THAM KHẢO THẦN KINH HỌC

Glia

Home Up Feedback Contents Search

 

TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM TRONG T̀NH TRẠNG SINH LƯ VÀ BỆNH LƯ.

Pascal Kurosinski, Dipl Biol; Jurgen Gotz, PhD. Arch. Glial cells under physiologic and pathologic condition. Neurol/Vol 59, oct 2002, P1524-1528.

Người dịch: BS Bạch Thanh Thủy, Khoa Noäi Thaàn kinh BV 175.

Các tế bào thần kinh đệm từ lâu đă được xem là đóng vai tṛ không mấy quan trọng như vai tṛ của các neuron. Chúng cung cấp cho các neuron các chất dinh dưỡng, hướng dẫn các neuron và tiền neuron di chuyển trong suốt quá tŕnh phát triển và thay thế tổ chức năo bị tổn thương. Tuy vậy, bằng chứng mới đây gợi ư rằng các tế bào thần kinh đệm đóng vai tṛ phức tạp hơn vai tṛ giống như neuron. Chúng hợp nhất với với các neuron, điều chỉnh hoạt động các sinap và xử lư các tín hiệu liên quan đến việc học tập và trí nhớ. Những kết quả này có liên quan mật thiết với những người bị bệnh thoái hóa hệ thần kinh. Thêm vào với hoạt hoá hệ thống thần kinh tổn thương và trong suốt quá tŕnh thoái hoá neuron, tề bào thàn kinh đệm cũng thoái hoá  trong nhiều bệnh thoái hoá thần kinh. v́ thế, mất tế bào thần kinh đệm có thể góp phần làm suy giảm trí nhớ và khả năng học tập.Theo đó các khuynh hướng điều trị đối với các bệnh thoái hoá thần kinh ở người cần phục hồi chức năng  của cả các neuron và các tế bào thần kinh đệm.

Sự quan trọng của các neuron đối với chức năng của hệ thống thần kinh trung ương th́ đă rơ ràng. Để đánh giá vềù vai tṛ tiềm tàng của các tế bào thần kinh đệm, nguồn gốc phát sinh chủng loại có thể giúp chúng ta hiểu rơ hơn, Ví dụ, ngành giun tṛn Caenorhabdditis elegans, có tổng số 302 neuron nhưng chỉ có 56 tế bào thần kinh đệm và tế bào liên kết đă được phân loại. Khi chúng phát triển qua quá tŕnh phát sinh chủng loại tỷ lệ tế bào đệm so với neuron tăng lên, và ở người, năo chứa tỷ lệ tế bào đệm so với neuron cao nhất (ít nhất 10:1). Do đó, điều này đă gợi ư rằng các tế bào thần kinh đệm đóng vai tṛ quan trọng  đối với chức năng nhận thức cao cấp.

Các tế bào thần kinh đệm và các neuron sinh ra từ những tế bào nguyên bản mà khởi đầu chưa biệt hoá nhưng từ từ  trở nên biệt hoá thành ḍng neuron hoặc ḍng tế bào thần kinh đệm. Sự biệt hóa xuất hiện liên tục theo chu tŕnh, theo đó các neuron đươc sinh ra đầu tiên, tiếp theo là các tế bào thần kinh đệm, các tế bào này biệt hóa sau khi sự h́nh thành các neuron được hoàn thành một cách cơ bản. Các tế bào thần kinh đệm trong hệ thống thần kinh trung ương có thể được chia thành  vi tế bào đệm (microglia) hoặc đại tế bào đệm (macroglia). Vi tế bào đệm giống như các đại thực bào phục vụ chức năng thực bào. Đại tế bào đệm bao gồm các tế bào sao (astrocyte) và các tế bào ít nhánh (oligodendrocyte), các tế bào này trong hệ thống thần kinh trung ương th́ tương đương với những tế bào Schwann tạo myelin được t́m thấy trong hệ thống thần kinh ngoại vi. Liên quan chặt chẽ với các neuron, các  tế bào sao bao bọc các tận cùng sinap và tạo nên sự tiếp xúc rộng răi với các tế bào nội mô các mao mạch. Hơn nữa, các tế bào sao được nối liền với nhau và với các tế bào khác bởi các mối nối hở. Trong thùy răng của Hypocampus các tế bào sao tạo ra những neuron mới trong suốt thời gian sống trong nhiều loài có xương sống , bao gồm cả con người.

