
CÁC
DẠNG CHẨN ĐOÁN ĐIỆN TRONG BỆNH LƯ DÂY
THẦN KINH DO BỆNH LƯ GAMMA ĐƠN D̉NG MỨC Ư NGHĨA
KHÔNG XÁC ĐỊNH
J.R.Wilson,
J.D. Stittsworth, Jr. & M.A. Fisher.: Electrodiagnostic patterns in MGUS
Neuropathy.Electromyogr. Clin. Neurophysiol. 2001. 41. 409-418.
Người
dịch: BS Hứa Thị Tú Sơn Khoa NTK BV 115.
Tóm
tắt:
Bệnh
gamma đơn ḍng(Monoclonal gammopathy of undertermined
significance-MGUS) mức ư nghĩa không xác định thường
kết hợp bệnh lư thần kinh đặc biệt
ở người lớn tuổi.Để phân loại
tốt hơn các dạng chẩn đoán điện ở
bn MGUS có kết hợp bệnh lư thần kinh, chúng tôi phân
tích các dữ liệu chẩn đoán điện từ 35
bn MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh mà bệnh lư
thần kinh không do nguyên nhân nào khác (tuổi TB 70,6: 12 IgM,
19 IgG, 4 IgA). Các dữ liệu cũng được phân tích
từ 29 bn có tuổi tương đương (tuổi
TB 69,8) có bệnh lư TK tiểu đường. Dựa trên
những tiêu chuẩn chẩn đoán điện các nghiên
cứu được phân loại theo tổn thương
hủy myelin; 9 bn có tổn thương sợi trục và 3
bn có tổn thương hủy myelin và sợi trục.Tuy
nhiên 24/35 bn MGUS đó có biểu hiện bất đối
xứng.Ngược lại chỉ 4/29 bn tiểu đường
có biểu hiện bất đối xứng (p<0,0001).
Ở bn MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh, tính
bất đối xứng là dạng chẩn đoán điện
bất thường có thể xác định hay gặp
nhất.
GIỚI THIỆU:
Bệnh
gammo đơn ḍng mức ư nghĩa không xác định
(MGUS) được định nghĩa là sự xuất
hiện protein đơn ḍng nhưng không có biểu
hiện bệnh lư liên quan đến các protein này.Mặc
dù bệnh MGUS thường chỉ gặp tỉ lệ
nhỏ ở các bn trẻ, bệnh chiếm tỉ lệ 3%
ở lứa tuổi trên 65, và 19% ở lứa tuổi trên
95.Ở nhóm bn này, 29 (71 % được báo cáo có biểu
hiện bệnh lư TK, chiếm tỉ lệ cao đáng
kể hơn tỉ lệ thường gặp là 6% ở
nhóm bệnh kiểm chứng ở lứa tuổi trung b́nh
68.V́ lư do này, các paraprotein được xem là nguyên nhân
của bệnh lư TK ngoại biên. Bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư thần kinh TK thường gặp ở
bn lớn tuổi và là nguyên nhân hay gặp của bệnh
lư TK vô căn ở nhóm tuổi này.Hơn nữa v́
bệnh MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh TK diễn
tiến nhanh và có thể được điều
trị với thay huyết tương và ức chế
miễn dịch, nên những hiểu biết về cơ
chế sinh lư bệnh sẽ quan trọng trong phân loại
bệnh cũng như trong điều trị.
Mặc
dù những bệnh lư TK được xác định tương
đối rơ ràng như là bệnh kháng thể với
anti-MAG/SGPG
(myelin-associated-glycoprotein/sulfate-3-glucuyronyl-paragloboside), đă
được mô tả ở bn với bệnh MGUS, các
dạng chẩn đoán điện cũng đựơc
ghi nhận ở nhóm bệnh TK và nhóm bệnh kết
hợp này. Những tài liệu gần đây báo cáo
bệnh MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh có cả
tổn thương hủy myelin và sợi trục, với
dạng hủy myelin chiếm ưu thế ở nhóm
bệnh gammo IgM. Trên LS bệnh gammo IgM thường
liên quan đến tổn thương sợi cảm
giác lớn hơn dạng IgG . Theo dữ liệu của chúng
tôi dựa trên tiêu chuẩn tổn thương hủy
myelin và sợi trục th́ tổn thương TK trong MGUS không
thỏa đủ tiêu chuẩn này hoặc kia. Bằng
những quan sát kinh nghiệm về thay đổi gia tăng
gia tăng dẫn truyền TK ở bn MGUS kết hợp
bệnh lư thần kinh,chúng tôi đưa thêm tiêu chuẩn
tính bất đối xứng vào dạng chẩn đoán
điện ở bệnh MGUS kết hợp bệnh lư
thần kinh.
