; (3) bao gồm
rối loạn nhịp tim, huyết áp dao động,
rối loạn chức năng ruột và bàng quang có ư nghĩa
không giải thích được, thiếu dữ liệu
của 5 bệnh nhân thở máy; (4) thiếu dữ liệu
của 5 bệnh nhân thở máy; (5) thay huyết tương
hoặc globulin miễn dịch đường tĩnh
mạch trước khi thở máy hoặc trước giai
đoạn nặng nhất của bệnh ở những
bệnh nhân không thở máy; (6) từ khi khởi phát
triệu chứng thần kinh.
Bảng
2: Các
đặc tính về hô hấp(1)
|
Thông
số
|
Bệnh
nhân được thở máy (n=60)
|
Bệnh
nhân không thở máy (n=54)
|
P(2)
|
|
Dung
tích sống, ml/kg(3)
Cơ bản
Tối thiểu, số lượng (%)(4)
<20
³20
% suy giảm(5)
<30, số lượng (%)
(30, số lượng (%)
PImax,
cmH2O(6)
Cơ bản
Tối thiểu
% suy giảm
<30, số lượng (%)
(30, số lượng (%)
PEmax,
cmH2O(7)
Cơ bản
Tối thiểu
% suy giảm
<30%
³30%
PO2,
mmHg(8)
Cơ bản
Tối thiểu
|
25
(7.0-77.5)
31
(70)
13
(30)
46
(-43-86)
10
(31)
22
(69)
40
(10-100)
20
(8-90)
47
(-80-76)
10
(34)
19
(66)
40
(0-100)
25
(0-75)
49
(-11-83)
8
(29)
20
(71)
68
(40-287)
58
(36-287)
|
36
(14.0-77.5)
8
(17)
40
(83)
13
(-46-67)
34
(81)
8
(19)
45
(15-120)
40
(15-95)
14
(-100-75)
31
(72)
12
(28)
45
(-15-180)
40
(15-110)
20
(-100-79)
29
(67)
14
(33)
78
(48-115)
77
(40-115)
|
0.007
<0.001
0.01
<0.001
0.006
0.07
<0.001
0.001
0.01
<0.001
|
(1)
dữ liệu ở mức trung b́nh (lên xuống ở 2
mức) ngoại trừ chỉ định theo cách khác; (2)
giá trị P từ thử nghiệm rank sum hoặc thử
nghiệm xác thực Fisher so sánh với bệnh nhân
phải thở máy và không phải thở máy; (3) dữ
liệu dung tích sống đă bị thiếu ở 16, 17,
28 bệnh nhân phải thở máy và 6,6 đến 12
bệnh nhân không phải thở máy so với mức b́nh
thường về nhỏ nhất, phần trăm suy
giảm, riêng từng trường hợp; (4) các giá
trị nhỏ nhất đă được đánh giá sau
khi gia nhập bệnh viện; (5) sự suy giảm lớn
nhất đă được đánh giá so với các giá
trị b́nh thường đă được biểu
thị bằng phần trăm. Sự thay đổi
bất thường chỉ ra sự gia tăng các chỉ
số so với mức b́nh thường; (6) dữ liệu
áp lực hít vào tối đa đă bị thiếu ở
21, 18, 31 bệnh nhân phải thở máy và 7, 7, 11 bệnh nhân
không phải thở máy so với mức b́nh thường
về giá trị nhỏ nhất và phần trăm suy
giảm, riêng từng trường hợp; (7) dữ
liệu áp lực thở ra tối đa đă bị
thiếu ở 22, 19, 32 bệnh nhân thở máy và 7, 7, 11
bệnh nhân không phải thở máy so với mức b́nh
thường về giá trị nhỏ nhất và phần trăm
suy giảm, riêng từng trường hợp; (8) dữ
liệu PO2 đă bị thiếu ở 23, 13 bệnh nhân
phải thở máy và 21, 10 bệnh nhân không phải
thở máy so với mức b́nh thường về giá
trị nhỏ nhất, riêng từng trường hợp.
Bảng
3:
Các yếu tố tiên lượng đa biến cho thở
máy
|
Yếu
tố tiên lượng
|
Tỉ
lệ odds(1)
|
P
|
|
Ước
lượng
|
Khoảng
tin cậy 95%
|
|
Rối
loạn chức năng hành tủy(2)
Không
Có
Dung
tích sống, ml/kg
>20
<20
|
1.0
17.5
1.0
15.0
|
…
5.2-59.1
…
4.1-54.5
|
<0.01
|
(1)Từ
phép phân tích hồi qui đa
(1)Từ phép phân
tích hồi qui đa biến về việc thở máy (có
hoặc không có thở máy) khi các biến số
phụ thuộc theo và các tác nhân tại bảng 1 và 2
với giá trị P không đổi <10 bao gồm các
biến số độc lập. Tỉ lệ odds liên quan
tới các yếu tố đ̣i hỏi thở máy. Với
mỗi dự đoán, tỉ lệ odds 1.0 được
sử dụng để chỉ ra nhóm cần tham khảo.
Các kết quả được dựa trên bảng
dữ liệu (bị qui kết) không đầy đủ
do có những giá trị dữ liệu bị thiếu.
Hiện tượng tĩnh lược (ellipsis) chỉ
định không thích hợp; (2) bao gồm sự có
mặt của việc suy giảm phản ứng nôn,
loạn vận ngôn hoặc bệnh sử lâm sàng khó
nuốt.