Về phương diện lịch sử, các tế bào thần kinh đệm được cho là có nhiều chức năng để trợ giúp các neron trong suốt quá tŕnh phát triển và trong suốt thời gian sống. Việc kiểm soát sự sống của các neuron liên quan của các tế bào đệm  th́ phụ thuộc trước tiên vào thời gian sống đặc thù của các tế bào đệm của các neuron và yếu tố nuôi dưỡng. Thêm nữa các tế bào thần kinh đệm kiểm soát sự di chuyển của các neuron trong suốt quá tŕnh phát triển. Các neuron phôi thai th́ bẩm sinh có một khoảng cách nhất định đặc thù theo vị trí tận cùng của chúng trong hệ thống thần kinh trưởng thành. Con đường các neuron mới sinh đă chọn th́ riêng biệt và phụ thuộc vào sự tiếp xúc tế bào và các tín hiệu hướng dẫn có khả năng khuyếch tán, phần lớn những điều này do các tế bào thần kinh đệm và tiền thân của nó thực hiện. Sự phát triển và dát mỏng của tân vỏ năo ở động vật có vú được kiểm soát bởi các tế bào đệm biểu mô thần kinh h́nh tia mà chúng cung cấp khung định hướng cho khoảng 90% các neuron vỏ năo. Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng tế bào h́nh tia là tiền tế bào sao trong năo trưởng thành. Một quá tŕnh tương tự xuất hiện trong suốt quá tŕnh định hướng của các tế bào thần kinh có hạt mới sinh trong tiểu năo dọc theo các nhánh của tế bào đệm Bergmann từ lớp tế bào hạt bên trong của tiểu năo đang phát triển sau sinh.

CÁC TÍNH CHẤT GIỐNG NEURON CỦA TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM

Thêm nữa, những chức năng phức tạp hơn mới đây đă được qui cho các tế bào thần kinh đệm. Trong hệ thống thần kinh trưởng thành, kiểm tra ở mức siêu cấu trúc , người ta phát hiện một cấu trúc gồm 3 phần liên quan với tế bào sao, cấu trúc này có thểø liên quan mật thiết với synap và quấn quanh các tận cùng trước và sau sinap (tranh 1). Sự liên quan chặt chẽ về sinh lư này có lẽ cung cấp cơ hội cho các tương tác về chức năng giữa các tế bào sao và các neuron.V́ tế bào sao có thể tạo ra sự tiếp xúc với một neuron và mao mạch, nên nó có khả năng điều chỉnh các chất dinh dưỡng và sự chuyển hóa giữa cung cấp máu và hoạt hóa neuron. Hơn nữa, v́ một tế bào sao riêng biệt có thể tạo sự tiếp xúc với nhiều neuron, nên những tế bào không phải neuron này có nhiệm vụ vận chuyển thông tin giữa các neuron ở cạnh nhau.

Tranh 1: Các tế bào thần kinh đệm ở năo người lớn trong t́nh trạng sinh lư. Các tế bào sao tạo ra sự tiếp xúc với các neuron và các mao mạch và điều chỉnh các chất dinh duỡng giữa cung cấp máu và hoăt động neuron. V́ một tế bào sao có thể tiếp xúc với nhiều neuron, những tế bào không phải neuron này này có nhiệm vụ vận chuyển thông tin giữa các neuron ở cạnh nhau. kiểm tra ở mức siêu cấu trúc , người ta phát hiện một cấu trúc gồm 3 phần liên quan với tế bào sao, cấu trúc này có thểø liên quan mật thiết với synap và quấn quanh các tận cùng trước và sau sinap. Các tế bào sao đáng ứng với các chất dẫn truyền thần kinh và giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh của riêng chúng, các chất dẫn truyền thần kinh này tác đông lên các neuron bên cạnh. Các tế bào sao dẫn truyền thông tin giữa chúng bằng các mối nối hở và các tín hiệu qua trung gian là chất dẫn truyền thần kinh.