DỮ LIỆU và PHƯƠNG PHÁP :
Dữ
liệu về chẩn đoán điện được
phân tích từ 35 bn liên tiếp có bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư thần kinh( tuổi TB 70,6 giới
hạn 53( 83 ; 12 IgM ,19 IgG , 4 IgA) được nghiên
cứu từ 1995( 1999.Biểu hiện LS của bệnh lư
TK ở nhóm bệnh này là cảm giác chiếm ưu
thế đối xứng ngọn chi.Dữ liệu về
chẩn đoán điện cũng được phân tích
từ 29 bn có tuổi tương với bệnh lư
thần kinh tiểu đừơng giác đối xứng
ngọn chi ( tuổi TB 69,8 giới hạn 52-85).Những bn có
bệnh lư TK tiểu đường cục bộ cũng
như bn tăng urê máu, amyloidosis, tăng sinh lympho bào, đa
u tủy, tiền căn chấn thương ,chèn ép,
bệnh lư rễ cũng bị loại trừ .Điện
di protein và cố định miễn dịch chứng minh
sự hiện diện protein đơn ḍng cũng như các
type đặc biệt bao gồm chuỗi kappa và
lambda.Ở dạng IgG MGUS nồng độ protein đơn
ḍng < 3g/dl ; IgA hoặc IgM < 2,5g/dl . 5/12 bn IgM MGUS
đươc kiểm tra có hiện diện kháng thể kháng
MAG/ SGPG.Tất cả bn MGUS đều có thăm ḍ hệ xương
như là sinh thiết tủy.Thâm nhiễm tế bào lympho và
tế bào huyết tương vào tủy # 5% và không có
bằng chứng nhiễm amylois.
ĐÁNH GÍA VỀ CHẨN ĐOÁN
ĐIỆN
Những
đánh giá chẩn đoán điện dựa vào kỹ
thuật chuẩn những gía trị bt trên CLS và máy Nicolet
Viking IV EMG.Nghiên cứu về dẫn truyền vận động
được thực hiện ở ít nhất 3/4 dây TK
ngọn chi ở chân cũng như ít nhất 1 dây TK
giữa và trụ.Nghiên cứu dẫn truyền cảm giác
bao gồm ít nhất 1 dây TK hiển cũng như 1 dây TK
giữa và trụ.Nghiên cứu dẫn truyền cảm giác
TK giữa và trụ được thực hiện
thuận chiều lần lượt từ ngón 2(5,sóng F
được ghi từ ít nhất 1 dây TK ở chân. Thăm
ḍ điện cơ kim đồng tâm cũng được
thực hiện và đánh giá nhóm cơ ngọn chi ở 2
chân cũng như nhóm cơ ở tay.Nhiệt độ chi
được đo và vào #33(C ở chân và 34(C ở
tay.Tốc độ dẫn truyền, thời gian tiềm
vận động ngoại vi, dạng biên độ sóng(
đo từ đường chuẩn( đỉnh đối
với CMAPvà đỉnh dương( âm đối với
SNAP), và thời khoảng đáp ứng toàn bộ hoặc
âm đều được ghi nhận. Sóng F được
phân tích sau một loạt 20 kích thích trên tối đa và
cả tối thiểu và thời gian tiềm trung b́nh sóng
F cũng được ghi lại.Điện cơ kim ghi
nhận hoạt động điện thế tự phát,
h́nh dạng, biên độ, kết tập của
đơn vị vận động.
PHÂN LOẠI:
*
Hủy myelin được xác định khi có biểu
hiện một trong những tiêu chuẩn sau ở ít
nhất 2 dây TK:
_
Tốc độ dẫn truyền vận động
chậm hơn 70% so với giới hạn b́nh thường
thấp
_
Thời gian tiềm sóng F kéo dài > 130% giới
hạn b́nh thường cao
_
Thời gian tiềm vận động kéo dài >150%
giới hạn b́nh thường cao
_
Block dẫn truyền khi biên độ đáp ứng
( đo từ đường chuẩn ( đỉnh âm )
đoạn gốc chi <70% ngọn chiù.