 Ví dụ, trong tầng tia hồi hải mă khoảng 50% các sinap có các nhánh của tế bào sao, trong 30% các sinap, một nhánh của các tế bào sao tách đôi 2 sinap cạnh nhau. Thêm vào đó, hầu hết các tế bào sao vây quanh  các sinap có khả năng giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh.

Các tế bào sao có nhiều thụ cảm thể chức năng đối với nhiều chất dẫn truyền thần kinh khác nhau. Sự gắn kết với các thụ cảm thể này dẫn đến thay đổi mức calci trong tế bào và làm mất đi sự dao động của mức calci bên trong. Nhiều nghiên cứu ban đầu chứng minh tính dễ bị kích thích về calci của tế bào sao đă được thực hiện trong tế bào nuôi cấy, nhưng các nghiên cứu dùng những lát cắt năo mỏng cô lập và những lát cắt hippocampi mỏng cô lập về sau này đă ủng hộ tính chất dễ kích thích calci của tế bào sao. Như các nhánh của tế bào sao số lượng các thụ cảm thể của các chất dẫn truyền thần kinh gắn với mức calcium trong tế bào, hoạt động của các neuron có thể điều ḥa  mức calci của tế bào sao. Thực vậy, nhiều pḥng thí nghiệm đă chứng minh rằng các tế bào sao và các tế bào Shwann tiền sinap đáp ứng với các hoạt động của sinap thông qua hoạt động của các thụ cảm thể của các tế bào đệm.

Thêm vào cùng với chất dẫn truyền thần kinh, các tế bào sao giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh của riêng chúng tác động lên các neuron bên cạnh và điều chỉnh chức năng của các neuron này, gợi ư một con đường thông báo hai chiều giữa các tế bào sao và các neuron. Nếu các tế bào thần kinh đệm có thể giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh theo kiểu được điều ḥa, quá tŕnh này phải là thành phần chủ yếu của quá tŕnh trao đổi giữa chúng với các neuron trong suốt quá tŕnh hoạt động của sinap.

Sự phân chia thành ngăn của các neuron đă được chứng minh đối với những tế bào thần kinh đệm tiểu năo Bergmann. Những tế bào thần kinh đệm phân nhiều nhánh này bao gồm hàng trăm ngăn phụ thuộc, được gọi là các vi lănh địa (microdomain), có khả năng tương tác độc lập với nhóm sinap đặc biệt chúng vây quanh. Kích thích những sợi kề cận song song gây ra tăng mức calci nội bào khu trú trong những tế bào thần kinh đệm Bergmann.

VAI TR̉ ĐỐI VỚI TRÍ NHỚ VÀ HỌC TẬP.

Vai tṛ của tế bào thần kinh đệm đối với trí nhớ và học tập là ǵ? Các nghiên cứu những lớp cắt năo chỉ ra rằng sự hoạt động của các tế bào sao đă làm tăng ḍng ức chế nhỏ sau sinap trong các neuron bó tháp thuộc hồi hải mă. Bởi vậy các tế bào sao có thể cần thiết trong việc điều biến hoạt động độc lập của các sinap ức chế trong hồi hải mă. Vai tṛ của tế bào sao trong chức năng sinap cũng được ủng hộ bơiû các nghiên cứu trên chuột thiếu protein dạng sợi có tính chất axit của tế bào thần kinh đệm (GFAP-glial fibrillary acidic protein), một protein t́m thấy phần lớn trrong tế bào h́nh sao của hệ thống thần kinh trung ương. Mặc dù các tế bào sao tồn tại trong hệ thống thần kinh trung ương của các con chuột đột biến, chúng chứa một số lượng lớn các sợi trung gian đă biến đổi. V́ các nhánh của tế bào sao tiếp xúc với các sinap và có thể điều biến chức năng sinap, Mc Call và cộng sự  đă nghiên cứu xem có hay không vùng CA1thuộc Hippocampal của những con chuột thiếu GFAP đă được biến đổi tiềm lực dài hạn (tăng tiềm lực của sinap sau chuỗi kích thích ngắn tần số cao). Những con chuột đột biến quả thực đă tăng tiềm lực dài hạn khi so sánh với những con chuột trong nhóm chứng. Bởi vậy những con chuột này chứng minh rằng sự khiếm khuyết ban đầu trong tế bào h́nh sao ảnh hưởng đến sinh lư neuron. Trong một nghiên cứu có liên quan dùng giống chuột thiếu hụt GFAP khác, dẫn truyền kích thích sinap từ những sợi song song hoặc những sợi chạy tới những tế bào Purkinje đă không thay đổi trong tiểu năo và những sinap này có độ linh hoạt ngắn hạn b́nh thường với kích thích đôi. Ngược lại sự ức chế dài hạn ở những sợi song song với sinap của tế bào Purkinje đă suy giảm rơ rệt, gợi ư vai tṛ của tế bào sao trong cảm ứng và duy tŕ ức chế  dài hạn trong tiểu năo.