_
Phát tán nếu thời gian tiềm ngọn chi < 70%
gốc chi.
*
Tổn thương sợi trục được xác định
khi có biểu hiện một trong những tiêu chuẩn sau
ở ít nhất 2 dây TK:
_
Biên độ vận động ngọn chi < 80%
giới hạn b́nh thường thấp và tốc độ
dẫn truyền vận động > 70% giới hạn b́nh
thường thấp .
_
Hoạt động điện thế tự phát và
biên độ cao của đơn vị vận dộng
ở cơ được chi phối bởi dây TK.
*
Tính bất đối xứng được xác định
khi có một trong những tiêu chuẩn sau ở nhất 2 dây
TK và ít nhất ở 2 vị trí trên 1 dây TK.
_
Tốc độ dẫn truyền vận động
khác biệt >20% so sánh với cùng dây TK chi phối ở
chi đối bên ((fast CV- slower CV)/ faster CV(( 0,2.
_
Biên độ CMAP ngọn chi khác biệt ( 50% so
với cùng dây TK ở chi đối bên í(large CMAP- smaller CMAP )/ larger CAMPư³
0,5.
_
Tốc độ dẫn truyền vận động
khác biệt so với dây TK cùng 1 chi ( 5m/s giũa TK trụ
và giữa hoặc ( 7m/s giữa TK chày và mác.
_
Đáp ứng cảm giác bất thường TK
giữa và hoặc TK trụ với đáp ứng cảm
giác TK hiển b́nh thường( CV TK hiển ( 39m/s và biên
độ ( 6 (V)
Việc
xác định tổn thương sợi trục và
hủy myelin và tính bất đối xứng không loại
trừ lẫn nhau.1 bn có thể biểu hiện tất
cả , một vài hoặc không tiêu chuẩn nào.Test Fisher và
test-t kiểm định không theo cặp được dùng
phân tích thống kê với ư nghĩa thống kê xác định
là p < 0,05.
KẾT LUẬN:
So sánh dữ liệu chẩn đoán
điện giữa MGUS kết hợp bệnh lư TK và
bệnh TK tiểu đường.Biên độ điện
thế hoạt động phức hợp vận động
trung b́nh(CMAP) th́ cao hơn ở nhóm bệnh gammo đơn
ḍng hơn bn tiểu đường.Sự khác biệt có
ư nghĩa ở dây TK trụ và chầy (lần lượt
p= 0,002và p= 0,005) nhưng không rơ ràng ở dây TK giữa và
mác.Tốc độ dẫn truyền vận động có
ư nghĩa lớn ở bn MGUS hơn bn tiểu đường
( p= 0,04(p= 0,004).Không có sự khác biệt có ư nghĩa
giữa thời gian tiềm vận động ngoại vi,
biên độ cảm giác trung b́nh hoặc tốc độ
dẫn truyền cảm giác.
V́
bệnh TK liên quan bệnh gammo đơn ḍng th́ đa
dạng nên chẩn đoán điện ở bn MGUS kết
hợp bệnh lư thần kinh được chia làm 2 nhóm
dựa trên đồng dạng type miễn dịch.Bn
với bệnh gammo IgM được
phân ra nhóm có KT anti-MAG và nhóm không có KT.Bn có KT anti-MAG có
thời gian tiềm vận động ngọai vi kéo dài
một cách đáng kể (p=0,02(p=0,006) và biên độ
SNAP thấp ở TK giữa và hiển (p<0,001).Tốc
độ dẫn truyền vận động và biên độ
CMAP có khuynh hứơng chậm hơn ở nhóm bệnh
thần kinh anti-MAG nhưng không đáng kể( p=0,3 ).Chú ư
bệnh TK kết hợp bệnh gammo IgM không có MAG th́ không
khác biệt rơ so với bất kỳ phân loại bệnh
MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh nói chung( p=0,3(
p=0,9).