CÁC TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM TRONG BỆNH LƯ

Kết quả khám nghiệm tử thi định lượng vỏ năo mới đây đă chứng minh một cách  có sức thuyết phục về việc mất các tế bào thần kinh đệm vỏ năo ở các bệnh nhân trầm cảm nặng. Các bằng chứng cũng gia tăng rằng việc mất tế bào thần kinh đệm có thể là h́nh ảnh của tâm thần phân liệt. Thêm nữa, các tế bào thần kinh đệm bị ảnh hưởng nặng nề trong các bệnh có rối loạn chức năng nhận thức liên quan với bệnh Alzheimer. Các tổn thương đặc thù của bệnh Alzheimer là các mảng dạng tinh bột ngoại bào và các búi sợi thần kinh nội bào gồm có rất nhiều các vi ống dạng sợi tăng phosphoryl (hyperphosphorylated) hoá liên quan với protein tau. Không có các mảng dạng tinh bột, các búi sợi thần kinh cũng đủ để chẩn đoán các bệnh thoái hoá thần kinh khác, bao gồm bệnh Pick, liệt trên nhân tiến triển, thoái hoá nền-vỏ, bệnh hạt ưa bạc, và sa sút trí tuệ thùy trán với chứng Parkinson liên kết với nhiễm sắc thể 17 (FTDP-17). Ngược lại với bệnh Alzheimer, trong đó protein tau tạo thành các sợi chỉ có trong neuron, trong nhiều bệnh của thể loại bệnh này, tồn tại các tế bào thần kinh đệm chứa các sợi protein tau tăng phosphoryl và nhóm bệnh này được gọi tên chung là bệnh lư protein tau (tauopathies). Nhóm bệnh này mới đây được định nghĩa là các bệnh thoái hóa thần kinh, hiện được xem như các rối loạn neuron-thần kinh đệm. Mới đây một phân tích gồm 2 bệnh nhân bị bệnh do đột biến protein tau N279K liên kết với FTDP-17 cho thấy có sự tích tụ phổ biến protein tau trong neuron và tế bào thần kinh đệm của vỏ năo, hạch nền, các nhân thân năo và chất trắng. Trong vỏ năo tân sinh, phức hợp tế bào thần kinh đệm phản ứng miễn dịch-protein tau đă đông hơn các neuron phản ứng miễn dịch. Các bất thường của tế bào thần kinh đệm trong thoái hoá nền-vỏ bao gồm các mảng tế bào sao và một số lớn protein tau-thể vùi phản ứng miễn dịch trong chất trắng. Mặc dầu có khả năng là các bất thường tế bào thần kinh đệm ảnh hưởng đến thoái hoá neuron, hiện tại người ta chưa biết là các bất thường tế bào thần kinh đệm có ảnh hưởng tới tiến triển của bệnh và h́nh ảnh lâm sàng hay không. H́nh ảnh của các bất thường protein tau của tế bào thần kinh đệm đă đuợc tái hiện trên một dạng chuột bị đột biến tau G272V liên quan với FTDP-17 dưới sự kiểm chứng của một hệ thống chuyển vận điểu khiển-hoạt hoá prion protein. Protein tau chuyển gen tồn tại trong tế bào thần kinh đệm ít gai (oligodendrocyte) nhiều hơn trong neuron. Protein tau G272V của tế bào thần kinh đệm ít gai đă tạo thành các sợi và được phosphoryl hóa tại vị trí tau phosphoepitope AT8 mà đuợc chẩn đoán là bệnh Alzheimer. Trong các  dạng chuột chuyển gen liên quan có dạng đột biến liên quan với FTDP-17 hoặc dạng hoang dại của protein tau trong neuron, những bất thường của pritein tau được giới hạn trong neuron nhưng những tế bào sao và vi tế bào đệm đă được hoạt hóa, trong một số những con chuột chuyển gen này, vi tế bào đệm cùng những mảnh vụn myelin bị thực bào và myelin h́nh trứng đă có mặt, chỉ ra có sự thoái hoá wallerian. Cáùc dạng động vật này có ich lợi trong cả nghiên cứu sinh lư bệnh và ngăn  ngừa việc tạo thành các sợi protein tau trong neuron và tế bào thần kinh đệm.