Đặc
điểm hằng định nhất của MGUS kết
hợp bệnh lư thần kinh là sự thay đổi gia tăng
tốc độ dẫn truyền TK.Phân tích đối
xứng cho thấy bn MGUS kết hợp bệnh lư thần
kinh th́ có sự thay đổi biên độ vận động
và tốc độ dẫn truyền giữa 2 bên so
với bn bệnh lư thần kinh tiểu đường.Hơn
nữa,để tăng sự thay đổi qua đường
giữa, bn MGUS có biểu hiện chiếm ưu thế
sự thay đổi gia tăng tốc độ dẫn
truyền vận động trong cùng1 chi.Điều này rơ
nhất khi so sánh dây TK giữa và trụ (p= 0,004).Sự khác
nhau giữa dây chầy và mác không khác biệt có ư nghĩa
giữa bn tiểu đường và bn MGUS( p=0,1).
Trong
35 bn MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh,chẩn đoán
điện ở 24 bn đạt tiêu chuẩn bất đối
xứng trong khi chỉ có 4/29 bn tiểu đường
đạt tiêu chuẩn này(bảng 1). Hơn nữa, khi phân
tích 4 tiêu chuẩn riêng biệt về tính bất đối
xứng thấy rằng sự khác biệt tốc độ
dẫn truyền trong cùng 1 chi là bất thường hay
gặp ở bn MGUS. Trong khi 3 tiêu chuẩn c̣n lại không
đưa ra sự khác biệt rơ giữa bệnh tiểu
đường và MGUS về sự khác biệt tốc
độ dẫn truyền trong cùng 1 chi, sự kết
hợp 4 tiêu chuẩn là sự phân biệt rất toàn
diện giữa bn MGUS và bn tiểu đường.Ngược
lại, không có sự khác biệt có ư nghĩa về
tần xuất dạng hủy myelin giữa bn tiểu
đường và bn MGUS( p=0,1).
Phần
lớn bn có biểu hiện hủy myelin sẽ đạt
tiêu chẩn bất đối xứng nhưng bn có bất
đối xứng th́ thường không đạt tiêu
chuẩn hủy myelin.Bất đối xứng là đặc
điểm đặc trưng
ở tất cả type bệnh gammo đơn ḍng, bao
gồm bệnh thần kinh anti-MAG,mặc dù bệnh gammo IgM
có xu hứơng có dạng đối xứng hơn
những dạng đồng miễn dịch khác.
BÀN LUẬN:
Trên
LS bệnh MGUS kết hợp bệnh lư thần kinh có
triệu chứng cảm giác đối xứng ở
ngọn chi như đau,dị cảm và thất điều
cảm giác mà có thể là bất lực. Cả sợi
cảm giác lớn và nhỏ đều có thể bị
tổn thương vàloại sợi cảm giác nào
chiếm ưu thế là tùy vào type gammo bệnh. Type gammoIgM
th́ dường như có triệu chứng của sợi
cảm giác lớn trong khi type gammoIgG th́ dường như
có biểu hiện sợi cảm giác nhỏ. Hơn
nữa những bn có IgM anti-MAG/SGPG kết hợp bệnh lư
TK có đặc điểm chẩn đoán điện riêng
biệt. Chúng tôi chọn nhóm bn tiểu đường
với bệnh lư TK cảm giác ngọn chi chiếm ưu
thế để kiểm chứng bởi v́ đặc
điểm LS tương tự nhóm MGUS kết hợp
bệnh lư TK. Hơn nữa, nhóm bệnh này cũng có
biểu hiện tương tự bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư TK, là tổn thương cả sợi
cảm giác lớn và nhỏ, chẩn đoán điện
bất thường ở bn tiểu đường có
cả đặc điểm tổn thương sợi
trục và hủy myelin. Ngược lại với bệnh
cảnh LS tương đối giống nhau,các cố
gắng đo dẫn truyền TK ở bn MGUS ít khả quan
hơn. Một phần vấn đề là sự công
nhận tổn thương sợi trục và hủy myelin
có thể hoàn toàn mô tả ở dạng rối loạn
chức năng TK vàcác tổn thương này riêng lẽ
nhau. Tương tự như các báo cáo khác, dữ
liệu của chúng tôi cho thấy rằng bệnh MGUS
kết hợp bệnh lư TK có đặc điểm
của cả tổn thương sợi trục và hủy
myelin, sự phân loại dựa trên dạng tổn thương
sợi trục và hủy myelin rất khó. Hơn nữa
bệnh TK tiểu đường và CIDP cũng thường
có những đặc điểm của cả hủy
myelin và mất sợi trục. Chính v́ điều này, chúng
tôi xác định tổn thương sợi trục
bằng tiêu chuẩn đặc biệt, một cách rơ hơn
là giảm biên độ điện thế với tốc
độ dẫn truyền tương đối bảo
tồn và có bằng chứng của mất phân bố TK
trên EMG. Điều này cho phép chúng tôi dễ dàng phân
loại các tổn thương TK như hủy myelin,
sợi trục, cả hai hoặc một trong hai. Cũng có
thể dùng tiêu chuẩn khác, như là tính bất đối
xứng để phân loại bệnh lư TK tốt hơn.
Chúng
tôi đưa ra thuật ngữ tính bất đối
xứng để mô tả sự thay đổi gia tăng
các gía trị dẫn truyền TK trong bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư TK. Mặc dù sự mất đối
xứng giữa 2 bên có vai tṛ chính trong sự thay đổi
này, nhưng đặc điểm quan trọng nhất là
sự thay đổi được ghi nhận giữa các
dây TK của mỗi chi th́ không được mô tả chính
xác bằng thuật ngữ mất đối xứng.
Mặc dù tính bất đối xứng có đặc
điểm tương tự tính đa ổ, thuật
ngữ “đa ổ”(multifocality) dùng để chỉ
sự hủy myelin tại chỗ hoặc viêm mạch máu.
Bởi v́ không có những đặc điểm điển
h́nh của bệnh MGUS kết hợp bệnh lư TK nên dùng
thuật ngữ “multifocality” không được đề
cập đến trong bài. Bất đối xứng bao hàm
ư nghĩa đối xứng bất thường nhưng
đôi khi khác với mất đối xứng. Các
kết qủa của chúng tôi gợi ư rằng mất
sợi trục không đồng đều ở các dây TK
ngoại biên th́ không là nền tảng duy nhất cho tính
bất đối xứng. V́ mất sợi trục có
thể ảnh hưởng tốc độ dẫn
truyền , thương tổn một vài dây TK có thể
thỏa tiêu chuẩn bất đối xứng trong
những ca rất đặc biệt. Ví dụ tổn thương
không đồng đều các dây TK ngoại biên
có thể tạo nên sự khác biệt >50% giữa
2 bên ở dây TK mác và chày cùng một chi. Để là
yếu tố quyết định quan trọng của tính
bất đối xứng, 2 điều kiện phải
tồn tại. Đầu tiên, bn với bất đối
xứng phải cần có mất sợi trục hơn bn
với đối xứng. Hai la,ømất sợi trục
ở dây TK bị ảnh hưởng sẽ làm chậm
tốc độ dẫn truyền đáp ứng thích
hợp với tiêu chuẩn bất đối xứng. Khi
so sánh giữa bn tiểu đường có bất đối
xứng và đối xứng, sự khác biệt rơ về
biên độ điện thế trung b́nh CMAP dây mác. Tuy
nhiên cũng không có khác biệt rơ giữa biên độ
CMAP hoặc SNAP ở nhóm MGUS có bất đối xứng
và đối xứng. Không giống bệnh TK tiểu
đường, sự mất sợi trục có ư nghĩa
không là yếu tố quyết định tính bất đối
xứng ở bn MGUS kết hợp bệnh lư TK. Hơn
nữa, khi mất sợi trục có thể dẫn đến
chậm dẫn truyền TK, hệ qủa này chiếm ưu
thế nhất ở bệnh TK tiểu đường và
tương đối ít hơn ở bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư TK. Nếu tốc độ dẫn
truyền được vẽ tương phản với
biên độ ở 1 dây TK nào đó, độ dốc
đi xuống của đường kẻ (“best fit”)
biểu hiện hệ qủa rằng tổn thương
sợi trục có ảnh hưởng đến tốc
độ dẫn truyền. Hệ qủa này gặp ở
bệnh tiểu đường hơn bệnh MGUS kết
hợp bệnh lư TK. Nếu tính bất đối xứng
này chỉ là kết qủa của sự mất sợi
trục đa ổ th́ tổn thương này chiếm
ưu thể ở bn tiểu đường hơn
bệnh MGUS kết hợp bệnh lư TK và tổn thương
này không thực tế.