Tranh 2. Các tế bào thần kinh đệm của năo người lớn trong t́nh trạng bệnh lư. A. Các tế bào sao phản ứng như một đáp ứng mạnh mẽ với những tác động lên hệ thần kinh trung ương, bao gồm nhiễm trùng do virus, ttổn thương năo do chấn thương cấp, măn và các bệnh thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer (AD). Tiêu chủan vàng về mô bệnh học của AD, các búi dợi thần kinh chứa protein tau vá các mảng tinh bột, gây ra astrocytosis và hoạt hóa vi tế bào đệm, các tế bào này sau đó giải phóng các cytokine. B, trong nhiều tauopathies, các khối kết tập protein tau có nhiều trong các neuron và các tế bào thần kinh đệm. Trong một vài vùng năo của những người bị bệnh, các bất thường của tế bào thần kinh đệm nhiều hơn các bất thường của neuron. Suy giảm chức năng của tế bào thần kinh đệm do kết quả sự lắng đọng th́ có khả năng ảnh hưởng tới các mối tương tác giữa tế bào thần kinh đệm- tế bào thần kinh đệm và tế bào thần kinh đệm-neuron. C, Các bất thường tế bào thần kinh đệm trong bệnh Alexander. Lắng đọng GFAP trong eosinophil là tiêu chuẩn vàng về bệnh học của bệnh Alexander. Mặt khác suy giảm chức năng của tế bào thần kinh đệm do kết quả sự lắng đọng th́ có khả năng ảnh hưởng tới các mối tương tác giữa glia-mediated.

 Hiểu biết rơ nhất về bệnh lư thoái hóa thần kinh là teo đa hệ thống, trong đó các thể vùi tế bào thần kinh đệm tạo thành các tổn thương nổi bật. Về lâm sàng, teo đa hệ thống gồm teo trám cầu tiểu năo (olivopontocerebellar), thoái hóa chất xám thể vân và hội chứng Shy-Drager. Các thể vùi tương bào là phản ứng miễn dịch mạnh mẽ đối với (-nuclein và được t́m thấy chủ yếu trong tương bào và với phạm vi hẹp, chỉ trong nhân của tế bào thần kinh đệm ít gai (oligodendrocyte). Sự tạo thành các thể vùi tương bào của tế bào thần kinh đệm có thể là tổn thương ban đầu mà tiến triển cuối cùng sẽ là suy giảm chức năng tế bào thần kinh. Người ta đă mô tả mất tế bào thần kinh và triệu chứng lâm sàng của teo hệ thống rải rác chỉ với sự có mặt của các thể vùi tương bào. Sự tồn tại sinh lư của các protein tau và (-nuclein t́m thấy rơ ở các neuron.

Liên quan với việc tích tụ các  khối protein không tan trong các bệnh lư khác nhau, nhưng cũng cùng với các tổn thương trong hệ thống thần kinh là sự hoạt hóa về h́nh thái học của các tế bào sao và vi tế bào thần kinh đệm, một quá tŕnh được gọi là tăng sinh thần kinh đệm. Sau khi tổn thương, các đại thực bào trong năo tăng sinh và thực hiện chức năng sửa chữa mô, bao gồm lấy đi các mô chết và các mảnh vụn nhờ các đại thực bào. Thêm vào đó, các cytokin sinh ra do phản ứng của vi tế bào đệm khởi đầu quá tŕnh đáp ứng của tế bào và chi phối mạnh mẽ các tế bào sao. Trong suốt quá tŕnh này, GFAP được điều chỉnh tăng lên (up-regulatad) trong tế bào sao. Trong các t́nh trạng bệnh lư, bao gồm các bệnh lư gây tổn thương và các bệnh lư thoái hóa, dung lượng GFAP của các tế bào sao tại vị trí thương tổn hoặc sự hoạt hóa các tế bào sao tăng lên đến khi thân tế bào sao và các nhánh của nó được làm đầy  hoàn toàn. Bằng phản ứng này, tế bào sao sửa chữa mô năo bị tổn thương và tái thiết lập sự toàn vẹn của vi môi trường quanh vùng tổn thương.

Thêm vào quá tŕnh thoái hóa trong quá tŕnh bệnh lư và phản ứng với tổn thương của hệ thống thần kinh, những thay đổi của tế bào đệm là nguyên nhân khởi đầu của những thay đối về bệnh lư thần kinh trong một số trường hợp. Bệnh Alexander là bệnh hiếm gặp của hệ thống thần kinh trung ương chưa biết rơ bệnh sinh. Những đứa trẻ bị bệnh Alexander chết trong ṿng 10 năm đầu đời. Các bệnh nhân bị các dạng bệnh của người lớn hoặc thanh thiếu niên điển h́nh bị thất điều (ataxia), các dấu hiệu của hành năo, co thắt và bệnh tiến triển chậm hơn. Tiêu chuẩn vàng về bệnh sinh của tất cả các dạng bệnh Alexander này là sự có mặt của các sợi Rosenthal, tức là các thể vùi tương bào trong tế bào sao mà có chứa GFAP liên quan với các protein nhỏ đột biến bởi nhiệt. Sự có mặt quá mức của GFAP người trong tế bào sao của những con chuột chuyển gen th́ gây tai họa và tiếp theo sau bằng sự có mặt của các thể vùi không thể phân biệt được với các sợi Rosenthal của người. Kết quả này gợi ư rằng một sự thay đổi ban đầu của GFAP có thể là đáp ứng đối với bệnh Alexander. Thật vậy, kết quả từ những phân tích liên tục các mẫu AND của những bệnh nhân đại diện cho các kiểu h́nh khác nhau của bệnh Alexander đă cho thấy phần lớn các trường hợp có liên quan vơi những đột biến không bảo toàn (nonconservative) trong vùng mă của GFAP. Bệnh Alexander dường như đại diện cho kiểu rối loạn gen nguyên phát của tế bào sao.

XU HƯỚNG CẤY GHÉP ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH Ở NGƯỜI.