Tính
bất đối xứng gợi ư rằng có chẩn
đoán điện mất đối xứng có ư nghĩa
ở bệnh lư TK cũng như sự biểu hiện
của tính bất thường không phụ thuộc độ
dài. Điểm cơ bản của tính bất đối
xứng ở bn MGUS kết hợp bệnh lư TK có thể
phản ánh rối loạn chức năng vùng của
sự kéo dài điện thế hoạt động. Điều
này có thể do sự khác biệt vùng ở sự tạo
thành KN, kênh sinh lư, sự cung cấp máu hoặc sự di
chuyển sợi trục dọc theo chiều dài dây TK.
Mặc dù phải chú ư rằng khi xem diễn tiến sinh lư
bệnh trên là sự bất thường chẩn đoán
điện đặc biệt th́ biểu hiện mà
bệnh MGUS kết hợp bệnh lư TK có bất đối
xứng chiếm ưu thế th́ quan trọng cả ở
mức độ LS và lư thuyết. Dạng chẩn đoán
điện bất đối xứng giúp phân loại
bệnh MGUS kết hợp bệnh lư TK và cho phép thấu
hiểu cơ chế sinh lư bệnh. Mặc dù có dạng
chẩn đoán điện bất đối xứng nhưng
biểu hiện LS của bệnh MGUS kết hợp
bệnh lư TK th́ không giống viêm đơn dây TK đa
ổ (mononeuritis multiplex) nhưng hơi giống bệnh dây
TK cảm giác đối
xứng ngọn chi. Sự trái ngược rơ ràng giữa
biểu hiện LS và chẩn đoán điện th́ có
thể dự đoán được. Yếu và mất
cảm giác là kết qủa hoặc do block dẫn
truyền hoặc mất sợi trục. Mặc dù bệnh
MGUS kết hợp bệnh lư TK có ảnh hưởng đến
các dây TK không đồng bộ nhưng một cách điển
h́nh th́ không gây nên block
dẫn truyền. V́ vậy sự tổn thương không
đồng bộ tốc độ dẫn truyền dù
chẩn đoán điện có thể nhận biết
được cũng không tạo nên triệu chứng
tại chỗ cần thiết. Ví dụ không có block
dẫn truyền giải thích sự mất tính yếu tương
đối trong bệnh TK anti MAG mặc dù tốc độ
dẫn truyền vận động chậm đáng kể.
Việc mọc chồi bên của các tận cùng TK sẽ
làm giảm đi hậu qủa của sự mất
sợi trục trên chiều dài của sợi cơ. Điều
này không đúng với hệ cảm giác. Dạng đối
xứng một cách tương đối của sự
mất cảm giác có thể dẫn đến sự
tập trung lan rộng tổn thương không đồng
bộ đến nhiều sợi TK. Tính bất đối
xứng là sự bất thường về chẩn đoán
điện có ư nghĩa hay gặp nhất ở bn MGUS.
Bất đối xứng là dạng hay gặp ở bn có
anti-MAG dù nhóm bn này
rất khác nhau về nhiều mặt so với bn MGUS
kết hợp bệnh lư TK. Trong 4/6 bn có cả bệnh
tiểu đường và bệnh MGUS kết hợp
bệnh lư TK, tính bất đối xứng được
ghi nhận (những bn này không được tính trong
bảng phân tích trong bài này). Điều này đúng
bởi v́ đặc điểm bất đối xứng
của bệnh MGUS kết hợp bệnh lư TK
khi bị che lấp bởi bệnh lư TK đối
xứng quan trọng vẫn duy tŕ tính bất đối
xứng. Ở những bn lớn tuổi, biểu hiện
không đối xứng sẽ làm gia tăng tính
nghi ngờ bệnh gammo đơn ḍng. Biểu
hiện của tính thay đổikhông thường xuyên
tốc độ dẫn truyền sẽ gợi ư chẩn
đoán điện thăm do để xác định tính
bất đối xứng. Sự đánh gía tính bất
đối xứng cũng xem là một phần trong bất
kỳ thăm ḍ chẩn đoán nào trong bệnh lư TK
ngoại biên.
Bảng
1:Các tiêu chuẩn riêng về tính bất đối
xứng ở bn tiểu đường và bn MGUS