H́nh ảnh bệnh học thần kinh thông thường  của bệnh lư thoái hóa thần kinh là mất tế bào thần kinh (neuron). Cùng với các phương pháp điều trị bằng thuốc, người ta đang đánh giá vai tṛ của phương pháp ghép tế bào mới đây trong điều trị. Các khuynh hướng điều trị này phải đánh giá việc mất tế bào quan trọng trong số các tế bào thần kinh đệm của nhiều bệnh lư trong nhóm này, và cũng xác định những tế bào được dùng thường xuyên trong cấy ghép có khả năng biệt hóa thành các neuron và thàùnh các tế bào giống như tế bào đệm. Điều trị thay thế tế bào được sử dụng mới đây để điều trị bệnh Huntington hoặc bệnh Parkison. Đối với bệnh Parkinson, các thử nghiệm lâm sàng đă được khởi đầu bằng việc ghép mô năo bào thai người thay thế cho những người mất những neuron thuộc hệ dopaminergic. Tuy vậy, cần nhiều bào thai bị làm sảy thai để phục vụ cho việc điều trị riêng một bệnh nhân, điều này gây ra các vấn đề về đạo đức và thực hành. Một khuynh hướng khác là dùng những tế bào thân phôi thai của chuột hoặc các ḍng tế bào người. Một trong những ḍng tế bào người được đánh giá tốt nhất là ḍng tế bào ung thư biểu mô phôi thai NT2. Ḍng tế bào này có thể di chuyển, có khả năng biệt hóa thành các tế bào giống như neuron sau phân bào (tế bào NT2N) sau khi điều trị bằng axit retinoic, và có thể cấy ghép vào trong năo hoặc tủy sống của loài gặm nhấm có đủ và thiếu khả năng miễn dịch. Ghép những tế bào NT2N trong năo người đă được sử dụng thành công làm xúc tiến hồi phục chức năng những con chuột thiếu máu năo và các tế bào NT2N cũng đă được dùng như phương pháp điều trị thay thế đối với bệnh Parkinson. Những tế bào NT2N người không biệt hóa đă ghép vào năo chuột mới sinh có đủ khả năng miễn dịch di chuyển trên khoảng cách nhiều mm và biệt hóa thành dạng tế bào giống như neuron và giống như tế bào thần kinh đệm ít gai. Những kết quả này nhấn mạnh lợi ích của tế bào NT2 trong điều trị. Những tế bào NT2 có giá trị đặc biệt, khi chúng được sử dụng như phương tiện để giải phóng các yếu tố dinh dưỡng thần kinh vào trong môi trường năo của người được cấy ghép.

Ghép những tế bào thân phôi thai của chuột vào trong năo bộ ở giai đoạn c̣n trong tử cung đă nảy sinh những phức bộ bao gồm các neuron, các tế bào thần kinh đệm ít gai và các tế bào sao bắt nguồn từ  tế bào thân phôi thai. Các tế bào này như vậy có thể có vai tṛ như một nguồn cung cấp có giá trị các tiền tế bào dạng đặc biệt cho việc ghép neuron.

Mặc dù lĩnh vực ghép neuron trên thực nghiệm và thực hành đă có kinh nghiệm do việc ghép các neuron hoặc các tế bào gốc của chúng, việc ghép tế bào thần kinh đệm mới đây cho thấy đây là một phương pháp sắp được áp dụng vào điều trị các bệnh myelin ở người. Như một nguồn tế bào, các tế bào mầm neuron đă đang được khai thác như một nguồn tiềm tàng của các tiền tế bào thần kinh đệm ít gai. Các tế bào này có thể được phân lập từ hệ thần kinh trung ương trong suốt đời và lúc trưởng thành như là tế bào thần kinh bằng phương thức có điều kiện. Ghép các tiền tế bào thần kinh đệm ít gai vào trong tủy sống của chuột đă cho thấy các tế bào này có thể di chuyển trên 3-4 mm từ vị trí tiêm, mặc dầu phần lớn các tế bào này bị chết chính do chết theo chương tŕnh (apoptosis). Các tế bào sống sót, dường như tồn tại dai dẳng trên 18 tháng sau cấy ghép, phụ thuộc vào ḍng vật chủ dă dùng. Cũng có thể xúc tiến sự biệt hóa thành tế bào thần kinh đệm ít gai từ tế bào thân phôi thai trên vitro. Ghép các tế bào này vào chuột gây ra sự myelin hóa axon

Những tiến bộ này đầy hứa hẹn và gợi ư rằng việc điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh ở người cần phục hồi chức năng của các neuron và các tế bào thần kinh đệm. Khi có sự hiểu biết sâu sắc hơn nữa về vai tṛ của tế bào thần kinh đệm đối với chức năng năo, vai tṛ của những tế bào thần kinh đện trong quá tŕnh bệnh lư sẽ c̣n trở nên rơ ràng hơn. Đồng thời, phương pháp điều trị ghép tế bào và dùng thuốc sẽ mang lại vị thế cho vai tṛ của tế bào thần kinh đệm trong điều trị.